Saturday, October 22, 2016

CHUYỆN TÙ & VƯỢT BIÊN - CỘNG SẢN & NGÔ ĐÌNH DIỆM

WILLIAM S. REEDER * CHUYỆN TÙ CỦA MỘT PHI CÔNG

Câu Chuyện Cảm Động Của Một Đại Tá Phi Công Hoa Kỳ Từng Bị Tù Cộng Sản



Lời nói đầu: Sau cuộc chiến Việt Nam, đã có nhiều huyền thoại đầy anh hùng tính viết về các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và trong rất nhiều trường hợp, chỉ tới khi ấy, chúng ta mới giật mình nhận ra những người “anh hùng” được nhắc tới lại chính là những cấp chỉ huy, những đồng đội, những thuộc cấp rất bình thường của mình.

Một trong những con người rất bình thường ấy vừa được vinh danh là cựu Trung-úy hoa tiêu khu trục Nguyễn Văn Xanh, Phi Đoàn 530 Thái Dương, Không Đoàn 72 Chiến Thuật (Pleiku). Thời gian ấy – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, với tư cách Sĩ quan Thông Tin Báo Chí đơn vị, có nhiệm vụ báo cáo hàng tuần về tổng số phi vụ và kết quả hoạt động của đơn vị cho Phòng Thông Tin Báo Chí – BTL/KQ , có lẽ chúng tôi đã chỉ ghi ngắn gon trong phần tổn thất của quân bạn: “Phi Đoàn 530: một A-1 Skyraider bị phòng không địch bắn hạ ngày 9/5/1972 tại Kontum; phi công nhảy dù và được ghi nhận mất tích”. Chấm hết!


Nhưng với một phi công Đồng Minh xa lạ, tới đây câu chuyện của ông mới bắt đầu. Xin mời độc giả theo dõi câu chuyện cảm động ấy qua hồi ký của Đại-tá Lục Quân (hồi hưu) William S. Reeder, nguyên phi công trực thăng tấn công AH-1G Cobra, phục vụ tại Căn cứ Halloway, gần phi trường Cù Hanh, Pleiku, mới được phổ biến trên Internet. Cũng cần viết thêm, sau khi giải ngũ, ông Reeder đã trở lại trường đại học, và đạt tới học vị Tiến sĩ.
NHT

* * *
Tôi còn nhớ đợt phục vụ luân phiên (tour of duty) thứ nhì của tôi khởi đầu vào ngày 7 tháng 12 năm 1971. Lúc ấy, chương trình rút quân Mỹ theo kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của Tổng thống Nixon đang được tiến hành một cách suông sẻ. Gánh nặng trong cuộc chiến đã được chuyển giao gần hết cho Quân Lực VNCH, và quân Mỹ đã được đưa về nước với một nhịp độ chóng mặt. Giờ này nhìn lại, phải công nhận chương trình Việt Nam hóa ngày ấy đã đạt kết quả tốt đẹp. Hoạt động của địch quân ở miền Nam đã giảm hẳn, và hình thức chiến tranh du kích của quân phiến cộng đã không còn hiện hữu. Thế nhưng, sự yên tĩnh ấy đã không kéo dài..

Mùa xuân 1972, quân Cộng Sản Bắc Việt bất thần mở những cuộc tấn công vũ bão chưa từng thấy trong cuộc chiến – đợt tấn công mà người Mỹ quen gọi là “Cuộc tổng công kích mùa Phục Sinh 1972″ (1972 Easter Offensive). Đây không phải là một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng trong Nam như hồi Tết Mậu Thân 1968, mà là một chiến dịch quy mô với hàng loạt cuộc tấn công quy mô của quân CSBV băng qua vùng phi quân sự, và từ những căn cứ đóng quân trên lãnh thổ Lào và Căm-bốt, với mưu đồ cắt đôi lãnh thổ VNCH tại vùng Cao Nguyên, và tiến đánh Sài Gòn, thủ đô miền Nam. Kết quả, quân CSBV đã thất bại trước sức chiến đấu mãnh liệt của lục quân và không quân miền Nam, với sự trợ lực tận tình của những đơn vị Hoa Kỳ còn đồn trú tại đây.
[1972 Easter Offensive được phía Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972; và từ đoạn này, người dịch sẽ sử dụng "Mùa Hè Đỏ Lửa" thay cho "Easter Offensive"]

Cuộc tổng tấn công bắt đầu vào tháng Tư năm 1972 với các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt từ Căm-bốt tiến về hướng Sài gòn, và băng ngang vùng phi quân sự tiến chiếm cố đô Huế. Sau cùng là mặt trận mang tính cách quyết định của chiến dịch: quân CSBV từ miền Bắc Căm-bốt và Nam Lào vượt biên giới tiến đánh vùng Tây Nguyên, với mục đích giành quyền kiểm soát dải đất Trung phần, và tiêu diệt lực lượng VNCH tại đây – giống như Việt Minh đã thực hiện, và đã thành công trong chiến tranh với Pháp vào năm 1954. Lần này, quân cộng sản đã thành công trong bước đầu, tuy nhiên sau đó họ đã không chiếm được một mục tiêu quan trọng nào. Ở phía bắc, họ chỉ tiến chiếm tới Quảng Trị, và sau đó đã bị lực lượng Nhảy Dù của VNCH đánh bại. Tại Tây Nguyên, họ chỉ chiếm được một số tiền đồn chung quanh Kontum, nhưng sau đó cũng bị đẩy lui.

Câu chuyện tôi kể lại sau đây chính là bối cảnh của một bi kịch đời người diễn ra vào lúc ấy, với vai chính là tôi, và một phi công VNCH tên là Xanh Văn Nguyễn – hay gọi theo cách gọi của người Việt, họ luôn đứng trước tên gọi, thì là Nguyễn Văn Xanh. Vào thời gian Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi sự, tôi đang bay trực thăng tấn công AH-1G Cobra tại Căn cứ Halloway của Lục Quân Hoa Kỳ, ở gần tỉnh lỵ Pleiku. Trung-úy Nguyễn Văn Xanh thì bay khu trục cơ A-1 Skyraider ở Căn cứ Không Quân Pleiku. Chúng tôi không hề quen biết nhau, cũng chưa từng gặp gỡ bao giờ.

Hôm đó là ngày thứ hai 09 tháng 5, 1972, vào lúc hừng đông, tôi chỉ huy một phi vụ gồm 2 chiếc trực thăng Cobra yểm trợ một căn cứ bộ binh đang bị địch công hãm ở Polei Klang, ở cực tây tỉnh Kontum, gần biên giới Căm-bốt. Một lực lượng quân CSBV với sự yểm trợ của chiến xa đang tấn công căn cứ và tình hình thật bi đát. Sau nhiều vòng tấn công và sử dụng toàn bộ rocket, đạn M-79 và đạn đại liên, chúng tôi bay về phi trường Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Nhân viên phi hành bay chung với tôi, tức phi công phụ kiêm xạ thủ ngồi ghế trước của chiếc Cobra, là Thiếu-úy Tim Conry, quê ở Phoenix, tiểu bang Arizona. Tim là sĩ quan trẻ xuất sắc nhất mà tôi được biết, vì thế ngay sau khi anh tới đơn vị, tôi đã chọn anh vào phi đội do tôi chỉ huy, và luôn luôn để anh bay chung v ới tôi. Anh không chỉ là một nhân viên phi hành xuất chúng mà còn là một con người toàn hảo. Nhưng vào chiều ngày hôm ấy, anh đã trở thành người hùng thiên cổ!

Trở lại với phi vụ của chúng tôi, trên đường quay trở lại Polei Klang, chúng tôi được lệnh thay đổi mục tiêu tấn công: đó là tới yểm trợ cho một tiền đồn ở vùng Tam Biên – tức giao điểm của ba biên giới Việt Nam, Căm-bốt và Lào. Địa danh này có tên là Ben Het. Lực lượng trấn giữ là một tiểu đoàn Biệt Động Quân, với quân số khoảng 300 người, và hai cố vấn Mỹ. Lực lượng bé nhỏ ấy đang phải chống trả sức tấn công của hàng ngàn bộ đội thuộc hai sư đoàn CSBV có chiến xa tăng cường. Khi chúng tôi tới nơi, các chiến xa đã vượt qua hàng rào phong thủ, và bộ đội Bắc Việt đã chiếm gần hết căn cứ.

Trước đó, trên đường tới Ben Het, khi bay ngang qua Polei Klang, tôi nhìn xuống quan sát. Chiến sự đang sôi động, và tôi có thể thấy những chiếc khu trục A-1 Skyraider đang nhào xuống thả bom. Bỗng một chiếc A-1 bị trúng đạn phòng không, bốc cháy, đâm xuống đất nổ tung. Nhưng viên phi công đã kịp thời phóng ghế thoát hiểm vì tôi thấy cái dù của anh đang lơ lửng. Tôi liền gọi máy về xin được ở lại Polei Klang để yểm trợ cho cuộc cấp cứu. Lời thỉnh cầu của tôi bị từ chối. Tôi xin thêm một lần nữa, cũng bị từ chối. Và tới lần thứ ba thì bị từ chối một cách dứt khoát, cộc lốc. Lúc đó, chưa được biết tình hình ở Ben Het nguy kịch tới mức nào, cho nên tôi đã vô cùng phẫn nộ vì đã không được phép cứu giúp một phi công lâm nạn đang cần tới sự yểm trợ của mình.

Tôi bay vào Ben Het mà tưởng như đang bay vào một tổ ong bị động. Lúc đó, 5 chiến xa địch đã vượt qua hàng rào kẽm gai, và bộ đội Bắc Việt thì tràn ngập khắp nơi. Các quân nhân đồn trú còn sống sót đã rút vào hầm chỉ huy ở trung tâm để cố thủ. Chúng tôi tác xạ một hồi rồi yểm trợ cho một chiếc trực thăng đặc biệt được trang bị một loại hỏa tiễn chống chiến xa mới nhất. Sau khi sử dụng hết đạn dược, chúng tôi lại bay về Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Rồi quay trở lại Ben Het để thi hành phi vụ chiến đấu thứ ba trong ngày.

Sau khi cất cánh khỏi phi trường Kontum, chúng tôi được lệnh hộ tống một trực thăng có nhiệm vụ tiếp tế đạn dược cho Ben Het. Lúc đó, đạn của lực lượng cố thủ đã gần cạn, riêng hỏa tiễn chống chiến xa thì đã hết sạch.

Sau khi gặp nhau, chúng tôi hộ tống chiếc Huey (tức trực thăng UH-1) tới Ben Het, tất cả đều bay sát ngọn cây. Vừa bay tới Ben Het thì súng nổ như pháo Tết, súng của ta lẫn súng của định. Ở ghế trước trên chiếc Cobra của tôi, Thiếu-úy Tim Conry rải từng tràng mini-gun và những trái M-79 xuống thật chính xác. Tôi thì bắn từng cặp rocket. Chúng tôi càng tiến sâu thì hỏa lực phòng không của địch càng dày đặc. Nhưng rồi chiếc Huey cũng vào được tới nơi và hoàn tất nhiệm vụ cực kỳ khó khăn ấy, phần lớn là nhờ hỏa lực yểm trợ thật chính xác của Tim: sau khi lơ lửng tại chỗ ở cao độ gần sát mặt đất, và đạp các thùng đạn xuống, chiếc Huey bay ra dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi. Cùng lúc, chiếc Cobra của tôi bị trúng vô số đạn đủ loại của địch, bốc cháy và đâm xuống theo đường xoáy trôn ốc.. Chỉ trong giây lát, chiếc trực thăng chạm đất, và phát nổ ngay sau khi tôi và Tim – dù bị thương nặng – tìm cách thoát ra khỏi phi cơ.

Tim chết vào chiều tối hôm đó. Riêng tôi thì bị gẫy xương lưng, phỏng ở mặt và phía sau cần cổ, một miểng đạn nằm sâu ở mắt cá, và vô số vết thương nhỏ ở mặt và đầu. Nhưng mặc dù phi cơ rớt ngay trong khu vực có hàng trăm địch quân đang tấn công căn cứ, tôi cũng lẩn tránh được ba ngày trước khi bị bắt.

* * *
Tôi bị tra khảo trong mấy ngày liền; và bị đối xử khá tàn bạo. Khi ấy tôi ở trong một tình trạng cực kỳ thê thảm về thể xác. Lưng tôi bị gẫy. Máu từ vết thương ở mắt cá chảy ra đầy chiếc giày bốt, giờ này đã khô lại thành một khối cứng ngắt. Đã ba ngày tôi không cạo râu. Tôi không còn khả năng điều khiển ruột già và bàng quang, cho nên tôi đã đại tiện, tiểu tiện ra đầy quần.. Tôi bị vô số vắt bám vào người để hút máu, và chúng đã bị tôi bứt ra hết, trừ một con đang chui vào lỗ mũi phía bên trái mà tôi không hề hay biết. Khi bắt được tôi và thấy cảnh này, đám bộ đội đã được một trận cười khoái trá.

Tôi bị tra khảo, đánh đập, hăm dọa. Hai tay tôi bị trói ngược ra phía sau bằng dây nhợ, và càng ngày càng bị xiết chặt theo thời gian bị tra khảo, cho tới khi hai vai tôi bị trật khớp, và hai cùi chỏ bị trói cứng với nhau, cấn vào chỗ xương lưng bị gẫy khiến tôi đau đớn khôn tả. Cuối cùng thì cuộc tra khảo cũng chấm dứt, và tôi được lệnh đi bộ trong ba ngày liên tiếp, để tới một trại giam trong rừng già – mà theo sự ước đoán của tôi, nằm ở phía bắc lãnh thổ Căm-bốt, ngay bên kia biên giới. Tôi đã được bọn họ trả lại trả lại đôi giày bốt, nhưng đã lấy mất hai sợi dây giày và đôi vớ. Sau ba ngày đi bộ, khi lết một cách đau đớn tới cổng trại giam, đôi bàn chân của tôi đã trở nên bầy hầy, giống như hai cái hamburger còn sống.

Trại giam này là một điển hình của những trại mà nhiều người đã từng sống qua. Trại được dựng trên một khoảnh đất trong rừng sâu, tất cả đều làm bằng tre. Chung quanh là một bức tường bằng tre, khiến người ta liên tưởng tới những tiền đồn của kỵ binh Mỹ vào thời khai phá miền Viễn Tây. Bên ngoài bức tường này lại có một bức tường khác. Giữa hai bức tường là một cái hào, giống như hào thành thời trung cổ. Dưới hào có vô số chông – là những thân tre vót nhọn, sắc bén như dao, cắm sâu dưới một lớp phân người.. Nếu rớt xuống đó, không chết vì bị chông đâm vào những bộ phận trọng yếu thì bạn cũng sẽ chết vì bị mất máu, hoặc nếu không chết ngay vì những vết thương thì cũ ng chết từ từ vì bị nhiễm trùng. Một thân cây được bắc ngang cái hào, mà phải cố gắng giữ thăng bằng, người ta mới có thể đi trên cái “cầu” này để vào trại.

Bên trong những bức tường tre ấy là những cái cũi, cũng bằng tre, để nhốt tù binh. Nào là quân nhân VNCH, nào là những người Thượng đồng minh của Biệt kích Mỹ; và hai người Mỹ – gồm tôi và một phi công trực thăng bị bắt trước đó một tháng. Tổng cộng, ít nhất cũng có vài trăm tù binh. Tình trạng trong trại giam thật tồi tệ. Chúng tôi sống như thú vật. Phần lớn những cái cũi để nhốt chúng tôi không đủ cao để có thể đứng dậy. Tuy nhiên điều đó cũng không cần thiết bởi vì chân chúng tôi đã bị cùm vào những cái cùm gỗ. Vì xương lưng bị gẫy, tôi không thể nằm mà phải ngồi để ngủ. Đêm đêm, lũ chuột chạy tới chạy lui trong cũi và gặm nhấm vết thương ở mắt cá chân của tôi. Vì hai chân bị cùm, tôi không thể nhúc nhích nên không có cách nào để đuổi chúng đi. Cho tới ngày nay, tôi vẫn còn ghét chuột!

Mỗi ngày, chúng tôi được ra khỏi cũi một lần để làm công việc thải cặn bã trong cơ thể ở nhà vệ sinh dành cho tù binh. Giờ giấc mỗi ngày đều khác nhau, cho nên tù binh nào không có khả năng chờ đợi, kiềm chế, đã tự phóng uế ra quần khi đang còn bị cùm trong cũi (rất nhiều người trong số chúng tôi bị tiêu chảy). Sau khi ra khỏi cũi, chúng tôi phải đi một khoảng mới tới nhà vệ sinh ở một góc trại.

“Nhà vệ sinh” này thực ra chỉ là vài cái hố xí để bạn phóng uế xuống. “Vấn đề” là có nhiều người trong số tù nhân bị đau yếu đã không thể nín trên đường tới hố xí, nên đã đại tiện ngay tại chỗ, khiến cả khu vực đầy rẫy những đống phân người. Một số tù nhân đau nặng, gần chết, thì được đặt trên những cái võng gần các hố xí. Khi có “nhu cầu”, người nào còn đủ sức thì ráng xuống khỏi võng để tới hố, người nào kiệt sức thì đành nằm trên võng mà phóng uế ra quần. Hậu quả là cả khu vực chung quanh mấy cái hố được mệnh danh là “nhà vệ sinh” ấy đầy rẫy phân người, mà những tù nhân còn tương đối khỏe mạnh, trên đường đi tới hố xí phải cẩn thận lắm mới né tránh được. Trên đường trở về cũi, không có bất cứ phương tiện nào để chúng tôi lau chùi, rửa ráy.

Theo ký ức của tôi thì nước uống không có “vấn đề”. Nước phân phát cho tù nhân được đựng trong những ống tre. Họ nói rằng nước đã được đun sôi, nhưng tôi vẫn bị tiêu chảy một cách thậm tệ. Nhưng lương thực thì có “vấn đề”.. Hầu như chỉ có một món duy nhất là cơm. Vào lúc gần trưa, mỗi người được một nắm to bằng trái cam, tới xế chiều được một nắm nữa. Thỉnh thoảng, chúng tôi được “chiêu đãi” bằng những khúc rễ cây có bột, gọi là sắn dây, tương tự như rễ cây “yucca” ở châu Mỹ La-tinh.. Chỉ trong vài tuần lễ, tôi đã sút mất hơn 20 ký-lô. Tôi giống như bộ xương cách trí với bộ râu dài. Trong khoảng thời gian 5 tháng, tôi không hề được cạo râu.

Tôi không hề được chăm sóc về y tế hay được cấp phát bất cứ thứ thuốc men nào cả. Nhưng người nào cũng thế thôi. Người tù binh Việt Nam bị nhốt chung cũi, nằm cạnh tôi bị một vết thương rất nặng ở ngực, không hiểu đã được băng từ đời nào, nhưng trong suốt thời gian bị nhốt chung cũi, tôi không hề thấy anh được thay băng. Cái lỗ sâu hoắm trên ngực anh không bao giờ lành. Anh còn trẻ và tương đối khỏe, nhưng tôi biết chắc chắn anh sẽ không qua khỏi.

Chúng tôi sống như thú vật, trong điều kiện môi trường nhơ bẩn, đói khổ, không một chút thuốc men, cho nên hầu như ngày nào cũng có người chết. Xác họ được chôn trên sườn đồi phía bên ngoài trại.

* * *
Ngày 2 tháng 7 năm 1972, tôi được đưa ra khỏi cũi và sắp hàng cùng với một toán tù binh. Có khoảng 25 người Việt và một người Mỹ khác. Chỉ một lát sau, tôi được biết trong toán tù binh này có một phi công bị bắn hạ cùng ngày với tôi, khi anh bay chiếc khu trục A-1 Skyraider yểm trợ cho trại Polei Klang. Tên anh là Trung-úy Xanh. Tôi sẽ không bao giờ quên tên anh. Không bao giờ!

Viên chỉ huy trại tới nói chuyện với chúng tôi, theo đó, chúng tôi sẽ di chuyển tới một trại mới, khá hơn. Nơi đó, chúng tôi sẽ được ăn uống đầy đủ hơn, và được chăm sóc về y tế; chúng tôi sẽ được nhận thư từ và bưu phẩm của gia đình gửi. Ông ta cho biết cuộc hành trình có thể sẽ kéo dài tới 11 ngày, vì thế chúng tôi phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi. Sau khi nghe ông ta nói, tôi tưởng tượng ra một trại nào đó cũng ở trong rừng, nhưng vị trí thuận tiện, có nhiều nhân viên và được tiếp tế đầy đủ hơn, nằm ở đâu đó phía bắc Căm-bốt hoặc ngay bên kia bên giới Lào. Riêng về lời cảnh giác của viên trại trưởng nói rằng chúng tôi “phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi”, tôi đã chẳng mấy quan tâm. Cho tới mấy ngày sau đó.

Với đôi chân trần, tôi bắt đầu cuộc hành trình. Các tù binh đều bị trói, người này bị cột lại với người kia bằng một sợi dây. Sau vài ngày, chúng tôi không còn bị trói nữa, vì bước đi còn không đủ sức nói gì tới chạy trốn. Tôi rất đuối, vì thiếu dinh dưỡng, vì đủ thứ bệnh không tên, và vì những vết thương lâu ngày không được chăm sóc nay đã làm độc, và ngày càng trở nên tệ hại hơn cùng với cuộc hành trình. Nhưng phải nói chính những con vắt mới là mối nguy hàng đầu; chúng không chỉ hút máu mà còn gây viêm nhiễm do các độc tố chúng truyền sang.

Trung-úy Xanh cũng ở trong tình trạng bi đát như tôi, mỗi bước đi là một sự phấn đấu cả về thể xác lẫn nội tâm, để đối phó với sự kiệt quệ của cơ thể, sự xuống dốc của tinh thần. Bởi nếu bạn không tiếp tục bước, bạn sẽ chết. Ở cuộc sống đời thường, muốn chết bạn phải có một hành động cương quyết nào đó. Bạn phải tự sát.. Nhưng một khi bạn là tù binh chiến tranh thì trong bất cứ tình huống nào, sự thể cũng trái n gược lại. Bạn phải phấn đấu từng ngày để sống sót. Còn muốn chết thì dễ quá. Cứ việc bình thản, đầu hàng một cách êm ái, là bạn sẽ chết. Nhiều người đã làm như thế. Họ chết trong trại tù đầu tiên, họ chết trên đường di chuyển. Ngay sau ngày đầu, một số người đã không chịu bò dậy nữa. Một số khác cố gắng tiếp tục cuộc hành trình nhưng rồi cũng lần lượt bỏ cuộc. Trong lúc đoàn người tiếp tục tiến bước, mỗi khi nghe một hay vài tiếng súng nổ ở phía sau, họ biết họ sẽ không bao giờ còn gặp người tù binh đáng thương ấy nữa. Toán 27 tù binh chúng tôi đã mất ít nhất là nửa tá trong hoàn cảnh nói trên, và tới lúc cuộc hành trình kết thúc, Wayne Finch, người tù binh Mỹ duy nhất ngoài tôi ra, cũng đã bỏ mạng.

* * *
Cuộc di chuyển không kéo dài 11 ngày, và đích tới cũng không phải là một trại tù nào đó nằm trong khu vực. Mà là một cuộc hành trình gian khổ kéo dài 3 tháng, đưa chúng tôi vượt gần 1000 cây số, ngược đường mòn Hồ Chí Minh, và cuối cùng hướng về Hà Nội, thủ đô của miền Bắc. Thật là một cơn ác mộng – một cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Mỗi một bước, với tôi là một sự đau đớn tận cùng thân thể. Các vết thương làm độc ngày càng tệ hại. Tử thần đã kề bên. Cái chân bị thương đã sưng phù lên gấp đôi bình thường, với những vết nứt dài, từ đó chảy ra một thứ mủ cực kỳ hôi tanh.

Bệnh tiêu chảy của tôi càng thêm tồi tệ, tôi còn bị tới 3 loại sốt rét khác nhau cùng với vô số ký sinh trùng trong ruột. Mỗi cuối ngày, khi tôi kết thúc cuộc hành trình trên dưới 10 cây số, thần chết cứ lảng vảng bên cạnh. Mỗi buổi sáng, ngay sau khi thức giấc, tôi phải phấn đấu để cố đứng dậy, máu dồn xuống cái chân bị thương cùng với sức nặng của thân hình đè xuống, tạo ra một cảm giác đau đớn vô cùng tận. Và Trung-úy Xanh, mặc dù bản thân cũng trong tình trạng hết sức tệ hại, luôn luôn hiện diện để khích lệ tôi, giúp đỡ tôi với tất sức lực còn lại nơi anh. Tới bữa chiều, chúng tôi được phát một nắm cơm nhỏ. Xanh nói với tôi đây không phải là cách ăn uống bình thường của người Việt. Người Việt rất coi trọng bữa ăn, và có nhiều món ăn ngon. Đừng đánh giá văn minh ẩm thực của Việt Nam qua những gì chúng tôi đang được cấp phát. Tôi cố gắng duy trì đầu óc khôi hài. Đây là một việc rất khó khăn nhưng tối cần thiết. Tinh thần là yếu tố quan trọng nhất trong việc sống còn, và kể cả khi tình hình trở nên tuyệt vọng nhất, óc khôi hài sẽ giúp bạn giữ vững được tinh thần – từ đó nảy sinh hy vọng. Và trong việc này, Trung-úy Xanh cũng lại giúp đỡ tôi. Anh luôn luôn quan tâm tới tôi, và làm bất cứ những gì anh có thể làm để giúp tôi giữ được lạc quan, hy vọng. Vì thế, cho dù tình hình càng ngày tồi tệ, tôi chưa bao giờ mất hy vọng. Kể cả trong cái ngày mà đáng lẽ ra tôi đã chết, nếu như không có Xanh.

Mỗi ngày, tôi đã phải sử dụng toàn bộ ý chí để thức dậy, đứng lên và bước đi. Rồi tôi phải phấn đấu hết mình trong suốt ngày hôm đó để tiếp tục tiến bước trên con đường mòn dài vô tận. Tôi đã không còn đứng vững, nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn hoàn tất mục tiêu của mỗi ngày, để sáng hôm sau mở mắt chứng kiến thêm một bình minh nữa mà Thượng Đế đã ban cho.

Nhưng rồi tới một ngày tệ hại nhất trong đời. Tôi đã phấn đấu hết mình. Tôi lảo đảo muốn ngã xuống. Tôi cố gắng vận dụng hết sức lực.. Tôi loạng quạng bước đi. Rồi tôi lại lảo đảo, tôi cố gắng phấn đấu, tôi vận dụng toàn bộ sinh lực còn sót lại, và tôi cầu nguyện xin có thêm sức mạnh. Rồi tôi ngã gục, tôi bò dậy tiếp tục đi, nhưng rồi lại ngã gục. Tôi lại tiếp tục phấn đấu, phấn đấu với tất cả những gì còn lại trong cơ thể, trong trái tim, trong linh hồn.. Nhưng rồi tôi lại ngã gục, và lần này tôi không thể đứng dậy được nữa. Ý chí của tôi vẫn còn, nhưng cơ thể đã hoàn toàn kiệt lực. Cuộc đời của tôi đến đây là tận. Quân thù đến kia rồi; tên vệ binh nhìn xuống, ra lệnh cho tôi bò dậy, nhưng tôi không thể. Hắn quát tháo lớn hơn, tôi vẫn bất động. Coi như xong đời!

Nhưng Xanh đã tiến tới, vẻ mặt lo âu, cúi xuống nhìn tôi.. Mặc cho tên vệ binh quát tháo, xua đuổi, Xanh vẫn không chùn bước. Khi hắn quát tháo dữ dội hơn, nét mặt Xanh bỗng trở nên đanh thép lạ thường, và bất chấp những lời đe dọa của tên vệ binh, Xanh cúi xuống vực tôi dậ y, rồi kê cái lưng ốm yếu cho tôi gục lên, để hai cánh tay của tôi ôm vòng lấy cổ anh, hai cổ tay ghì chặt, và với tư thế ấy, anh đã kéo tôi lết theo cho tới cuối ngày.. Đôi lúc, có một tù nhân khác tạm thay thế Xanh, nhưng phải nói gánh nặng trong ngày hôm ấy dồn hết lên vai anh. Xanh là người đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng để lo lắng và chăm sóc tôi cho tới khi kết thúc cuộc hành trình ngày hôm đó.

* * *
Sáng hôm sau, tôi trải qua mọi đau đớn thường lệ trong việc thức dậy, đứng dậy và cố gắng lê lết cái chân bị thương trong những bước đầu tiên, để tạo quyết tâm cho một ngày sắp tới. Tôi cảm thấy đau đớn như chưa từng thấy nhưng vẫn cố gắng vận dụng ý chí để bước đi. Ngay phía bên ngoài cái trại vừa dừng chân là cây “cầu” bằng một thân cây lớn bắc ngang một dòng nước chảy xiết xen lẫn những tảng đá lớn. Tôi bắt đầu băng qua, cố gắng giữ thăng bằng nhưng không còn sức lực mà cũng chẳng còn một chút ý thức gì về thăng bằng nữa. Cái chân bị thương vô dụng kia đã hại tôi, kéo tôi nghiêng về một phía khiến tôi loạng quạng và cuối cùng rớt xuống sông. Xanh và Wayne đang đi phía trước, vội vàng quay trở lại phía bên này, lội xuống vào kéo tôi lên bờ. Họ năn nỉ đám cộng sản cho phép cả toán tù binh tạm dừng chân tại trại này cho tới khi nào tôi đủ sức tiếp tục cuộc hành trình, nhưng bị từ chối. Xanh và Wayne nhất định không chịu rời tôi. Cho tới khi đám vệ binh tiến tới, dí súng vào người và lôi cổ họ đi. Nhìn bóng hai người khuất dần cùng với toán tù binh, tôi biết mình sẽ không bao giờ gặp lại Xanh trên cõi đời này nữa!

Bởi vì, như các bạn tù đồng cảnh ngộ đều biết, trong trường hợp này, tôi bị bỏ lại trại để chết – như nhiều người khác đã chết. Thế nhưng không hiểu vì nguyên nhân hay lệnh lạc nào đó, đám cộng sản lại quyết định chích penecillin cho tôi trong mấy ngày liền. Tôi bắt đầu bình phục, và sau một khoảng thời gian ngắn, đã có thể đứng dậy. Và ngay sau khi tôi đủ sức bước đi, đám cộng sản đã ra lệnh cho tôi tiếp tục cuộc hành trình. Lần này, tôi đi chung với một đoàn bộ đội di chuyển về hướng Bắc, một tay vệ binh được chỉ định đi theo tôi làm công việc áp giải.

Cuộc hành trình cũng gian khổ như những đoạn đường đã qua, nhưng với tôi, những gì kinh hoàng nhất đã được bỏ lại sau lưng. Thậm chí tôi còn có cơ hội chạy trốn: một ngày nọ, khi đi tới một khúc quẹo và khuất tầm nhìn của tên vệ binh đi phía sau, tôi đã bỏ chạy vào rừng. Nhưng rồi hắn đã mau chóng lần ra dấu vết và đuổi kịp; mặc dù tỏ ra vô cùng giận dữ, hắn đã không bắn tôi chết, mà chỉ hung hăng chĩa súng ra lệnh cho tôi quay trở lại. Sau đó, khi bắt đầu tiến vào lãnh thổ Bắc Việt, tôi được cho nhập bọn với một đoàn tù binh VNCH, và cuối cùng, tới Hà Nội. Nơi đó, sau khi đã trải qua mọi thủ tục và nhiều nhà tù khác nhau, tôi được đưa tới “khách sạn Hilton – Hà Nội” lừng danh (tức nhà tù Hỏa Lò), và ở đó cho tới khi được trao trả vào giai đoạn cuối của cuộc chiến.

* * *
Ngay sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi đã đi tìm hỏi tin tức về Trung-úy Xanh nhưng không có kết quả. Tôi đã tìm gặp các quân nhân Việt Nam đang thụ huấn tại Mỹ, cũng không ai biết gì. Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975, tôi càng ra sức tìm kiếm, để rồi lại bị thất vọng.

Mấy năm sau, tôi được dịp tái ngộ với một quân nhân VNCH đi chung với tôi trong toán tù binh nhứ nhất, cùng với một người khác trong toán thứ hai, tên là Phạm Văn Tăng và Nghiêm Kế. Tôi nhờ họ giúp đỡ trong việc tìm kiếm tin tức về Trung-úy Xanh.. Lúc đầu, không có kết quả gì cả. Về sau thì có tin đồn nói rằng sau khi Sài Gòn thất thủ, Xanh đã bị cộng sản bắt lại và có lẽ đã chết sau nhiều năm gian khổ trong tù. Nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ có ngày được biết đích xác những gì đã xảy ra cho Xanh, và có thể cả những tin tức liên quan tới gia đình anh.

Trong những năm gần đây, tôi ra sức tìm kiếm trên internet, nhưng luôn luôn thất bại. Thế rồi cách đây mấy tuần lễ, tôi tình cờ khám phá ra trang mạng của các hoa tiêu bay khu trục A-1 Skyraider của Không Quân VNCH, trong đó có một số người cùng phi đoàn với Xanh ngày trước. Tôi gửi cho “trang chủ” mấy lời nhắn tin, và chỉ vài ngày sau, tôi đã liên lạc được với Xanh bằng email, và sau đó qua điện thoại – lần đầu tiên sau 35 năm, chúng tôi mới được nói chuyện với nhau. Tôi sẽ gặp lại Xanh trong một ngày gần nhất, có thể là mùa thu này. Tôi sẽ được nhìn thấy anh lần đầu tiên kể từ cái ngày tôi nằm lại bên đường mòn Hồ Chí Minh, mắt nhìn theo con người đã cứu mạng mình – đang bị vệ binh dí súng cưỡng ép bước qua cây cầu, trong lòng đau đớn vì phải bỏ tôi ở lại để chờ chết.

Xanh đâu có ngờ chính những cố gắng giúp đỡ tận tình của anh trong những ngày đen tối nhất đời tôi, đã trở thành động lực để tôi phấn đấu cho sinh mạng của chính bản thân mình – tôi không thể để uổng phí công lao của Xanh. Tất cả những gì Xanh làm đã giúp tôi sống sót, và chính những hành động quên bản thân của anh đã giúp tôi có thêm nghị lực và quyết tâm để vượt qua bất cứ khó khăn, tr ngại nào trong thời gian chờ đợi ngày được trả tự do.

Xanh luôn luôn là một con người đáng ngưỡng phục. Và giờ đây anh còn là một công dân Mỹ đáng quý. Tôi cám ơn trời đã cho tôi gặp được một người bạn như Xanh – vào lúc mà tôi cần tới sự giúp đỡ của anh hơn lúc nào hết; và giờ đây, xin cám ơn trời một lần nữa, vì đã cho tôi tìm lại được người bạn quý mến ấy.

NGUYỄN VĂN XANH , một người như mọi người.

* William S. Reeder (Nguyễn Hữu Thiện phỏng dịch và đặt tựa)Câu Chuyện Cảm Động Của Một Đại Tá Phi Công Hoa Kỳ Từng Bị Tù Cộng Sản


* William S. Reeder (Nguyễn Hữu Thiện phỏng dịch và đặt tựa)

JIMMY LÊ * HÀNH TRÌNH 200 DẶM TRÊN BIỂN ĐÔNG

Hành Trình 200 Dặm Trên Biển Đông
Font Size: Tác Giả: Jimmy Le
Tìm Kiếm bằng Tựa Đề:
    Trước khi vào chuyện tôi tự giới thiệu, tôi là Jimmy Le, tóm tắt tiểu sử sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo ở thành phố Cần Thơ. Thủa nhỏ yêu nghề máy thích cuộc sống phiêu lưu, tốt nghiệp trung cấp kỹ thuật, năm 17 tuổi với nghề chuyên môn về động cơ (Diesl) và gia nhập gia đình mũ xanh TQLC. Năm 1968 chưa tròn 18 tuổi, được phục vụ ở đơn vị YTTV/ ĐVT / SDTQLC chức vụ tài xế quân xa. Năm 1971 làm đơn xin về nguyên quán của cha tôi được bộ quốc phòng chấp thuận và thuyên chuyển về lữ đoàn 4/VT/vùng 4/Chiến thuật, chức vụ hạ sĩ tài xế quân xa. Phục vụ đến ngày 30/4/75.
    Tôi cưới vợ năm 1971. Sau 7 năm góp mặt yểm trợ khắp các chiến trường kể cả chiến trường ngoại biên. Sau miền Nam đổi chủ - những người chủ mới từ bắc vĩ tuyến 17 cho rằng tôi loại ác ôn, có nợ máu với nhân dân nên đưa đi cải tạo ở núi Trầu (Kiên Lương ) Hà Tiên, sau 2 năm trả tôi về địa phương. Khi trở về nhà cũ, thì mới hay vì sợ áp lực và theo đường lối mới của “nhà nước” mà cha tôi phải đi về quê tăng gia sản xuất. Vì thương cha già, tôi cho vợ con tôi cùng về quê để hôm sớm có người chăm lo, còn một mình tôi ở lại Cần Thơ đi tìm việc làm nhưng đến đâu cũng bị từ chối. Vì là thành phần “tàn dư của chế độ cũ”. Sau cùng tôi mua chiếc xe ba gác đạp để hang đêm xuống bến Ninh Kiều chở rau cải, ngày thì ai gọi thuê chở cái gì thì lãnh chở để kiếm sống và còn để dành tiền để gửi về quê lo cho gia đình. Tôi cũng bằng lòng với số phận nên những lúc rảnh rỗi đã làm mấy câu thơ, để đọc mà an ủi cuộc đời từ một tài xế mà bây giờ đẩy chiếc xe ba gác.
    “ Rồi từ đó anh đi làm ba gác
    Khoác lên mình chiếc áo rách vai
    Trong đêm xuân anh mơ được những gì
    Đời ba gác người yêu là ra cải.”
    Nếu thời gian bình thản trôi đi thì chắc không có hồi ký của chú Sáu ba gác, mà giờ này chắc chú Sáu còn tiếp tục đẩy xe. Qua thời gian sống xa tôi, vợ tôi quan hệ với tên tập đoàn trưởng ở ấp. Sau khi thằng con trai lớn bắt gặp mẹ nó dan díu, tôi hay tin bán xe ba gác về quê làm đơn thưa kiện, bây giờ nhớ lại tôi làm việc đó hết sức là dại dột. Như bạn đọc cũng hiểu chánh quyền mới, người dân gởi đơn phải chầu chực có khi gần nửa tháng để ngâm cứu, mà chung quanh công an ấp xã đều là vây cánh của tên tập đoàn trưởng. Cuối cùng, công an xã ra lệnh công an ấp và du kích bắt tôi với tội trạng là tôi cáo gian và tình nghi tôi là CIA làm mất thể diện cán bộ ở địa phương và dánh lệnh tầm nã, may mắn, người du kích sai đi bắt tôi lại cho tin cháu tôi đưa đi trốn.
    Trở về Cần Thơ thì phương tiện làm ăn đã bán rồi, chỉ còn ít tiền, tôi sắm chiếc xe đạp chở khách để sống qua ngày. Ngày ngày chỉ đủ lon gạo bó rau và bịch tương, và không biết bị bắt lúc nào vì được mang tên là CIA. Dịp may đến với tôi, người chị thứ năm của tôi từ Cà Mau về Cần Thơ. Người chị tôi nghèo, nhà chỉ có hai chiếc xuống tam bản chở mối kiếm sống, sau khi nghe hoàn cảnh, chị tôi dắt tôi xuống Cà Mau. Tôi cầm chiếc xe đạp được 800 đồng để làm lộ phí. Sau khi xuống Cà Mau, chị tôi giớ thiệu với bà Tám chủ ghe, sau khi nhìn qua tôi và qua sự giới thiệu tôi biết nghề máy, tôi được làm công cho bà, điều kiện không có trả tiền, chỉ cho ăn cơm, nửa tháng cho một bánh thuốc Gò Vấp và một sấp giấy báo cữ vấn hút. Công việc mỗi ngày lái ghe ra bờ biển xúc cá lúc nước ròng vô ghe, và sau đó lái ghe về quận Năm Căn vác đồ lên bờ, chiêc 1ghe dài hơn 20 mét, rộng 7,8 mét, trọng tải ước chừng 5 tấn. Ngày ngày, tôi phải làm công việc đó và quan sát cửa biển Hòn Khoai, nó nổi lên cồn cạn, để đến ngày ra đi không bị mắc cạn. Cái vấn đề khó khăn của tôi là lúc đi tôi chỉ mặc có bộ đồ và cái quần đùi, cĩung may, cái quần đùi bằng vải kaki nên chịu đựng hơn ba tháng trời. Nhiều lần tôi nói với bà Tám có ra chợ mua cho tôi cái quần đùi nhưng rồi bà cứ khất lần cho đến ngày ra đi.
    Bạn đọc cũng hiểu địa danh U Minh nổi tiếng là muối, cái khổ của tôi lúc đó là mỗi ngày lao động chiều tắm nước mặn, xách một gầu nước ngọt và cái nùi giẻ chạy vô sâu trong rừng tìm một gốc cây đứng rửa, sỏ cái chân cởi quần vắt cho ráo nước và dùng nùi giẻ thấm nước ngọt để lau qua cái body. Eo ơi, mỗi lần như vậy các bạn có tưởng tượng không biết bao nhiêu là muỗi và bù mắc thi nhau tấn công, tôi không hiểu ngày nào được ra đi. Rồi sự mong đợi đã đến với tôi chiều ngày 22/12/87. Cuộc hành trình 200 dặm trên biển Đông bắt đầu.
    Ba giờ chiều ngày 22/12/87, bà Tám cho tôi biết hành khách đã ém rải rác xung quanh huyện Năm Căn đủ rồi. Lệnh sáu giờ chiều, tôi lái ghe qua đổi nước lấy 10 can nước ngọt, còn lương thực, xăng do hai xuồng tam bản chở ra điểm hẹn gần cửa biển Kinh Năm. Tôi nhận đèn pin, ám hiệu “hỏi 2 ngắn đáp 1 dài" , mật khẩu tổng số là 9. Thí dụ từ xa thấy xuồng đến tôi bấm 2 đèn là bên chiếc xuống kia trả lời bấm lại một đèn hồi lâu. Để ngăn ngừa công an thì hỏi tiếp mật khẩu “Mạnh giỏi anh Sáu?” bên kia trả lời: “Dạ khoẻ anh Ba”, sáu cộng ba chung là chín thì đúng là phe ta, còn nếu sai thì lo chạy trốn. Phần tôi đến điểm hẹn, tôi chợt nghỉ ra rằng đi với hai cái máy đuôi tôm chắc không ổn, nên tôi vác búa lên bìa rừng đốn một cây đước thật suông dắt theo bên ghe để có gì làm buồm. Và tôi đốn thêm một ít củi, trời tối muỗi cắn dữ quá, tôi đốn được một ôm củi dài non một mét để sau lái ghe khỏi có thiếu củi chẻ mà dùng, sau đó canh chừng từng chiếc xuồng đến. Tất cả những ám hiệu đều tốt.
    Gần tới giờ xuất phát, ông và bà chủ ghe đi vỏ lãi ra lấy giấy của hành khách để sau này thanh toán với người nhà. Ông chủ ghe bắt tay tôi lần chót chúc may mắn, trao cho tôi một hải bàn và một bản đồ vùng biển Cà Mau, Malaysia, Thái Lan. Nói hải bàn nghe cho oai, thực ra nó chỉ là cái địa bàn ở bên Mỹ auto part nào cũng có bán để trang trí trên xe. Có kinh nghiệm sau nhiều tháng ra vô, vấn đề là phải né ngọn hải đăng suốt đêm quét vệt sáng dài bao quanh vùng biển Hòn Khoai. Để né tránh Cồn Cạn đầu tiên, tôi phải bắt hướng West đi về Thái Lan và chạy hai máy để thoát nhanh, chỉ sợ tàu ở đồn công an biên phòng Hòn Khoai. Vừa ra chừng 30 phút thì đa số là phụ nữ bắt đầu nôn ói từ 12 giờ khuya đến rạng sáng ngày 23/12/87. Tám giờ sáng thì bỏ Hòn Khoai đằng sau lưng chỉ còn nhìn thấy bằng cái bàn ăn cơm. Từng đoàn cá nươc lội theo hai bên hông ghe rất lâu như muốn đưa tiễn chúng tôi. Tổng số người trên ghe là 26 người. Lúc này, tôi nhờ những cậu trai trẻ phụ dọn sạch sẽ trên ghe do các cô nôn ói và tát nước ghe còn tôi châm thêm nhiên liệu và kiểm soát hải bàn, tôi kẻ đường biểu diễn từ mũi Cà Mau đi Pulau Bidong. Lúc này, tôi bắt đầu qua hướng South Eath và đi phuogn giác 110. Mọi việc xong xuôi mọi người còn tỉnh táo nấu mì gói ăn, lúc đó mới có dịp hỏi tên nhau. 3 giờ chiều 23/12/87 thì hết thấy Hòn Khoai, tôi cắt giảm một động cơ để hy vọng luân phiên sử dụng được lâu hơn.
    Đêm 24/12/87 phải nói là đêm giáng sinh tuyệt vời, mặt biển yên như trong hồ, ghe đi nhanh nhưng rồi chiều ngày 25/12/87 thì hai cái máy lần lượt ra đi và bị tôi quẳng xuống biển. Đúng như dự đoán, tôi nhờ mấy cậu thanh niên dựng cây cột buồm và lấy cái mền rách ra làm buồm. Tôi nhờ một câu giơ cái khăn lên ước lượng gió thổi 10km/giờ. Bây giờ mọi người trên ghe hết sức hoang mang vì sợ trôi về Việt Nam sẽ đi tù. Lúc này chiếc ghe không còn điều khiển theo ý muốn, nhìn hải bàn lệch về hướng South West. Tôi cầm bản đồ, tính toán và mạnh dạn trả lời với bà con trên ghe chắc chắn không bị trôi về Việt Nam vì đã đi huốt Hòn Son Rạch Giá và định mệnh đã đưa chúng ta vào vùng biển Thái Lan, lành dữ ra sao thì chưa biết và bao lâu đến bờ thì không hiểu. Trước mắt phải giới hạn nước uống, một ngày một người chỉ được uống một cốc nước nhỏ, chỉ có hai đứa nhỏ thì lúc nào khát sẽ uống nửa cốc riêng. Riêng tôi vì ở quân đội, chiều tôi dùng tấm nylontrải mui ghe hứng những giọt sương đêm để sáng thấm giọng.
    Tối đêm 26/12/87 thì gặp tàu đánh cá Thái Lan loại nhỏ nhưng chiếc tàu này hiền, tuy nhiên không cứu cũng không đá động dến chiếc ghe của chúng tôi. Mọi người đều đặt niềm tin vào tôi vì thấy tôi đã nói đúng:đã thực sự đi vào Thái Lan. Sáng ngày 27/12/87, chúng tôi bắt gặp một tầu đánh cá Thái Lan loại to, vị thuyền trưởng đã nhân đạo cho chúng tôi ăn một bữa sáng trên boong tàu và cho thêm nước, thực phẩm. Trên ghe tôi có một cậu biết tiếng Anh trao đổi thì người thuyền trưởng nói theo luật Hoàng Gia, tất cả tầu Thái Lan không được kéo giúp ghe vượt biên, nếu hải quân Hoàng Gia bắt gặp sẽ bị phạt, vì lẽ đó sau khi giúp nhân đạo tầu này xô ghe chúng tôi ra và ra đi.
    Trưa ngày 27/12/87 tôi nghe có tiếng phi cơ trên nền trời, lập tức tôi lấy cái bếp ra mũi ghe nhóm ít lửa bỏ tí vỏ cây đước, lấy cái áo trùm lại rồi dỡ ra làm ám hiệu cầu cứu theo bài mưu sinh thoát hiểm, lấy khăn trắng vải mui ghe và lấy cục than kẻ chữ S.O.S nhưng rồi chiếc máy bay bay đi luôn. Buổi chiều, nước biển đang trong, từng đám cá lội nhợn nhơ bỗng dưng biến mất, tôi lo sợ vì báo hiệu biển có sóng lớn. Đó là kinh nghiệm của một cư dân truyền lại cho tôi trong những ngày hành quân vùng duyên hải. Tôi thương hai đứa nhỏ trên ghe, đứa 7 tuổi thì cha mẹ luôn bị say sóng, có chuyện chắc không lo được gì nên tôi lấy can không cột lại làm sẵn cho hai vợ chồng này rằng nếu có chuyện gì bất trắc thì lấy cái phao và ôm hai đứa con mà còn hy vọng. Tôi không dám nói vì chưa hiểu có đúng vậy không.
    Khoảng 7 giờ tối, những hiện tượng bắt đầu xuất hiện, mưa nhẹ biển gầm lên, những ngọn sóng ước chừng như quả đồi sẵn sáng chụp bao phủ chiếc ghe như là tấm lá nhỏ. Cũng may là sóng thưa, chiếc ghe bị nhấc lên cao rồi lại bị hụp xuống, chạy dài ra rồi nhấc lên. Bây giờ, đa số mọi người đều ói dữ tợn, còn rất tỉnh táo, người ói nằm rũ ra ghe, người nằm như cá hộp, vấn đề tát nước thật là chật vật, một người tát, một người phải lôi người ói sang một bên. Dỡ ván sán ghe đén không có, cái đèn pin bị lỏng khi tắt khi cháy.
    Sáng ngày 28/12/87, sóng bắt đầu hơi dịu lại, cho đến bốn giờ chiều tôi thấy một chiếc tầu đánh cá chạy nhanh về hướng chúng tôi. Tôi nói chiếc tàu này có ý tấn công, lập tức tôi bố trí cậu Hiền ở mũi ghe, cậu này ở sứ Vĩnh Châu và Út Bà Bóng ở phía sau lái, tôi ngồi giữa ghe lấy mấy cây củi dài phát và phân công, vừa xong thì chiếc tầu đó đâm vào gần đằng mũi ghe, cậu Hiền dùng cây đánh ngang ống quyển tên Thái Lan nhảy qua như tôi đã dặn dò. Trước khi đánh, tôi áp dụng bài học đánh cận chiến nhưng rủi thay mũi ghe thì tròng trành, phần thì sóng, phần thì do con tàu bị hút vào, sau khi đánh thì nghe hai tiếng “á”, rồi tên Thái lan và cậu Hiền bị văng xuống biển, chiếc tàu Thái vòng lại vớt người, còn cậu Hiền trôi ra xa, sóng và gió đưa ghe tôi ra xa rồi mất hút trong màn sương chiều, một người bạn vừa mới quen vài ngày đã vĩnh viễn ra đi.
    Đêm đó vì lo và buồn và cái hậu quả chiếc tàu đụng vào, chiếc ghe bị rêm, nước vào nhiều quá, tôi lo tập chung bốn người thức xuốt đêm ở 4 khoang trên ghe để lo mà tát nước, ai nấy đều cầu nguyện, chúng tôi vấn thuốc rê hút suốt đêm chống buồn ngủ và tát nước nghe tay rã rời. Sáng lại tôi bàn kế hoạch bây giờ cứu vãn tình huống chỉ còn có cách lấy tấm nylon dài che dọc chiếc ghe, và nhổ những cây đinh trên kèo mui đóng phủ bên ngoài vết nứt do chiếc tàu gây ra thì mới giảm được nước vào ghe. Công việc này cần 4 người, 3 người chia đều căng nylon, một người cầm búa đóng. Tất cả được cột vòng một bên nách cọng dây dính trên ghe để không bị nước cuốn trôi và cán của cây búa cũng được buộc một cọng dây để có vuột còn níu kéo được.
    Phân công xong, biển lúc đó tương đối êm, bây giờ chỉ cón sợ bầy cá mập nhỏ, tôi dặn kỹ rủi ro mà có đóng dập tay, lập tức la lên để kéo lên ghe nếu không cá mập con sẽ tấn công. Một con rỉa một tí thì chết. Sau một tiếng thì công việc ổn cả cả, bây giờ nước bớt vô, chừng ba tiếng tát một lần. Vấn thuốc ngồi ăn bánh bía, bỗng tôi thấy dề rác trôi nhìn kỹ có vỏ chai nước tương, tôi la lớn mừng rỡ: “ Gần tới bờ rồi bà con ơi vì tôi thấy vỏ chai nước tương trong đám rác”. Năm giờ chiều, nhiều bầy chim biển bay lượn trước mũi ghe, ai cũng mừng rỡ nhưng rồi tai biến lại đến với chiếc ghe tôi nữa. Lúc đó trước sáu giờ từ trong bờ có chiếc ghe nhỏ chỉ lớn hơn chiếc ghe tôi có tí chút chạy vòng xung quanh chiếc ghe tôi, có ba tên Thái Lan mặt mày dữ tợn. Trên ghe có cô Hoàng, sau này đi Canada, học lõm đâu được tiếng Thái chữ ăn cơm là “kinh khào”, bọn Thái lan thấy có con gái lập tức tấn công, một tên Thái lan nhẩy qua sau lái ghe, một tên cầm búa bị Út Bà Bóng lấy cái leng xúc cát vớt trúng ngang ba sườn la thất thanh và văng xuống biển. Chiếc ghe Thái Lan vòng qua vớt tên Thái xong và chạy hết ga lên khói đen.
    Nói về tôi sau khi đụng váo lái súc và văng bánh lái xuống biển, bây giờ tình trạng chiếc ghe trôi quay ngang mà không còn điều khiển được. Để đối phó, tôi nói với Út Bà Bóng: 2 Cậu mạnh tay khi nào nó tấn công nữa cậu lấy can xăng 20 lít ném qua, cần nhất trúng ngay chỗ thằng lái ghe, tôi sẽ phóng lửa qua, bây giờ chỉ còn đánh đón hy sinh”. Vứa nói, tôi kéo can xăng giao cho Út, lập tức tôi bẻ nẹp tre xé áo trên ghe quấn vào đầu nẹp tre làm bùi nhùi tẩm chút xăng và thủ cái quẹt ga. Chuẩn bị vừa xong, ghe thái Lan sau khi cứu người đâm thẳng váo giữa ghe và một tên nhẩy qua, vì mũi ghe lợp lá mỏng, tên nhẩy qua lọt chân, nhân cơ hội tên Thái Lan mất thăng bằng, tôi lấy cây đước dài từ dưới lòng ghe chọt thẳng xuyên qua lớp lá mui ghe trúng ngay ngực, tên này la một tiếng rồi văng xuống biển. Hạ được hai tên, lên tinh thần, chiêc ghe Thái vòng qua hông bên phải để vớt, bọn chúng vừa vòng qua ngang hông, tôi la to ném can xăng qua, Út Bà Bóng lập tức ném qua liền, may mà trúng ngay góc chỗ tên Thái Lan điều khiển ghe, can dòn do tái sinh nhiều lần đã để xăng chảy ra, tôi phóng nẹp tre đốt lửa và gây ra một đám cháy trên ghe Thái Lan, tiếp tục Út ném bồi thêm một can nữa để tăng sự cháy. Sau đó gió thổi mạnh đưa chiếc ghe tôi vào thị trấn Songkhalia.
    Nói về cuộc chiến lần này, các cô gái trên ghe sợ quá giựt can không nhảy xuống biển và hai chú người Việt gốc Hoa sợ quá cũng giựt hai cái can to ôm nhảy xuống biển và trôi nguyên đêm vô bờ cách chúng tôi chừng hai cây số. Còn phần con gái trên ghe, cô Nguyệt sứ Sài Gòn làm nghề bán hàng rong gom ít tiền đi vượt biên, ôm trúng cái can bể sau đó đã chết. Hai ngày sau khi nhập trại, xác cô ta trôi vào bờ, police Thái Lan gọi bọn tôi có phải người đồng hành trên ghe không rồi tiêu hủy hài cốt ở Songkhalia, cô này khoảng Trên hai mươi tuổi, nghe kể chuyện còn độc thân, không hiểu sau này có ai biết chính xác địa chỉ ở đâu báo tử cho gia đình cô ta không.
    Bây giờ trở lại chiếc ghe, sau khi tạo được đám cháy, gió thổi chiếc ghe tôi vào bờ vào khaong? 10 giờ 30 đêm, trên bãi biển Vắng, thỉnh thoảng trên con đường lộ ở xa có những vệt đèn xa chạy lưu thông, tôi yêu cầu những người còn khoẻ dìu những người say sóng lên bờ và đào hai cái hố lớn để trốn gió, nhất là các cô nhẩy xuống biển quàn áo ướt sũng nước, cón tôi lập tức phá vỡ hông ghe và quăng búa xuống biển phi tang vì sợ ghe còn lành Thái Lan sẽ kéo ra biển, mọi việc xong, tôi trở lại hố và chưa biết việc gì đến nữa, khoảng vài phút sau nhóm tuần tra bờ biển TQLC Hoàng Gia Thái Lan bắt gặp chúng tôi, họ ăn mặc và mang cấp bậc giống như VNCH trước năm 1975, Lập tức súng M16 lên đạn chĩa thẳng vào chúng tôi, mọi người đều thất kinh, trong nhóm có một tên hạ sĩ quan gọi máy truyền tin PCR25, khoảng 15 phút sau, một xe jeep quân sự đến pha đèn thẳng vào chúng tôi, người chỉ huy mang cấp bậc trung tá, vì ngày xưa tôi ở TQLC nên biết, một phút im lặng, mấy người đàn bà con gái nói: “Chú Sáu đại diện đứng lên nói đi”, tôi trả lời: “ Tiếng Anh tôi đâu biết, tiếng Thái thì ngọng luôn, có cậu kia biết tiếng Anh sao không nói.”
    Cậu ta thấy súng ống run lập cập, bí quá tôi làm gan đứng dậy trên miệng hố, hai tay chấp và xá vị trung tá vì Thái Lan họ theo đạo Phật và tôi nói xin kính chào Trung Tá, may thay hồi chiến tranh Việt Nam tên này có tham chiến nên ông ta nghe và hiểu chút ít tiếng Việt, ông trả lời với giọng lơ lớ như người Thượng. Ông ta hỏi: “ Sao anh biết tôi là Trung tá?” Tôi mừng quá vì lâu ngày ông ấy không nói tiếng Việt nên ông nói rất chậm, tôi liền trả lời: “ Dạ thưa Trung tá, sở dĩ tôi biết ông là Trung tá vì trước năm 75 tôi là lính TQLC, và nếu tôi không lầm thì Trung tá đã từng tham chiến ở Việt Nam?” Ông ta trả lời: “Hồi lúc còn thiếu tá có sang Việt Nam hơn một năm, do đó tôi biết ít tiếng Viẹt, bây giờ tôi tin anh là lính TQLC nhưng những người kia thì sao?”
    Tôi trả lời họ trước đây cũng thuộc gia đình binh lính của chế độ trước. Sau 75, cũng vì chế độ mới khắc nghiệt và cùng ra đi với tôi, mong chờ trung tá thương tình mà giúp cho chúng tôi. Ông ta gật gù, tôi mừng quá, sau đó ông gọi police đến giữ bọn chúng tôi tới sáng và có báo chí Thái lan đến chụp hình chúng tôi với chiếc ghe, hai chiếc xe truck chở bọn tôi nhập trại bên bờ biển giao cho một ông police già giữ bọn chúng tôi. Khoảng 10 giờ sáng hôm đó thì xe Cao Ủy tị Nạn đến phát lương thực, chăn mền quần áo xà bông, kem đánh răng và có xe Hồng Thập Tự đến khám bệnh và cấp thuốc. Tôi thấy xe police chở hai người bạn đồng hành đi chung ghe người Hoa đã ôm can nhảy xuống biển trong lúc chúng tôi chống cự với chiếc ghe Thái Lan.
    Lúc này tôi cảm thấy sung sướng nhất là có quần áo đẻ mặc, có khăn lông lau mình, lại có xà bông thơm. Bữa đầu tắm gội tôi thấy mình tôi sao nhẹ quá tưởng chừng như bay bổng và tôi không quên giăt bộ quần áo cũ phơi phóng và gói cất đến tận bây giờ làm kỷ niệm. Sau bữa cơm đầu tiên mọi người ăn uống vui vẻ, tôi đề nghị “ chiều nay bọn mình ra bờ biển quì xuống cầu nguyện tùy theo tôn giáo để cảm tạ ơn lành may mắn chúng ta còn sống và cầu nguyện cho linh hồn của hai bạn đồng hành với chúng ta chẳng may đã bỏ mình dưới biển”, mọi người tán thành ý kiến và sau đó tôi cạo trọc đầu vì tôi có lời nguyện hồi máy hư, nếu ơn trời che chở cho ghe con tới bến bờ thì con sẽ cạo đầu.
    Sau khi cầu nguyện chúng tôi ăn bữa cơm chiều và mọi người tự kiếm chỗ nghỉ ngơi. Vì cái trại này đã bỏ haong từ lâu không có người ở và cũng không có điện nên Cao Ủy có cho đén dầu và ít đèn cầy dể thắp sáng trong đêm, tôi ngủ một giấc ngon lành. Nửa khuya, vì theo thói quen thức dậy xem nước có vô ghe không, thức dậy biết mình đang ở trên bờ Songkha Thái Lan, nhớ đến hai người cùng đi mới quen được vài hôm đã mất, nghe sóng biển gầm tôi buồn quá, đốt đén cầy, hút thuốc suy nghĩ cuộc đời qua ánh nến châp chờn, cảm hứng lấy cục than ở bếp hối chiều nấu ăn, viết mấy câu thơ trên vách để nhớ người đồng hành chẳng may đã mất
    Hồn ai siêu thoát ở nơi đâu
    Biển mặn ai đi để kẻ sầu
    Ngọn nến nung hoài hơi gió lộng
    Hỡi người dưới biển có buồn không
    Viết thư đêm vắng sầu trăm ngả
    Thôi đành phải xa cách
    Lặng lẽ mầu tang thương với nhớ
    Nghìn thu ai biết chuyện Song Kha
    Kết thúc câu chuyện hồi ký "cuộc hành trình 200 dặm trên biển Đông", tôi nghĩ rằng sau khi được định cư, mọi người lo làm ăn đâu có dịp mà kể lại, may thay nhờ có cuộc thi viết bài kẻ lại cuộc hành trình trên biển Đông nên mới có dịp kể lại cuộc hành trình để các vị gần xa hiểu thêm hoàn cảnh thuyền nhân chúng tôi. Bây giờ thì Chúa thương tôi đã có được mái ấm gia đình, tôi có người vợ hiền và đã bảo lãnh được hai đứa con đang sống chung nhưng mỗi lần đông về tết đến, tôi lại nhớ kỷ niệm Songkha.

THƠ NGHIÊU MINH





Full HD
MP3
TUỔI THƠ, CHỈ CÒN TRONG GIẤC MƠ
Tôi nghe như quanh đây có tiếng ai gọi chào
Khi cơn mưa thoáng qua không ướt bàn tay
Hay tôi đang mơ đến dòng sông sau nhà
Mùa mưa nước lên ngập khu vườn cau
Và tôi vui cả ngày khi ngồi trước hiên
Nhìn những con cá lội ngang thềm
Ôi sao một đời tự do!
Tôi đi lang thang trong những tiếng cười
Chung quanh tôi là những giấc mơ thật tươi
Những giấc mơ đến không cần nguyện cầu
Những giấc mơ có sẳn mọi nơi thật tuyệt vời
Trên ruộng đồng, trong phố chợ, ngoài biển khơi
Nghe chim trời hót vui trong nắng mây
Ôi sao một thời an bình! 
Rồi tuổi thơ đi qua từng luống mương
Từng rẫy nương không bình thường
Chiều chiều không còn khói buông
Dòng sông sau nhà giờ thành con kinh nhỏ buồn
Tuổi thơ như những con thuyền trôi
Chẳng bao giờ trở lại bến xưa
Tôi nghe mênh mông trong tiếng mưa chiều
Mà quanh đây nhìn bóng mình quạnh hiu
Đêm không nghe nước lên dưới chân khô cằn
Tuổi thơ nằm trong tâm khảm xa xăm
Cùng giấc mơ còn mãi tuổi thần tiên
Ôi qua một thời êm đềm!
NGHIÊU MINH


TÔI CÓ MỘT ĐỜI MƯA
tiếng hát Khắc Dũng
 
 
Tôi có một đời mưa
Mưa lang thang khắp phu phố nghèo
Mưa ngu ngơ trước sân trường chiều
Và nghe mưa như tiếng hát cô liêu
 
Tôi có một đời mưa
Mưa giới nghiêm đêm tối mù lòa
Mưa hỏa châu rực sáng thềm nhà
Và mưa âm u đám tang đi qua
 
Tôi có một đời mưa
Khi yêu em mưa cũng hiền hòa
Mưa bay bay hay mưa nhạt nhòa
Và mua mù sương cho ấm hồn ta
 
Tôi có một đời mưa
Mưa tung tăng quanh phố Saigon
Mưa trên ly kem nhìn nắng dập dùi
Mưa trong ciné mình hôn thật nhiều
 
Tôi có một đời mưa
Mưa mênh mông sóng dữ nộ cuồng
Mưa lênh đênh trên chiếc thuyền buồn
Và nghe mưa đêm tiếng thét đau thương
 
Tôi có một đời mưa
Mưa châu thân tơ tóc chập chùng
Mưa hôm nay và mưa ngày mai
Cùng em đi hết đời này
 
NGHIÊU MINH


LS LÊ ĐỨC MINH * ĐẠO ĐỨC CỌNG SẢN


Suy luận của một người 
LIÊM CHÍNH và trí THỨC


Cộng Sản và sự tha hóa về Đạo đức
Ls Lê Đức Minh


Vợ tôi sinh năm 1973. Hai năm sau thì miền Nam thua cuộc.
Từ đó dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, cả một dân tộc “điên cuồng” lao vào cuộc chiến tẩy rửa những tàn tích của phong kiến, thực dân, tư bản... để xây dựng thiên đường xã hội chủ nghĩa.
Vợ tôi lớn lên cho tới ngày bỏ nước ra đi vào năm 1991 chưa bao giờ nghe được một bản tình ca, chưa bao giờ đọc được một tác phẩm văn chương ngọt ngào tình tự dân tộc, chưa bao giờ được chiêm ngưỡng những bức danh họa của những họa sĩ Việt Nam tài hoa.

Thay vào đó, cũng như những thanh niên thiếu nữ cùng độ tuổi vợ tôi chỉ được nghe những bài hát cách mạng khát máu, gào thét tranh đấu; đọc toàn những thứ văn chương nồng nặc chủ nghĩa dối trá và chỉ nhìn thấy những tấm pano tuyên truyền với gươm dao, búa liềm, súng ống...

Trong một môi trường như thế, người ta kỳ vọng gì ở một thế hệ thanh niên như thế hệ của vợ tôi? Chính vì thế tôi phải cám ơn ông anh vợ tôi hết sức vì đã mang vợ tôi từ bỏ quê hương trước khi những chấn thương về tinh thần mãi mãi ghi dấu trong tâm hồn người vợ yêu quý của tôi.

Khi có điều kiện đọc và hiểu nhiều hơn về những giai đoạn vừa đau thương vừa huy hoàng của dân tộc, vợ tôi ngỡ ngàng nhận ra rằng đã có một nước Việt Nam hoàn toàn khác với cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cái đất nước mà có thời vợ tôi cả tin rằng nó chính là “đỉnh cao của lương tri và trí tuệ của loài người”.

Có lần vợ tôi bảo với tôi “Em không hiểu tại sao trong những hoàn cảnh đất nước chiến tranh đau thương như thế, đất nước mình lại có thể có những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật bất hủ. Khi đọc những tác phẩm đó hay khi lắng nghe những bản tình ca trước năm 1975, em có thể thấy rằng tâm hồn con người lúc đó mượt mà, nhân hậu, lãng mạn và cuộc sống lúc đó sao vẫn tràn đầy hy vọng mặc dù chiến tranh khốc liệt. Mà sao bây giờ không thể tìm thấy những điều đó trong xã hội Việt Nam ngày hôm nay?”


Tôi không biết phải trả lời vợ tôi làm sao. Nhưng tôi tin rằng khi vợ tôi đặt câu hỏi là cô nàng đã có câu trả lời. Ít ra vợ tôi cũng biết rằng đã có một nước Việt Nam hoàn toàn khác...
Một trong những yếu tố đóng góp vào sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu đó là sự thoái hóa về nhân tính và quan hệ giữa người với người. Các đảng Cộng sản tin rằng chính quyền phải giám sát và kiểm soát nhằm uốn nắn đạo đức của con người.

Điều này được thực hiện bằng cách siết chặt việc kiểm duyệt báo chí, can thiệp vào đời sống riêng tư của công dân và dùng biện pháp phê bình trước tập thể để “đập nát” những biểu hiện mà chính quyền cho là tha hóa hay thiếu đạo đức. Sự thể hiện nhân cách có một không hai của từng cá nhân bị chính quyền cho là chủ nghĩa cá nhân và là một biểu hiện của thiếu đạo đức dưới chế độ cộng sản.

Chủ nghĩa cá nhân vì thế phải bị chủ nghĩa tập thể tiêu diệt.
Tuy nhiên khi chủ nghĩa cá nhân bị tiêu diệt thì con người cũng cùng lúc chấm dứt khả năng tư duy độc lập và sáng tạo. Chủ nghĩa tập thể tập trung quyền lực quản lý và kiểm soát vào một thiểu số quyền lực. Do bản chất tự tôn của con người, thiểu số quyền lực này áp đặt suy nghĩ, ý muốn, tư tưởng của mình lên xã hội, tự cho rằng cách hành xử và suy nghỉ của họ là chuẩn mực đạo đức cho tất cả mọi người khác.

Chủ nghĩa tập thể hướng “tình yêu” của con người trong xã hội vào tập thể. Chính vì thế con người sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa không hướng cảm xúc của mình vào những cá nhân chung quanh, cuối cùng dẫn đến sự lạnh lùng, vô cảm trước nỗi đau của đồng loại. Cái chết của một cá nhân, hay số phận bi thảm của một con người không có ý nghĩa gì đối với vận mệnh và tương lai chung của số đông. Sự hy sinh của một cá nhân cho lợi ích chung là vấn đề có tính đạo đức căn bản của xã hội xã hội chủ nghĩa. Vấn đề là không phải bao giờ cá nhân cũng bị hy sinh cho lợi ích chung của toàn xã hội.

Đời sống tinh thần của một xã hội chỉ có thể phong phú, đa dạng nếu sự khác biệt của từng cá nhân được công nhận, được trân trọng và sự sáng tạo của từng cá nhân được khuyến khích. Bên cạnh chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa thực dụng của những người cộng sản đã nhìn đạo đức dưới khía cạnh đạo đức phải phục vụ một mục đích cụ thể của xã hội trong từng giai đoạn nhất định.

Một phụ nữ Trung Quốc tên là Su Xiuwen, trong cơn giận dữ vì chiếc xe của mình bị đụng trầy sơn, đã lái chiếc xe lao thẳng vào một đám đông, giết chết một người và làm bị thương 12 người. Ông chồng của bà này, một đảng viên có máu mặt, tuyên bố ngay rằng: “Chuyện nhỏ, vứt ra đó 1 triệu đồng là êm hết”. Cha chồng của bà Su, một đảng viên cao cấp đứng hàng thứ 3 trong hệ thống đảng tại địa phương đã làm hết sức mình để bà Su không bị kêu án sát nhân.


Tại Việt Nam, một nạn nhân bị tai nạn giao thông chưa biết chết sống thế nào không có ai đến giúp đỡ. Trong khi đó những kẻ khác tìm cách cướp tài sản của nạn nhân đang nằm trên vũng máu. Giới tài xế tại Việt Nam kháo với nhau rằng nếu đã đụng ai thì đụng cho chết hẳn đi chứ đừng để nạn nhân sống để khai trình bằng chứng và đòi bồi thường!

Sống trong những xã hội như tại Trung Quốc và Việt Nam người ta có thể chứng kiến sự tha hóa của đạo đức ngày càng trở nên trầm trọng.


Sự vô cảm của con người dưới chế độ cộng sản đã đến mức cực đoan khi chỉ cần một câu nói, một nụ cười, một cái đụng chạm trong giao thông cũng có thể làm cho người ta đâm chém nhau đến chết. Người ta cũng thấy rõ đây là những biểu hiện của một xã hội “bức xúc” không có chỗ để trút đi những uất ức, nặng nề của một đời sống bị kiềm kẹp.


Tình trạng tẩm hóa chất độc vào thực phẩm tiêu thụ trên thị trường, quan chức đảng viên vi phạm nhân quyền, đất đai của nông dân bị cướp trắng trợn, những vụ sát nhân tàn bạo vượt mức tưởng tượng của con người, đều phản ảnh trình trạng coi tính mạng và phúc lợi của cá nhân người khác không có tí giá trị gì. Khi đảng bất ngờ phát động khẩu hiệu “làm giàu là vinh quang”, mọi người hiểu rằng có thể làm bất cứ điều gì để kiếm tiền, kiếm thật nhiều tiền để được xã hội tôn vinh.


Li Qiming một sinh viên 22 tuổi của đại học Hebei, Trung Quốc lái xe khi đang say rượu và tông chết 1 sinh viên, làm bị thương một sinh viên khác. Li chẳng hề nhìn hai nạn nhân một lần và tỉnh bơ lái xe đến cư xá thăm người yêu.

Khi cảnh sát và mọi người đến lập biên bản Li hăm dọa: “Bố thằng nào dám bắt tao. Bố tao là Li Gang đó chúng mày có biết không?” Li Gang là một cán bộ công an cao cấp tại địa phương. Li Qiming hiểu rằng cái thẻ đảng của bố hắn chính là giấy bảo chứng cho hắn có thể làm bất cứ điều gì mà không phải bị trừng phạt.


Ở Việt Nam không hề thiếu những Li Qiming và Li Gang. Những đứa trẻ lớn lên được giáo dục về sự ưu tú của các đảng viên, tận mắt chứng kiến bố mẹ lợi dụng chức quyền để ăn hối lộ, để tham nhũng, để nói dối; tin rằng những chuyện như thế là bình thường, là “đạo đức xã hội chủ nghĩa”, là mọi việc đều có thể mua được bằng quyền lực, bằng tiền bạc, là chỉ có mình mới quan trọng còn tất cả mọi người khác đều không có giá trị gì!

Sự tha hóa đạo đức của con người dưới chế độ cộng sản một mặt dẫn đến tình trạng trì trệ về sáng tạo trên các phương diện tri thức, nghệ thuật đã đành, mà còn là động lực chính đáng sau những tội ác kinh hoàng như pha bột hóa chất độc vào sữa trẻ em, dùng hóa chất độc để “sáng tạo” thịt heo thối thành thịt bò nhập từ Úc, Nhật, Hoa Kỳ.

Sự đề cao chủ nghĩa tập thể, càn quét chủ nghĩa cá nhân đã để lại hậu quả là con người sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa tin rằng chính tập thể, chính xã hội là người phải chịu trách nhiệm chứ mỗi cá nhân không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào về hành vi của mình.


Sự tha hóa đạo đức tại những quốc gia theo Khổng Giáo như Trung Quốc đã lên đến cực điểm khi mọi người không cười nhạo nếu một cô gái làm điếm, nhưng sẽ cười vào mặt cô ta nếu cô ta không làm ra tiền.


Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa hay cộng sản, tư cách đạo dức của đảng viên được coi là chuẩn mực, hình mẫu để dân chúng theo gương. Cho nên không lấy gì làm lạ về sự vô cảm của dân chúng tại Trung Quốc và Việt Nam, coi tham ô hối lộ là cách kiếm tiền đương nhiên, coi sự lừa trên gạt dưới là tiêu chuẩn giao tiếp, coi pháp luật chỉ là đồ trang sức cho chế độ, coi các bản án hình sự như món hàng mua bán.


Chính những đảng viên mà đảng Cộng sản kêu gọi mọi người trong xã hội noi gương chính là nguồn gốc của sự tha hóa nhân cách và trí tuệ của con người dưới các chế độ này.

Cựu chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã từng nói rằng sở dĩ chế độ Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch sụp đổ vì các quan chức của chế độ này tha hóa quá sức. Người dân Trung Quốc vì thế đã quay sang ủng hộ Cộng sản. Ông Hồ Cẩm Đào kêu gọi tiêu diệt tham nhũng, cũng cố tư cách đạo đức đảng viên, để chấm dứt sự tha hóa về đạo đức của xã hội và giữ vững vị trí lãnh đạo của đảng Cộng sản.


Các vị lãnh đạo đảng Cộng sản tại Việt Nam cũng đang kêu gào với những lời lẽ tương tự. Tuy nhiên lời kêu gọi của những quý vị này không khác gì những con chó sủa trăng.

Ls Lê Đức Minh
 ____________________________________________________________
Tài liệu tham khảo
BBC Online, Power, corruption and the Communists
The Secret Writers, Corruption of Moral in China Communist
Rogue Goverrnment, Collectivism is Moral Decay, 11/11/2010
RT Question More,Communists urge revival of moral values in Russia, 25/01/20113
Pope Pointedly Blames Castro's Communism For Cuba's Moral Decay, Chicago Tribune, 23/01/1998

HÀ NÔI THẬP NIÊN 1970

Những bức ảnh màu còn như mới về cuộc sống của người dân miền Bắc Việt Nam những năm 1973 – 1974, đặc biệt là những hình ảnh của người dân Hà Nội sau trận “Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn in đậm trong tâm trí của nhiều người…
Phố cổ Hà Nội 1974
Phố cổ Hà Nội 1974
Hà Nội tháng 3/1973. Cảnh hoang tàn tại phố Khâm Thiên.
Hà Nội tháng 3/1973. Cảnh hoang tàn tại phố Khâm Thiên.
Xác chiếc máy bay B-52 của không quân Mỹ tại một ao làng ở làng Ngọc Hà, Hà Nội trong trận Điện Biên Phủ trên không cuối năm 1972
Xác chiếc máy bay B-52 của không quân Mỹ tại một ao làng ở làng Ngọc Hà, Hà Nội trong trận Điện Biên Phủ trên không cuối năm 1972
Hà Nội 1973. Lá cờ đỏ sao vàng tại một tòa nhà bị bom Mỹ phá sập năm 1972 trong chiến dịch "Bom Giáng sinh" của quân Mỹ.
Hà Nội 1973. Lá cờ đỏ sao vàng tại một tòa nhà bị bom Mỹ phá sập năm 1972 trong chiến dịch "Bom Giáng sinh" của quân Mỹ.
Hà Nội 3/1973. Hai bé gái với khăn quàng đỏ và mũ đội trong nghi thức của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Hà Nội 3/1973. Hai bé gái với khăn quàng đỏ và mũ đội trong nghi thức của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Miền Bắc Việt Nam 1/3/1973. Thanh niên xung phong sửa chữa đoạn đường cạnh một đường tàu Bắc - Nam.
Miền Bắc Việt Nam 1/3/1973. Thanh niên xung phong sửa chữa đoạn đường cạnh một đường tàu Bắc - Nam.
Hà Nội 1973. Nghi thức Đội của các Đội viên Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong sân trường trong lễ duyệt nghi thức Đội
Hà Nội 1973. Nghi thức Đội của các Đội viên Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong sân trường trong lễ duyệt nghi thức Đội
Một người dân Việt Nam vận chuyển gạo bằng loại xe cải tiến (xe thồ) trên đường Quốc lộ 1, con đường dài 1.500km được người Pháp xây dựng và trở thành con đường chiến lược trong chiến tranh Việt Nam.
Một người dân Việt Nam vận chuyển gạo bằng loại xe cải tiến (xe thồ) trên đường Quốc lộ 1, con đường dài 1.500km được người Pháp xây dựng và trở thành con đường chiến lược trong chiến tranh Việt Nam.
    Hà Nội 1973. Người dân vận chuyển hàng hóa bằng xe cải tiến trên đường Quốc lộ
Hà Nội 1973. Người dân vận chuyển hàng hóa bằng xe cải tiến trên đường Quốc lộ
Hà Nội năm 1972, trước Ngân hàng Nhà nước trên đường Lý Thái Tổ.
Hà Nội năm 1972, trước Ngân hàng Nhà nước trên đường Lý Thái Tổ.
Miền Bắc Việt Nam 3/1973. Một xe chở tên lửa trên Quốc lộ 1.
Miền Bắc Việt Nam 3/1973. Một xe chở tên lửa trên Quốc lộ 1.
Hà Nội 1/3/1973. Người dân Hà Nội với phương tiện xe đạp trên đường phố.
Hà Nội 1/3/1973. Người dân Hà Nội với phương tiện xe đạp trên đường phố.
Vinh, Nghệ An 1/3/1973. Người dân vận chuyển những bao tải gạo bằng xe cải tiến trên đường Quốc lộ
Vinh, Nghệ An 1/3/1973. Người dân vận chuyển những bao tải gạo bằng xe cải tiến trên đường Quốc lộ
Miền Bắc Việt Nam 1973. Cuộc sống của người dân trong những ngày sắp tết
Miền Bắc Việt Nam 1973. Cuộc sống của người dân trong những ngày sắp tết
Hà Nội 1974. Đài phun nước tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục ngay trước tòa nhà Hàm Cá Mập cạnh Hồ Gươm ngày nay.
Hà Nội 1974. Đài phun nước tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục ngay trước tòa nhà Hàm Cá Mập cạnh Hồ Gươm ngày nay.
Hà Nội 1974. Mùa thu bên Hồ gươm.
Hà Nội 1974. Mùa thu bên Hồ gươm.

SƠN TRUNG * DÂN TỘC VIỆT NAM HAI LẦN BỊ LƯỜNG GẠT


DÂN TỘC VIỆT NAM 
HAI LẦN BỊ LƯỜNG GẠT
SƠN TRUNG


Trong lịch sử hiện đại, dân tộc Việt Nam hai lần bị lường gạt. Lần thứ nhất là tập đoàn Hồ chí Minh, lần thứ hai là tập đoàn Ngô Đình Diệm. Hai  bọn  này đã dùng nhãn hiệu tự do, dân chủ, nhưng thực sự họ chỉ là bọn gian manh xảo quyệt, buôn dân bán nước, không kể gì đến vận mệnh đất nước, tưong lai dân tộc và đời sống của nhân dân Việt Nam.
I. TẬP ĐOÀN CỘNG SẢN
Tập đoàn cộng sản Việt Nam tuyên bố giương hai ngọn cờ giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân và gỉải phóng giai cấp vô sản thoát cảnh nghèo khổ và bị bóc lột.Nay ta thử xét thành quả của họ trong hai mục tiêu trên.
 1. GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Về mục tiêu giải phóng dân tộc, họ chỉ là kẻ thay chủ Pháp Mỹ bằng chủ Nga Hoa. Hồ Chí Minh và bè lũ cộng sản thực tế là những kẻ nô lệ của cộng sản quốc tế. Ngày nay, Liên xô đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, cònTrung quốc nghiễm nhiên trở thành đế quốc mới.

Trước đây, Việt cộng đã nhận viện trợ của Trung Cộng, dẫn đến việc Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng công nhận Trường Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền Trung Cộng. Từ 1954, quân Trung Cộng viện cớ lập các trung tâm huấn luyện cho Việt Cộng, họ đã chiếm đất đại biên giới. Vì cần Trung Cộng viện trợ, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản im lặng, mặc cho Trung Cộng xâm lược.


Sau trận chiến Hoa Việt năm 1979, Trung Cộng chiếm thêm đất đai biên giới. Sau mấy lần đo đac, năm 1980 ,Trung Cộng đã chiếm Nam Quan, Bản Dốc.. Từ năm 2000, Trung Cộng vẽ bản đồ lưỡi bò và tuyên bố Biển Đông thuộc chủ quyền họ. VIệt Nam và các nước ở biển Đông bị Trung Cộng đe dọa xâm lăng. Năm 1989, các nước Đông Âu vùng lên cởi bỏ ách cộng sản. Vì sợ làn sóng cách mạng tràn qua Á châu, năm 1990, Nguyễn Văn Linh qua Trung Quốc xin bảo hộ.


Như vậy trước sau Việt Nam bị Trung Cộng xâm lấn biên cương và hải đảo. Chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa thực dân, và Việt Nam trở thành nô lệ của Trung Quốc, Hồ Chì Minh và đảng cộng sản đã lộ rõ bộ mặt bán nước. Nếu nhân dân ta không cương quyết chống Trung Cộng, dần dần Việt Nam lại trở về thời kỳ Bắc thuộc.

II. GIẢI PHÓNG GIAI CẤP


Về mục tiêu giải phóng giai cấp thì khắp nơi cộng sản đã thất bại. Mác tuyên bố thiết lập xã hội chủ nghĩa không giai cấp, không còn chủ và thợ, không còn giai cấp cai trị và bị trị, nhưng thực tế trong chế độ cộng sản có nhiều giai cấp, nhất là giai cấp mới nay đã trở thành tư bản đỏ với bao đặc quyền đặc lợi.


Hồi Mác còn sống đã tuyên bố xanh dờn rằng giai cấp tư bản đang dẫy chết và giai cấp vô sản sẽ là kẻ đào mồ chôn giai cấp tư bản. Mác còn bảo chủ nghĩa xã hội sẽ gấp năm gấp mười tư bản( cũng như tư bản đã gấp năm gấp mười phong kiến), nhưng than ôi, chế độ cộng sản chỉ gây chiến tranh và nghèo đói và là một chủ nghĩa độc tài vô nhân đạo. Vậy thì rõ ràng là Mác là kẻ hoang tưởng và không tưởng nếu không là kẻ gian giảo, lường gạt thiên hạ.


Trong hành động, cộng sản lại càng tỏ ra gian manh xảo quyệt. Sau 1954, cộng sản cải cách ruộng đất, chia ruộng cho dân nghèo nhưng được vài tháng, hay một năm là họ thu hồi đắt đai, bắt nông dân phải làm nông nô trong các hợp tác xã. Họ tuyên bố sẽ giải phóng nông dân khỏi ách trâu cày nhưng ngoài bắc từ 1955 cho tới nay, nông dân vẫn phải còng lưng cày thay trâu. Lần nữa, chúng ta thấy cộng sản chỉ là kẻ lừa bịp, dùng chiêu bài chia ruộng đất, của cải cho dân nghèo để họ tin mà theo mình.


Mỗi nông dân xuất sắc trước đây làm ở HTX mỗi ngày chỉ đuợc 1 ký lúa. Ngày nay nông dân làm khoán thực ra cũng chỉ là kiếp làm đầy tớ nộp tô nộp tức chẳng khác gì nông dân nghèo trước 1945. Sau 1975, cộng sản tuyên bố từ nay dân Việt Nam sẽ được các nước anh em tái thiết, nhân dân ta ai cũng sẽ có nhà mới, mỗi nhà đều có TV, máy lạnh, quạt máy...nhưng cho đến nay nhân dân ta nghèo vẫn hoàn nghèo, chỉ có bọn cán bộ tỉnh, thành phố và truơng ương là béo bở. Rõ ràng cộng sản vẫn gian giảo, xảo quyệt, hứa hẹn hão huyền , cho dân chúng đi tàu bay giấy.


Tại Liên Xô, TRung Quốc, kinh tế chỉ huy đã đem đến hàng chục triêu người chết đói, nhân dân khốn khổ. Vì vậy, Đặng Tiểu BÌnh đã từ bỏ kinh tế chỉ huy mà thực hiện kinh tế thị trường, giao thương cùng tư bản. Trung Cộng, Việt Cộng nay theo kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ lá cờ cộng sản, duy trì đảng cộng sản để kìm kẹp nhân dân, và một số cộng sản gộc và gia đình đã thành tư bản đỏ, trong khi nông dân bị cuớp nhà cướp đất và chịu bao sư bất công, bóc lột nặng nề. Toàn dân mất tự do và vô sản trước sau vẫn là giai cấp bị bóc lột và bị trị.


Ngày nay cộng sản chủ trương đổi mới, vì đổi mới kinh tế sẽ đem lại lợi nhuận cho chúng về nhiều mặt. Ngày nay, chúng đã làm chủ nhiều công ty, nhiều ngân hàng. Con cái chúng sang Âu Mỹ du học, và chúng đã tẩu tán tài sản ra ngoại quốc để phòng khi hữu sự. Chúng bán đất đai nông dân để lấy tiền bỏ túi trong khi nông dân thiếu đất canh tác. Các cuộc nổi loạn ở Thái Bình, Hà Đông đã bị dẹp yên và những chiến sĩ cách mạng đã chết hoặc ngắc ngoải trong lao tù. Bao giờ những chiến sĩ này đưọc thấy ánh mặt trời tự do, dân chủ thực sự?


Tóm lại, cộng sản đã hoàn toàn lừa đảo nhân dân thế giới và nhân dân Việt Nam. Trong khi dân chúng ngày càng nghèo khổ, bọn cộng sản gộc ngày càng giàu sang phú quý, chúng đã cho ta thấy tất cả những lời hứa hẹn của chúng về độc lập, tự do, hạnh phúc, công bằng, bình đẳng chỉ là những lời phỉnh phờ, lường gạt. Tại Việt Nam, cộng sản đã gây nhiều tội ác qua các vụ cộng sản giết hại các đảng viên các đảng phái quốc gia, các tôn giáo và dân chúng với tội danh mơ hồ như phản động, làm tay sai cho giặc.Chúng đã gây trọng tội trong CCRĐ, Chỉnh Đốn đảng, Cải tạo công thương nghiệp, Nhân Văn Giai Phẩm. Chúng cướp tự do dân chủ của nhân dân, thi hành chính sách độc tài chuyên chế. Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản lãnh nhiệm vụ tiền phong trong chủ nghĩa đế quốc của Trung Cộng. Bọn họ gây chiến tranh nhằm tiêu diệt nhân dân Viêt Nam để Việt Nam trở thành núi rừng hoang vu cho Trung Cộng xâm chiếm.


Chủ nghĩa cộng sản đem lại nghèo đói và đau khổ cho nhân dân. Trong lịch sử thế giới, chủ nghĩa cộng sản tàn ác nhất, họ đã giết khoảng 150 triệu người cho thỏa tính gian tham và tàn ác của họ.


II. TẬP ĐOÀN NGÔ ĐÌNH DIỆM


Tập đoàn Ngô Đình Diệm đã tạo cho họ một nhãn hiệu chống cộng cho nên họ đã được Mỹ trong giai đoạn chống cộng ủng hộ họ. Nhìn về bề ngoài, gia đình Ngô Đình Diệm quả xứng đáng nhận lãnh vai trò chống cộng ở xứ này bởi các lý do sau:
a. Gia đình Ngô Đình Diệm theo Thiên Chúa giáo là một tôn giáo đã bị Cộng Sản coi là kẻ thù số một, rất nhiều tín đồ Thiên chúa giáo đã bị cộng sản giết hại.Vả lại, khi đến Việt Nam, người Pháp cũng như người Mỹ thường muốn dùng những người Thiên chúa giáo là những người cùng tín ngưỡng với họ.
b. Gia đình Ngô Đình Diệm là kẻ thù của cộng sản vì cộng sản đã sát hại cha và anh của Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả , và Ngô Đình Khôi.
c. Người Mỹ thích dân chủ, ghét quân chủ . Sau thắng trận đệ nhị thế chiến, Mỹ tính bỏ chế độ quân chủ tại Nhật nếu không có sự can thiệp của đại sứ Mỹ tại Nhật .
Vì ghét quân chủ cho nên Mỹ ủng hộ Khomeni ở Iran, kết quả ông dân chủ này lại quá độc tài dã man hơn ông quân chủ! Vì ghét quân chủ cho nên Mỹ không ưa Bảo Đại, muốn đưa một nhân vật khác, và họ đã chọn Ngô Đình Diệm là một kẻ đã sống lâu năm tại Mỹ, được thế lực tôn giáo tại Mỹ và Vatican ủng hộ. Vì Pháp đã rút lui và người Mỹ lại muốn Ngô Đình Diệm thay thế mình, Bảo Đại thấy mình hoàn toàn mất chỗ đứng. Nếu trái ý họ thì một là ông sẽ bị giết, hai là ông sẽ bị Ngô Đình Nhu đảo chánh! Đằng nào thì cũng mất hết cho nên Bảo Đại đành nhượng bộ, bằng lòng cử Ngô Đình Diệm làm thủ tướng, để từ đó Ngô Đình Diệm cướp chính quyền.
Bọn Cần Lao đã tô điểm cho tập đoàn Ngô Đình Diệm, tạo ra những huyền thoại nào là yêu nước, thương dân, và chống cộng, chống thực dân triệt để( bài phong, phản thực, chống cộng).
Khi lên cầm quyền, Ngô Đình Diệm đã đội cái lốt chống cộng và đạo đức yêu nước thương dân cho nên nhiều người trong đó có Mỹ đã lầm tưởng gia đình họ Ngô là tốt. Đó chỉ là bề ngoài. Bề trong , họ Ngô chi vì quyền lợi cá nhân, quyền lợi phe nhóm mà thôi. Họ cần ông Diệm làm tổng thống để họ có cơ hội bóc lột, đàn áp nhân dân Viêt Nam và ăn chận viện trợ Mỹ. Họ không quan tâm chút xíu nào đến quốc gia dân tộc, họ chỉ vì cá nhân họ , và vì phe nhóm họ. Tự do, dân chủ, chống cộng chỉ lằ nhãn hiệu dán ở bên ngoài. Họ bất chấp thủ đoạn, họ đã làm lợi cho cộng sản và họ đã bắt tay với cộng sản ngay từ buổi đầu.
Đứng về phương diện chính trị nhân bản , đạo đức tôn giáo và chính nghĩa quốc gia nhiều tài liệu đã phê phán. Nay chúng ta thử xem lại một vài điểm quan trọng để rút bài học lịch sử.

1. CHÍNH SÁCH BẠO NGƯỢC PHI NHÂN

Sau 1954, đất nước ta tạm ngưng chiến tranh, đáng lẽ Ngô Đình Diệm nên thực thi nền chính trị nhân bản, đem lại tự do, dân chủ cho nhân dân thì lại thi hành chính sách tàn bạo, phi nghĩa.


Khi lên cầm quyền, tập đoàn Ngô Đình Diệm chỉ nghĩ đến việc củng cố quyền lực mà không nghĩ đến tương lai đất nước. Những ngày đầu tiên, họ Ngô đã bắt bớ, giết hại những người không thuộc phe đảng của mình, nhất là những người quốc gia đang làm việc cho chính quyền quốc gia thời bấy giờ bởi vì họ ra sức triệt hạ vây cánh Bảo Đại. Họ khủng bố các tôn giáo, đảng phái vì họ bắt chước cộng sản, muốn chỉ một mình Ngô Đình Diệm làm chính trị, một mình Ngô Đình Diệm được tôn sùng và một mình Thiên chúa giáo ngự trị ở xứ này. Gia đình họ Ngô xem đất nước này tài sản của họ, họ mặc sức chia chác, chiếm đoạt. Ngô Đình Cẩn thao túng miền Trung như là một vương quốc. Ngô Đình Nhu quản lý thanh niên,và vợ y cai trị phụ nữ, và Ngô Đình Thục cai quản tôn giáo. Họ coi khinh luật pháp. Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân không có chức vụ chánh thức trong guồng máy quốc gia thế mà nắm trọn mọi quyền hành khiến cho tướng lãnh và trí thức phải sụp lạy, tôn thờ. Ngoài Ngô Đình Diệm là tổng thống, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Nhu đều có công an mật vụ riêng, chúng muốn bắt ai, giết ai là tùy ý.


Ngô Đình Cẩn đã vì đãu thầu thua mà bắt nhà thầu Nguyễn Đắc Phương tra tấn đến chết, đoạn quăng xác xuống đất mà bảo là tự tử! Ngô Đình Cẩn đã hãm hại Nguyễn Văn Yến để chiếm khách sạn Morin ở Huế. Ngoài ra những linh mục thuộc tập đoàn Ngô Đình Diệm đã ra sức thao túng, bóc lột, cướp tài sản dân chúng như linh mục Đinh Xuân Hải ở Sàigon. Có những linh mục bắt các quận trưởng phải nộp tiền bạc, để làm cái này, làm cái kia, nếu ai không tuân lệnh, chúng sẽ báo cáo xấu lên tổng thống mà bị mất chức hoặc bị ngồi tù. Vì muốn Ngô Đình Thục đuợc làm hồng y, bọn Ngô Đình Diệm đã dùng mọi thủ đoạn để gia tăng giáo dân trong đó có việc cưỡng bách sĩ quan, binh sĩ và dân chúng theo Thiên Chúa giáo, ai không theo bị chúng vu khống là cộng sản rồi bắt bỏ tù. Họ khủng bố Cao Đài , Hòa Hảo, tận diệt Quốc dân đảng và Đại Việt. Nguyễn Chánh Thi cũng tố cáo các ông Quận phá đình chùa, cấm theo đạo ông bà, bắt theo đạo Thiên chúa.

Nguyễn Chánh Thi đã nhận định rất đúng về sự lộng hành của một số linh mục thời Diệm Nhu:

"Cứ hầu như mỗi một tỉnh của miền Nam, nhất là tại Miền Trung, cứ mỗi một tỉnh có một linh mục có quyền sinh sát trong tay mà chả ai đả động đến, vì đằng sau linh mục là sức mạnh chánh quyền. Họ còn lộng hành hơn là nhận đơn kiện cáo của con chiên, rồi phê vào đơn, đưa đến tỉnh trưởng hay quận trưởng, bảo phải xử theo ý của linh mục, không thì mất chức. Các ông linh mục ở dưới chế độ Ngô Đình Diệm, phần đông sống như các ông vua của một xứ xưa kia! "(1).


Tài liệu của Nguyễn Mạnh Quang rất đầy đủ về tội ác của họ Ngô, gồm có những điểm chánh yếu như:
-Dân chúng chỉ biết nghiến răng ngậm miệng chịu đựng vì kêu trời nào có thấu. Ngay cả Phật giáo bị chính phủ Sài gòn bãi bỏ ngày nghỉ lễ Phật Đản trong chương trình nghỉ lễ hàng năm để quân nhân công chức không thể đi chùa, đã kêu ca với không biết bao nhiêu đơn từ mà vẫn không được hồi âm huống gì dân đen yếu thế cô. Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif">Cái biểu tượng uy quyền khiếp đảm nhất của Ngô Đình Cẩn và cũng là khí giới tàn độc nhất để Cẩn xây dựng bạo lực và quyền uy là "Ban Công tác miền Trung" (tức là Ban Mật Vụ Lưu Động), một tổ chức lấy bạo lực vừa làm cứu cánh vừa làm phương tiện, một cách nôm na là người khác có khổ đau thì mình mới khoái lạc. Ban công tác miền Trung như một đoàn hung thần bủa màng lưới sắt xuống đời sống của Quân Dân Chính miền Trung mà cuối màng lưới, ở cái nút khoá oan nghiệt là trại giam người có tên là "Chín Hầm", một trại giam tuy lộ liễu hơn nhưng lại khủng khiếp hơn trại P42 ở Sở Thú Sài gòn của Ngô Đình Nhu. Sau này, khi Ngô Đình Cẩn bị xử tử, trại Chín Hầm, trước khi bị phá huỷ, trở thành một trung tâm thăm viếng của dân Thừa Thiên để dặn nhau ghi nhớ đời đời tội ác của nhà Ngô (3).


Chúa dạy bác ái, Liên hiệp quốc đã ra Tuyên ngôn Nhân quyền, trong đó có quyền tự do tôn giáo, không ai được cưỡng bách người khác theo tôn giáo của mình. Cách mạng Pháp đã nhận thấy sự dã man của Thiên chúa giáo thời Trung Cổ nên đã  đưa thần quyền ra khỏi thế quyền.
Tình hình Việt Nam bị cộng sản xâm lược, một chính phủ quốc gia chánh nghĩa phải biết yêu dân, thực hiện đoàn kết dân tộc, không kỳ thị giai cấp, địa phương, tôn giáo, chủng tộc...
Già đình Ngô Đình Diệm theo chính sách tàn bạo là vì quyền lợi cá nhân, coi khinh quyền lợi tổ quốc. Hành động của họ chẳng khác gì hành động của bọn lưu manh ngoài chợ, thấy vàng bạc, cá thịt là cướp giật, coi thường luân lý, pháp luật và dư luận quần chúng trong nước và quốc tế . Làm như thế là họ cố tình bôi xấu chế độ, làm dân chúng bất mãn, họ làm cho cộng sản thêm vây cánh, thêm lợi thế chính trị, và rõ ràng là đẩy dân chúng chạy về cộng sản. Việc tập đoàn Ngô Đình Diệm khủng bố dân chúng và các tôn giáo, đảng phái chỉ làm cho nước mất về tay cộng sản như lời của Võ Văn Hải, chánh văn phòng đặc biệt của ông Diệm nói với Nguyễn Chánh Thi trước 1960:Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn thì chẳng mấy chốc Việt Cộng sẽ thay thế ông Diệm trong dinh Độc lập này (4).
Và sau này, ngày 7-7-1963, nhà văn Nhất Linh đã viết trong di chúc của ông để kết tội và cảnh cáo Ngô Đình Diệm và bè lũ: Sự bắt bớ và xử tử tất cả các phần tử đối lập Quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất vào tay cộng sản (5).

2. BẮT TAY VỚI CỘNG SẢN

Rất nhiều tài liệu đã nói đến việc này.Ngô Đình Diệm dùng chiêu bài chống cộng nhưng thực tế, Ngô Đình Diệm bắt tay với cộng sản. Việc Ngô Đình Cẩn bán gạo cho cộng sản không những vì tham lợi mà còn có mục đich bắt tay với cộng sản để cầu lợi mà bán nước, phản bội quốc gia.

1. VIỆC NGÔ ĐÌNH CẨN BÁN GẠO CHO CỘNG SẢN NĂM 1956


Vì tiền bạc, vì mưu chiếm lợi ích cá nhân, gia đình Ngô Đình Diệm thủơ đầu tiên đã bắt tay với cộng sản. Đó là việc Ngô Đình Cẩn và bà Cả Lễ đã bán hàng tấn gạo cho cộng sản năm 1956, Mỹ phát giác nhưng nhờ thế lực Ngô Đình Diệm mà Ngô Đình Cẩn trắng án, trong khi phó tỉnh trưởng Quảng Nam là Bùi Quang Sơn làm vật tế thần, bộ trưởng kinh tế Trần Văn Mẽo và Ung Bảo Toàn bị đầy Côn Đảo đến 30-4-1963 mới được tự do (6) .


Điều đáng ghi nhận là, chính LM Trần Hữu Thanh, ngôn sứ “Chủ Nghĩa Nhân Vị”, một nhân vật thân cận của chế độ, cũng đã lên tiếng tố cáo các vụ tham nhũng, đặc biệt là vụ “Gạo miền Trung nầy”.(7)
Nguyễn Việt Nữ cũng nói đến vụ gạo miền Trung và viện dẩn tài liệu của Liên Thành và Nguyễn Lý Tưởng:


. Liên Thành cũng “tưởng nhớ” Linh Mục Trần Hữu Thanh và nhắc đến việc ông tố cáo Ngô Đình Cẩn bán gạo cho cộng sản:

Ngài là tiếng nói ngay thẳng trước những bất công của mọi chế dộ, là Tuyên úy Thanh niên Liên doàn Công Giáo Miền Trung (1945- 1946 dưới thời Việt Minh), chống tham nhũng (vụ gạo miền Trung) dưới thời TT Ngô Ðình Diệm,

Nguyễn Lý Tưởng trong bài- “Tưởng Nhớ LM GiuSê Trần Hữu Thanh cũnh nói đến vụ gạo Miền Trung: Ông Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn còn dính líu đến “vụ gạo Miền Trung” (đầu-cơ tích-trữ gạo, không phải chỉ để bán giá chợ đen, mà còn để tiếp-tế cho cộng-sản ngoài Bắc) (8)


Chính nhờ vụ này mà luật sư Lê Trọng Quát được bè lũ Ngô Đình Diệm ban ơn cho làm chân tay thân tín , đuợc ban cho nhiều ân huệ lớn lao.


2. VIỆC NGÔ ĐÌNH THỤC BẮT TAY VỚI VIỆT CỘNG


Việc tướng Nguyễn Chính Thi khám phá đường dây cộng sản với triều đình họ Ngô, việc họ Ngô tiếp tế thuốc men, lương thực cho cộng sản như hàng đống thuốc tây của các dược phòng bộ hạ Ngô Đình như bọn Trang Hai, La Thành...


Quyển hồi ký của Nguyễn Chánh Thi đã cho ta biết ông là một con người trung trực, yêu nước, có lập trường quốc gia thực sự vì khi ông bôn đào sang Cao Miên, dù khó khăn vẫn giữ lập trường quốc gia, không vì tức giận Ngô Đình Diệm mà chạy theo cộng sản như một số người khác. Điều quan trọng nhất là quyển này nói lên một sự thực quan trọng mà ít người quốc gia lưu tâm. Quyển hồi ký này cho ta biết lịch sử Việt Nam hiện đại mà trong đó tập đoàn Ngô Đình Diệm đã cấu kết với cộng sản, làm giàu trên xương máu quân đội và nhân dân Việt Nam. Bọn Ngô Đình Diệm dùng chiêu bài chống cộng để ăn tiền viện trợ Mỹ và ngồi trên đầu trên cổ nhân dân Việt Nam nhưng thực chất chúng nuôi chiến tranh, sống và làm giàu nhờ chiến tranh. Nói rõ hơn, tập đoàn Ngô Đình Diệm đã buôn bán với cộng sản, bắt tay với cộng sản, bọn họ không yêu nước Việt Nam mà yêu tiền bạc.


Trong khoảng 1958, mặt trận Giải phóng đã hoạt động mạnh mẽ. Ngô Đình Diệm cấm người vào rừng chặt cây đốn củi vì sợ họ liên lạc với cộng sản. Nhưng sự thực là họ giành độc quyền khai thác lâm sản cho Ngô Đình Thục. Làm sao Ngô Đình Thục có thể ra vào Long Khánh và các nơi núi rừng? Xin thưa là họ đã bắt tay với cộng sản! Làm sao một vị lãnh đạo Thiên Chúa giáo, một vị chống cộng, từng khởi xướng thuyết cần lao nhân vị. ..lại có thể làm ăn tại mật khu cộng sản? Chính là họ đã đem quốc gia trao đổi cho cộng sản để lấy tiền! Chúng ta cũng chẳng cần có trong tay một văn kiện mật, hay một băng cassette thu buổi mật đàm giữa tập đoàn họ Ngô với cộng sản mới hiểu biết việc này. Chỉ cần nhìn những đoàn xe chở gỗ từ Long Khánh chạy về sờ sờ giữa thủ đô Sài gòn là chúng ta biết có việc làm ăn, buôn bán giữa tập đoàn Ngô Đình Diệm mà đại diện là Sáu Tộ và cộng sản. Nguyễn Chánh Thi đã viết về việc này:

Riêng chúng tôi trong chiến dịch đốt nhập chiến khu D của Việt cộng, tuy kế hoạch đã thực hiện đúng mức trăm phần trăm, niềm vui của chúng tôi không được trọn vẹn. Vì ngay giữa trung tâm sào huyệt của đối phương, chúng tôi lại có thêm bằng chứng phản bội của lớp ngưòi cầm quyền. Trong các căn cứ của chúng, Việt cộng ăn thứ gạo hạng tốt, thắp đèn bằng dầu hôi và xăng, dùng một số xa xỉ phẩm nhập cảng như xà phòng thơm, thuốc đánh răng ngoại hóa, thuốc lá thơm Anh, Mỹ. Để ấn hành các tài liệu tuyên truyền, chúng dùng máy ronéo và có đủ các loại giấy tốt. Theo lời khai của các tù nhân, những thứ này đều do nhóm thợ rừng tiếp tế từ Biên Hòa lên. Những lúc cần, Việt cộng chỉ cần cải trang thành công nhân theo xe gỗ về tận Sài gon. Các xe này thường đưọc gọi là xe chở gỗ của Đức Cha, và các cơ quan kiểm soát không bao giờ dám đụng tới. Thế là công ty làm gỗ đã đem lại cho Đức Cha Ngô Đình Thục hàng tỷ bạc lãi. Các xe này đã chở luôn cả cộng sản về tận thủ đô để chúng gây ra cảnh máu đổ xương rơi trong đám quần chúng hiền lương vô tội (9)


Tiến sĩ Hoàng Ngọc Thành cũng xác nhận việc này. Ông viết:

"Tổng giám mục Ngô Đình Thục giao cho ngưòi tin cẩn là Sáu Tộ lo viêc khai thác ( gỗ rừng trong tỉnh Long Khánh và Biên Hòa). Sáu Tộ trả thuế cho cộng sản để được tự do khai thác và thâu lợi tức lớn. Sau khi đức cha Thục thuyên chuyển ra Huế làm tổng giám mục, bà Nhu tiếp tục việc này."(10)
Ông Ngô Đình Diệm yêu nước, gia đình Ngô Đình Diệm chống cộng là như thế đó! Chúng tôi trước đây cũng nghe tin rằng. trong khi hành quân vào mật khu cộng sản, quân ta thấy rõ từng kho thuốc men, dụng cụ y khoa của các nhà tư bản thuộc tập đoàn Ngô Đình Diệm như là Trang Hai, La Thành.. Làm sao cộng sản có cả những kho hàng lớn lao như thế nếu những nhà tư bản này không chở từng xe lên chiến khu cho Cộng sản?
Và chúng tôi trước đây cũng nghe tin rằng nhiều đơn vị hành quân trong rừng, nửa chừng đuợc lệnh bỏ lại vũ khí, đạn dược, xe tăng.. .Ai đã tiếp thu những thứ này? Tất nhiên là cộng sản. Họ Ngô tiếp tay cho cộng sản để cộng sản giết hại nhân dân ta, chiến sĩ ta.


3. DIỆM NHU THẢ CÁC YẾU NHÂN CỘNG SẢN.

+Tỉnh trưởng Nguyễn Trân thả Việt Cộng

Trúc Giang - trong bài Việt Cộng nằm vùng thời nào cũng có viết như sau:

Cuối năm 1957, dưới thời tỉnh trưởng Nguyễn Trân, một mẻ lưới của cảnh sát Định Tường tung ra, bắt giữ những ký giả đem về giam tại Mỷ Tho, gồm có những người nằm vùng trong những tờ báo như sau: Triệu Công Minh (báo Tiếng Dội), Lương Ngọc (Trời Nam), Nam Thanh (Lẻ Sống), Đồng Văn Nam, Phương Ngọc, Phan Ba (Buổi Sáng), Nguyễn Bảo Hoá (Ánh Sáng), vợ Nguyễn Bảo Hoá là dược sĩ Mã Thị Chu (Tiếng Chuông), LS Nguyễn Văn Diệp, đạo diễn Lê Dân, Mai Thế Đông (giám đốc cải lương).
Nguyễn Trân tổ chức tranh luận công khai tại rạp hát Viễn Trường, Mỷ Tho, nếu nhận CNCS là sai và ăn năn hối cải thì được thả ra. Sau khi được thả, toàn bộ dông tuốt vô bưng, xem như Nguyễn Trân thả cọp về rừng. (11)


Trong Ván Bài Lật Ngữa, Nguyễn Trương Thiên Lý tức Trần Bạch Đằng cũng nói dến việc Nguyễn Trân bày ra việc đấu lý mà thả Việt Cộng:

Vừa đặt chân đến Mỹ Tho, Trân lập tức thực hiện một pha ngoạn mục: tổ chức đấu lý giữa một số cán bộ cộng sản bị bắt, 14 Việt Cộng đưa trong khám ra tranh luận với tỉnh trưởng trước 2.000 người. Kể ra đó là một sáng kiến có giá trị nếu những người bị bắt không phải trải qua hằng tháng trời lấy khẩu cung cực kỳ thô bạo ở ty cảnh sát. Sáng kiến mau chóng biến thành màn dàn dựng và Nguyễn Trân, đạo diễn kiêm diễn viên. Báo chí tường thuật từng câu đối đáp và ai cũng biết kết quả: Cộng sản không có chính nghĩa. (12)


Phan Tùng Sơn, trong báo Quân đội Nhân Dân thuật lời Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm (Nguyễn Duy Hoàng, bí danh Sáu Trí )-về cuộc đấu lý này :

Sáng hôm sau cuộc tranh luận được bắt đầu trước hàng ngàn người, mấy chục ký giả, quay phim, nhiếp ảnh và rất nhiều người từ Sài Gòn về dự. Loa phóng thanh phát oang oang. Nguyễn Trân hí hửng mở màn bài diễn thuyết của mình. Cứ sau mỗi phát biểu xuyên tạc của Trân lại có một ký giả phát biểu phản bác lại lập luận của hắn. Dần dần đuối lý, Trân nổi giận không còn đếm xỉa gì đến cái “bình đẳng, dân chủ” mà trước đó hắn đã nói, hắn chiếm luôn mi-crô rồi tuyên bố chấm dứt tranh luận. Hôm sau, một tờ báo ở Sài Gòn đăng bài với cái tít to tướng: “Tỉnh trưởng Nguyễn Trân bị thất bại thảm hại”. Trân bị một phen bẽ mặt. (13)..


Hoàng Hải Thủy nói rõ hơn việc Nguyễn Trân thả yếu nhân VC Trần Bach Đằng:

" Khoảng năm 1960 – tôi viết “khoảng năm” vì tôi không nhớ đúng năm, tôi viết “khoảng năm” để bạn đọc không chê tôi viết sai năm tháng — ông Nguyễn Trân, Tỉnh Trưởng Ðịnh Tường, bắt được một tổ Việt Cộng do tên Trần Bạch Ðằng cầm đầu. Tổ VC này tới 15, 16 người, trong số có hai người trong làng báo Sàu Gòn là Trần Chi Lăng và Văn Mạnh. Ðúng ra chỉ có Trần Chi Lăng là ký giả, Văn Mạnh là nhân viên trị sự toà báo Sàigonmới. Văn Mạnh là anh cháu họ của bà Bút Trà.Thay vì bắt được Việt Cộng, Công An Ðịnh Tường điều tra xong giải cả bọn lên Tổng Nha Cảnh Sát Công An Quốc Gia, ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Lương lại mở một cuộc gọi là “đấu lý ” với bọn Trần Bạch Ðằng. Cuộc “đấu lý” được tổ chức vào một sáng chủ nhật ở Rạp Hát trong thị xã Mỹ Tho. Vì anh cháu Văn Mạnh, bà Bút Trà xuống thị xã Mỹ Tho “xem” cuộc “đấu lý.” Bà đi xe hơi nhà báo với cô Kim Châu, con gái bà. Tôi – H2T — với tư cách phóng viên Nhật báo Sàigonmới – com-lê ca-vát – đi theo.Trên sân khấu rạp hát, một bên là cái bàn dài cho khoảng 12 Việt Cộng ngồi, trong số có anh Trần Chi Lăng và anh Văn Mạnh. VC Trần Bạch Ð8àng ngồi giữa bàn. Tất cả đền bận quần áo xi-vin, tức sơ-mi, quần Tây, Bên kia sân khấu là cái bàn nhỏ một mình ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Trân ngồi. Gọi là “đấu lý” nhưng tôi thấy chẳng có cái gì gọi là đấu, là lý. Ông Tỉnh nói thao thao bất tuyệt. Ông nói giọng người miền Trung, tôi nghe mà nhiều câu tôi chẳng hiểu ông nói gì. Ông nói cả giờ. Ông nói xong, Trần Bạch Ðằng nói vài câu. Tôi chẳng nhớ TB Ðằng nói cái gì vì một lẽ dễ hiểu là y nói vớ vẩn, nói cho có nói, y nói vì y không thể không nói.
Hôm nay, 50 năm sau buổi sáng tôi xem cuộc ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Trân đưa bọn VC Trần Bạch Ðằng ra đấu lý trước công chúng, tôi ghi nhận:
Trần Bạch Ðằng không nói lời nhận tội, không xin khoan hồng.
Trần Bạch Ðằng không hứa nếu được thả bọn y sẽ không theo Việt Cộng nữa.
Ðược thả, Trần Bạch Ðằng đi ngay ra khu Việt Cộng, ký giả Trần Chi Lăng trở về Sài Gòn, chị vợ trẻ của anh – chị này cũng là phóng viên tờ nhật báo nào tôi quên tên – có anh chồng mới, anh chồng mới của chị cũng là ký giả, anh ký giả này trẻ tuổi, chưa vợ con;  anh Trần Chi Lăng sống yên phận và yên lặng ở Sài Gòn. Sau Tháng Tư 1975 tôi nghe nói anh được cho làm chủ một cái gọi là Cưả Hàng Ăn Uống ở Sài Gòn. Tôi không có dịp nào đến Cửa Hàng Ăn Uống có anh làm “chủ nhiệm.”
Chuyện cuối cùng tôi được anh em kể về Trần Chi Lăng là anh về ở nhờ nhà một  ký gả bạn anh, anh làm cô con chủ nhà có bầu. Cô này bằng tuổi con gái anh, anh bằng tuổi ông bạn ký giả chủ nhà. Văn Mạnh trở về làm trong tòa báo Sàigònmới. Nhân viên toà báo chẳng ai théc méc về chuyện anh theo bọn VC. Sau khi báo Sàigònmới bị Nguyễn Khánh đóng cửa, tôi và Văn Mạnh không lần nào gặp lại nhau. (14)
 Trong  Hồi Ký, Đỗ Mậu cũng viết về Nguyễn Trân: "Vào Mỹ Tho. Ông ta lại mở chợ phiên luôn mấy tháng và bày trò đấu lý với những người cộng sản đang bị giam. (15)
 An Ninh và Quân đội ta hành quân bắt được nhiều cán bộ cộng sản cao cấp  nhưng Ngô Đình Diệm bày ra vụ Nguyễn Trân đấu lý với cộng sản rồi thả ra.Trong số này có Trần Bạch Đằng. Ai đời ông Tỉnh trưởng lại đấu lý với tù nhân rồi tự tiện thả ra? Làm quận trưởng, tỉnh trưởng phải biết đó  tội chết. Nguyễn Trân làm việc này là do lệnh Nhu Diệm. Hai ông Diệm Nhu muốn bắt tay với Việt Cộng nên thả Việt Cộng gộc ra nên bày ra trò đấu lý. Cái trò giả dối này làm sao qua mắt của các thức giả!
Việc ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Trân đưa bọn VC Trần Bạch Ðằng ra “đấu lý” trước công chúng là việc làm ngớ ngẩn. Giống như chuyện cổ tích, ông quan ra câu đối cho học sinh, học sinh đối được thì được thưởng tiền.  Ở đây cái  mục đich  nếu cộng sản công nhận là sai và ăn năn hối cải thì được thả ra. Tất nhiên thằng tù cộng sản nào cũng  mong được thả.
Làm quan thì phải xử tù theo luật , không có việc không xử mà đem ra đấu lý rồi thả. Muốn thả thì cứ thả, thiếu gì cách cần gì làm trò trẻ con như vậy! Tại sao các ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và các cố vấn, luât sư Lâm Lễ Trình,, Trần Chánh Thành, Trần Trung Dung  thông minh tài ba lại để xảy ra việc này ư?  Em nhỏ lên ba cũng biết bọn Trần Bạch Ðằng sẽ không cãi lý với ông Tỉnh, bọn chúng biết xong cuộc “đấu lý” chúng sẽ được thả. Chúng không ngu gì mà cãi lý với ông Tỉnh. Và cả miền Nam ai cũng biết đó là chuyện hài hiện đại và thưởng thức cái thông minh của Diệm Nhu và các lãnh đạo tối cao!

Trong các tài liệu về Nguyễn Trân, các tài liệu của Việt Cộng thì khoe khoang, dối trá biểu lộ con người nhà báo, nhà văn cộng sản gian manh, lường gạt.
+Diệm Nhu thả Lê Duẩn.

Đỗ Trọng đã ghi chép các tài liệu về việc thả Lê Duẩn. Ông cho biết Tạp chí Đông Phương, phát hành miền Đông Hoa Kỳ tháng 8 năm 2001, từ trang 36 đến trang 40 do Cựu Tướng Lý Tòng Bá, người chỉ huy Sư Đoàn 7 của trận Ấp Bắc.Hành quân bắt được LÊ DUẨN nhưng cuối cùng được cố vấn Ngô Đình Nhu thả ra sao.(16)


Cũng trong bài trên, ông Đỗ Trọng ghi như sau theo hồi ký Huỳnh Văn Cao:
Từ tàu hải quân đến các cánh quân trung đoàn, radio thông báo cho nhau là đã bắt được Lê Duẩn.Tôi ra lệnh cho các tàu hải quân đem tất cả các người bắt được về Bộ Tư Lệnh Hành Quân, hãy đối xử lịch sự vơí họ? Và các cánh quân bắt đầu rút lui. Chiều lại, tôi giao cho Tư Lệnh Sư Đoàn 21 chỉ huy cuộc hành quân. Tôi và cố vấn Connor bay về Cần Thơ. ...Bắt được họ rồi, tôi đã ra lệnh cho cánh quân ngoài biển giải họ về cho tôi. Tôi điên gì mà ra lệnh thả họ đi".Chúng tôi sang phòng ăn, dùng bữa trưa. Mọi việc trắng đen trong các cuộc Hành Quân tại Sư Đoàn 7 và vùng IV Chiến Thuật là trung thực rõ ràng như vậy. Thế mà một số tác giả Mỹ đã nói rằng tôi nghe lời khuyến dụ của Tổng Thống Diệm nên đã để cho Việt Cộng chạy thoát trong các cuộc hành quân....Để cho rõ ràng Lê Duẩn do ai ra lệnh thả? tác giả viết thơ nhờ Cụ Lê Tấn Bửu, Cựu Thượng Nghị Sĩ VNCH, rất thân quen cũng là người hàng xóm với tướng Huỳnh Văn Cao ở Arlington, VA, Hoa Kỳ, để hỏi tướng Cao hư thực như thế nào? và may thay được Cụ Lê Tấn Bửu, cựu Thượng Nghị Sĩ VNCH gởi thơ cho biết như sau: (17)


4. DIỆM NHU VÀ THỦ HẠ THÔNG TIN CHO VIỆT CỘNG VÀ THAY ĐỔI KẾ HOẠCH HÀNH QUÂN ĐỂ CỨU VIỆT CỘNG


Đỗ Trọng ghi lại Hồi Ký Huỳnh văn Cao:

Tướng Huỳnh Văn Cao còn cho biết cả Đại tướng Harkins cũng nghi ngờ TT Diệm. Bởi vì cuộc hành quân nào của QLVNCH sắp mở ra mà báo cho Tổng Thống phủ thì VC đều biết trước! Cho thấy người Mỹ, CIA đã biết và theo dõi bám sát ông Ngô Đình Nhu từ lâu. Và người Mỹ nhiều lần đòi Tổng Thống Diệm loại trừ ông Nhu. Các tướng lãnh cũng đòi loại trừ ông Nhu nhưng ông Diệm cương quyết giữ ông Nhu! (18).

Huỳnh Văn Cao cũng nói đến kế hoạch hành quân của ông bị thay đổi : "Sau khi tôi rời Bộ Tổng Tham Mưu thì kế hoạch laị hoàn toàn đổi mới. Bộ Tổng Tham Mưu cho một lực lượng nhảy Dù gồm 2 đại đội, có một bộ phận chỉ huy, sắp xếp như vậy thì ĐÚNG sách vở, mà KHÔNG ĐÚNG với thực tế chiến trường. Chờ cho máy bay chuẩn bị đầy đủ để chở một lực lượng Nhảy Dù thì gần hết ngày, thả quân Dù xuống mặt trận thì trời sắp tối, và khi máy bay thả Dù xong thì trời tối om. Có số nhảy xuống đúng DZ, nhưng chỉ để nằm tại chỗ qua đêm, có số mắc tòn ten trên cây (Một kiếp người 19) (19).


5. DIỆM NHU THIÊU LÀM SUY YẾU LỰC LƯỢNG QUỐC GIA


Đỗ Mậu đã nói rõ về hành vi Ngô Đình Diệm phá hoại quốc gia.

"Không những chỉ tiêu diệt các đảng phái là những tổ chức đấu tranh chính trị, chính quyền Ngô Đình Diệm còn thực hiện chính sách tiêu diệt các tôn giáo khác, vốn là sức mạnh và nền tảng xã hội của quần chúng miền Nam. Nhân những biến động quân sự của các giáo phái võ trang vào những năm đầu mà chủ yếu do Bình Xuyên và một vài lực lượng võ trang chủ xướng, ông Ngô Đình Nhu đã cố tình đồng hóa các lực lượng võ trang phiến loạn này với toàn bộ các tôn giáo của miền Nam (địa dư) mà biểu tượng là Cao Đài và Hòa Hảo. Không phát xuất từ quan niệm Yêu Nước là Yêu Dân, không chủ xướng chính sách Dân Có Mạnh Nước Mới Giàu, nên chính quyền Ngô Đình Diệm đã xem dân như một phương tiện để phục vụ chế độ, đã phải xem dân như kẻ thù, chỉ sợ quần chúng mạnh thì sẽ cướp mất cái chính quyền đang đem lại đặc quyền đặc lợi cho gia đình và phe đảng. Vì vậy chính quyền Diệm mới phải tiêu diệt Hòa Hảo, đánh phá Cao Đài và cuối cùng khai chiến với Phật giáo. Mục đích tối hậu của chủ trương này là để Công giáo hóa nhân dân miền Nam, dành cho Công giáo ngôi vị độc tôn." (20)


Đỗ Mậu còn kết tội Diệm Nhu và Thiệu đã làm suy yếu lực lượng quốc gia bằng cách dùng những người Thiên Chúa giáo bất tài: và sa thải, đày ải các phần tử Phật giáo ưu tú:

Thành phần nhân sự Công giáo và thuộc-chế-độ-Diệm cũ không chỉ nắm chức vụ lãnh đạo để khuynh loát ngành Lập pháp, mà quan trọng hơn, còn cả trong ngành Hành pháp: Bộ trưởng Đặc Trách Liên Lạc Quốc Hội nằm trong tay ông Cao Văn Tường, một người trung thành với nhà Ngô đã từng được ông Ngô Đình Nhu cho làm Đệ Nhất Phó Chủ tịch Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Bộ Ngoại Giao thì do các ông Trần Chánh Thành, Trần Văn Lắm hay Vương Văn Bắc thay phiên nhau cầm đầu mà ông Thành và ông Lắm ai cũng biết là thuộc hạ nhà Ngô cũ. Bộ Ngoại giao là một bộ phụ trách việc vận động quốc tế, tranh thủ dư luận thế giới yểm trợ Việt Nam Cọng Hòa, nhất là trong giai đoạn phải thương thuyết với Hà Nội và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Nhưng nhìn lại dĩ vãng ta thấy các nhà ngoại giao của chúng ta chỉ coi sinh mạng quốc gia là trò đùa. Ông Trần Văn Lắm đi phó hội tại Paris thì chỉ vênh vang lập lại lời tuyên bố “Hòa bình đã trông thấy ở cuối đường hầm” của Kissinger mà thôi, mặc dầu những điều kiện hòa bình đó chỉ giúp mở cửa cho Cộng Sản dễ dàng tấn chiếm miền Nam. Còn ông Vương Văn Bắc mới lên giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao được ít tháng đã vội vã cho vợ con xuất ngoại an cư ở nước ngoài và thỉnh thoảng mượn cớ công du để đi thăm. Hậu ý của ông là khi có biến, ông có thể trốn thoát dễ dàng không bận bịu thê nhi. Cái hậu ý đó nói lên rõ ràng việc ông biết lo cho gia đình trước khi lo cho một quê hương mà ông biết như lá vàng sắp rụng.


Bộ Thông Tin dĩ nhiên phải để cho ông Ngô Khắc Tỉnh, học trò cũ của Giám mục Ngô Đình Thục và là cựu Dân biểu gia nô thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Nhưng khi số trường đại học, trung học, số trường kỹ thuật được Hoa Kỳ và các nước đồng minh gia tăng viện trợ thì ông Thiệu bèn hoán chuyển ông Ngô Khắc Tỉnh qua nắm Bộ Giáo Dục để có thể kiểm soát lực lượng giáo chức và thanh niên sinh viên, vốn là lực lượng tiền phong luôn luôn dễ dàng nổi loạn. Để ông Tỉnh có đủ uy tín đối phó với lớp trí thức khoa bảng, ông Thiệu cử một phụ tá cũng khoa bảng giúp Tỉnh và dĩ nhiên vị phụ tá này phải là một tín đồ Công giáo gốc Huế, thân tín với chế độ cũ: ông Bùi Xuân Bào......

" Thiệu đã vá lại được mạng lưới Cần Lao Công Giáo bị rách vào năm 1963 để phủ xuống một quân lực mà các thành phần ưu tú và trong sạch nhất thì nằm ở tuyến đầu khói lửa chứ không phải tại các phủ bộ ở thủ đô Sài Gòn.(21)


Nguyễn Chánh Thi kết tội chính phủ Ngô Đình Diệm:

- bóp nghẹt tự do báo chí, đàn áp đảng phái (38). Các sĩ quan hay dân chúng theo Việt Nam Quốc Dân đảng thì bị bắt như trung úy Nguyễn Thế Phồn [67], ông Phạm Hữu Anh [108].

-Gia đình họ Ngô dùng thế lực để tranh các vụ đấu thầu, để mua rẻ các bất động sản ở Huế như vụ khách sạn Morin.

-Bà Ngô Đình Nhu buôn lậu hạt xoàn tại Pháp, anh em ông Diệm và Trần Kim Tuyến chuyển ngân bất hợp pháp ra ngoại quốc [70].

- Các quận trưởng quân sự bắt dân đóng góp và tác oai tác quái khiến dân ngả theo cộng sản (66). Cứ mỗi Bảo An hay Dân Vệ chết, mỗi người dân phải đóng 5 đồng [72].
- chính quyền Ngô Đình Diệm tin dùng sĩ quan trung thành hơn là sĩ quan có khả năng chiến đấu [40]. (22)


Ông cho biết cảm nghĩ của ông trước sự gian ác, kỳ thị tôn giáo, và phản bội của chính quyền Ngô Đình Diệm, đồng thời ông cũng nói lên lý do của cuộc đảo chánh:

Sở dĩ từ lâu chúng tôi muốn dẹp bỏ mọi nỗi bất bình là vì muốn bảo tồn chủ lực quốc gia để thanh toán kẻ thù số một của đất nước là cộng sản. Nhưng nhận xét sự hy sinh của chúng tôi trở thành vô nghĩa nếu không muốn nói là ngu muội, mù quáng, khi chúng tôi được biết chính
những kẻ mệnh danh là lãnh đạo quốc gia đang trực tiếp nối dáo cho quân thù để giết hại chúng tôi. Những kẻ từng ngày từng giờ tuyên bố vì dân vì nước đã đặt quyền lợi riêng tư của gia đình và phe đảng lên trên quyền lợi tối cao của Tổ quốc. Chúng đang xây dựng sự nghiệp giàu sang trên xương máu quân đội và nhân dân Việt Nam . Chúng tôi tình cờ khám phá ra sự thật đau lòng ấy trong cuộc hành quân vào chiến khu D {23)


Nguyễn Việt Nữ trích dẫn tài liệu của Nguyễn Trân trong Công và Tội như sau

Tác giả Nguyễn Trân viết nơi trang 331 mà PSGĐ đề cập trên, nguyên văn: "Số đồn bót bị rút hẹp lai theo kế hoạch của Ngô Đình Nhu, bỏ ngỏ một phần lớn các xã thôn cho Cộng Sản. Dân vệ phải nạp võ khí tốt để nhận vũ khí thô sơ và dao găm, nên không đủ khả năng tự vệ cho chính họ chứ chưa nói tới việc bảo vệ dân chúng. Đây là cơ hội bằng vàng cho Cộng Sản thi hành chính sách khủng bố, ám sát Hội đồng Xã, tấn công các đồn bót và phục kích các đoàn quân chính quy, gây ra cảnh bất an khắp nơi”. (24)


6. CUM TÌNH BÁO A 22 TRONG DINH ĐỘC LẬP .


Nhiều tài liệu cho biết Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nha, Phạm Ngọc Thảo và các điệp viện cộng sản đều ở dưới trướng của Giám mục Lê Hữu Từ, được Hoàng Quỳnh can thiệp và được các linh mục nuôi dưỡng, che giấu.


Lê Xuân Nhuận nói đến vai trò “Nhóm Giáo Dân Tranh Đấu” nằm trong tay LM Hoàng Quỳnh, người đã tuyên bố: “Thà mất nước chứ không thà mất Chúa”. Rằng Tổng Thống Thiệu đã sử dụng Vũ Ngọc Nhạ làm liên lạc viên giữa mình và “Nhóm Giáo Dân Ki-Tô giáo ”, nhằm tìm chỗ dựa chính trị cho mình. Vũ Ngọc Nhạ, một điệp viên Cộng Sản, trở thành “ông Cố vấn” lần hai, mạnh hơn thời làm “Cố vấn” cho cố Tổng Thống NĐ Diệm. Tháng 7-1969, Cảnh Sát Quốc Gia phá vỡ Cụm tình báo chiến lược A-22 của đối phương, bắt giữ Vũ Ngọc Nhạ, (kẻ được Linh Mục Hoàng Quỳnh che chở) và Huỳnh Văn Trọng là Phụ tá của TT Thiệu, tất cả 42 cán bộ và cơ sở điệp báo, hoạt động sâu rộng và có ảnh hưởng trong nhiều cơ quan chính quyền cũng như các tổ chức chính trị.

Vụ án được đưa ra xét xử tháng 11-69, thế mà vào tháng 6-1971, khi bị chính phủ Nguyễn Văn Thiệu cầm tù ngoài Côn Đảo còn được Tòa thánh Vatican và Giáo hoàng Paulus VI tặng Bằng Khen và Huy chương "Vì hòa bình" ... ..Tháng 7-1969, Cảnh sát quốc gia phá vỡ cụm tình báo chến lược A 22 của đối phưong, bắt giữ Vũ Ngọc Nhạ, và Huỳnh Văn Trọng là phụ tá của Tổng thống Thiệu, tất cả 42 c án b ộ và cơ sở điệp báo, hoạt động sâu rộng và có ảnh hưởng nhiều cơ quan chính quyền cũng như các tổ chúc chính trị. Vụ án được đưa ra xét xử vào tháng 11-1968.Thế mà tháng 6-1971, trong lúc Nhạ c òn ở t ù Côn đ ão, y đã được tòa thánh Vatican và giáo hoàng Phao lồVI ban tặng bằng khen và huy chương "Vì hòa bình".(25)


Trúc Giang cho biết chính Nguyễn Văn Thiệu, LM Hoàng Quỳnh đã tiếp tay cho cụm A22 trong dinh Độc Lập.

"Một bất ngờ của vụ án là TT Thiệu không tin đó là sự thật mà cho là CIA đã dàn cảnh. Do đó, thời gian Vũ Ngọc Nhạ bị đày ở Côn Đảo thì TT Thiệu đã triệu hồi viên tỉnh trưởng Côn Sơn về Saigon và thay thế vào đó một người thân tín của mình để có điều kiện chăm sóc cho Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng như là những thượng khách. Vì thế, Vũ Ngọc Nhạ đã đánh giá:"Đó là một cuộc dạo chơi trên Thiên Đàng".

* Tiếp tục hoạt động

Đầu năm 1973.Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng được đưa về khám Chí Hòa, Saigon. Trong thời gian ở Chí Hòa, nhờ sự giúp đở của LM Hoàng Quỳnh, Vũ Ngọc Nhạ móc nối, bắt bắt liên lạc với nhóm "Thành Phần Thứ 3" của Dương Văn Minh." (26)


Về Phạm Ngọc Thảo, Trúc Giang cho biết:

Phạm Ngọc Thảo có một hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các Xứ Đạo Biên Hòa, Hố Nai, Thủ Đức, Saigon. Có nhiều linh mục giúp đở in ấn và phát hành. Chính quyền Thiệu-Kỳ kết án tử hình và treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được Thảo.

Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) kể lại "Tôi thấy Thảo gặp khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu, nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chánh để ngăn chận việc đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam". (Võ Văn Kiệt)
Lâm Văn Phát ra trình diện và chỉ bị cách chức.
Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng bị bắt tại Đan Viện Phước Lý, xã Vĩnh Thanh, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa.
Lúc 3 giờ sáng ngày 16-7-1965, Thảo vừa ra khỏi Đan Viện Phước Lý thì bị An ninh Quân Đội phục kích bắt và đưa về 1 con suối nhỏ gần Biên Hòa để thủ tiêu. Tuy nhiên, Thảo không chết, chỉ bị ngất xĩu vì đạn trúng vào càm. Khi tĩnh dậy, Thảo lê lết về một nhà thờ và được Linh mục Cường, Cha Tuyên Uý của Dòng Nữ Tu Đa Minh cứu chữa.
Và Thảo bị phát giác, bị đưa về Cục An Ninh QĐ đường Nguyễn Bĩnh Khiêm. Thảo bị tra tấn cho đến chết vào đêm 17-7-1965. 43 tuổi. (27)


Nguyễn Đức Vinh (An Ninh Thế Giới) viết về vụ án Vũ Ngọc Nhạ:

Cả 4 người chủ chốt gồm: Nhạ, Trọng, Thúy, Hòe đều bị kêu án khổ sai chung thân, đày ra Côn Đảo. Ngoạn mục hơn nữa, ngày 23-6-1971, tại Roma có một đại lễ cầu nguyện cho những ân nhân của Giáo hoàng, Phêrô Vũ Ngọc Nhạ đã được ghi nhận "người con hiếu thảo của Chúa, vệ sĩ nhiều công đức của Giáo hội, ân nhân của Giáo hoàng Paul VI", được Đức Thánh Cha ban ơn chết lành, tặng bằng khen và huy chương của Giáo hoàng. Hai ngày sau, 25-6, một linh mục khâm sai của Vatican đã vào tận khám Chí Hòa trao tặng các phần thưởng cho Vũ Ngọc Nhạ.

Sự tưởng lệ của Giáo hoàng Paul VI đã giúp Vũ Ngọc Nhạ dù đang ngồi tù, uy tín vẫn tăng vùn vụt. Suốt những năm nhà tình báo chịu cảnh lưu đày tại Côn Đảo, hàng loạt dân biểu, chính khách, chức sắc tôn giáo và cả cha tuyên úy trong quân đội Mỹ đều viết thư, nhắn hoặc ra tận nơi để thăm hỏi và xin Vũ Ngọc Nhạ cho ý kiến!

Chiều ngày 23-7-1973, Vũ Ngọc Nhạ được trao trả tại Lộc Ninh, với danh xưng là "linh mục Giải phóng". Cho đến lúc đó, khắp miền Nam Việt Nam vẫn không một kẻ nào nghi ngờ vị trí, ảnh hưởng của anh trong chính trường miền Nam. Linh mục Hoàng Quỳnh và nhiều vị chức sắc khác của nhà thờ Vatican vẫn đều đặn từ Sài Gòn liên lạc với anh ở vùng giải phóng. Niềm tin lớn đến mức, ngày 12-11-1974, vị linh mục chống Cộng khét tiếng Hoàng Quỳnh còn sẵn lòng theo chân Liên - con gái lớn của Vũ Ngọc Nhạ - ra vùng căn cứ của ta ở Đồng Lớn (Trung Lập Thượng, Củ Chi) để cùng anh bàn bạc về lực lượng thứ 3 và chính phủ ba thành phần ớ miền Nam theo Hiệp định Paris.


Và chính với tư cách của một người thuộc lực lượng thứ 3, trưa ngày 30-4-1975, Vũ Ngọc Nhà đã đứng cạnh Dương Văn Minh khi viên Tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn tuyên bố đầu hàng Cách mạng vô điều kiện. Vào phút đó, với tâm trạng rối bời, Tổng thống cuối cùng đã không hề để ý thấy một chi tiết: Con người nhỏ bé đứng bên cạnh ông ta đang nở một nụ cười, nhẹ nhàng nhưng rất tươi tắn và mãn nguyện - nụ cười của người chiến thắng. (28)


Như các tài liệu trên đây chứng tỏ việc này nhiều người biết chứ không phải một ai tung tin vịt để làm mất uy tín Vatican và  họ Ngô. Việc biểu dương này chứng tỏ Vatican từ lâu đã ủng hộ cộng sản,.


7. NGÔ ĐÌNH DIỆM BẮT TAY VỚI CỘNG SẢN


Khoảng 1960, ngưòi Mỹ đã thấy rõ con người tham lam, lạm quyền thế của vợ chồng Ngô Đình Nhu nên đã khuyến cáo vợ chồng y nên đi ra nước ngoài. Tức giận vì bị người Mỹ ngăn cản hành động của vợ chồng y nên Ngô Đình Nhu càng lộng hành hơn, tỏ ra thách đố với người Mỹ. Tâm lý của Ngô Đình Nhu là tâm lý trả thù , tâm lý làm liều của kẻ cùng quẫn.

Sau 1960, Ngô Đình Diệm  bị đảo chính nhưng lại được an toàn. C ó thể do người Mỹ can thiệp, có thể do Nhu Diệm bên ngoài thỏa hiệp nhưng bên trong có mục đich trì hoãn chờ cầu viện. Việc này đã giúp Diệm Nhu trở lại chính quyền, và vợ chồng Nhu trở nên kiêu căng cuả kẻ đại thắng.

Về việc tập đoàn Ngô Đình Diệm mật đàm với cộng sản dã có nhiều tài liệu đề cập đến. Khởi đầu có lẽ là Mặc Đỗ trong cuốn Bốn Mươi xuất bản tại Sài gòn sau 1963 . Trung tướng Trần Văn Đôn cũng như Mặc Đỗ đã nói đến việc đại sứ Ba Lan Manelie, và Robert Shaplen đứng ra làm trung gian mật đàm giữa Hà Nội và Sàigòn.


Đỗ Mậu cho biết có 4 nguyên nhân khiến Diệm Nhu bắt tay với cộng sản.

Trong lúc biến cố Phật giáo đang sôi nổi thì trong giới chính trị và tình báo tại Thủ đô Sài Gòn có hai vấn đề cũng được thảo luận và theo dõi gần như công khai. Đó là nguồn tin về những vận động của chính quyền Nhu–Diệm nhằm thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội và những tin tức về các cuộc đảo chánh có thể xảy ra.

Sài Gòn như lên cơn sốt mùa hè với những tin đồn phóng đại, những giả thuyết đầy mâu thuẫn và những vận động ngầm sôi nổi. Đề tài về âm mưu thỏa hiệp với Hà Nội là đề tài nóng bỏng nhất vì không những nó liên hệ đến chế độ Diệm mà còn trực tiếp tạo nhiều hệ quả lớn lao cho vận mệnh của miền Nam Tự Do.


Sau cách mạng 1–11–1963, các bí mật từ từ lộ ra qua các tài liệu Việt Nam và quốc tế, những nhân chứng trong cuộc cũng từ từ tiết lộ những sự kiện cụ thể để ta có thể nghiêm túc trình bày lại diễn tiến của âm mưu này, cũng như để ta có thể chín chắn suy nghiệm về biến cố mà hai anh em Nhu–Diệm đang từ theo Mỹ đến chống Mỹ và đang từ chống Cộng đến thỏa hiệp với Cộng.

Âm mưu thỏa hiệp với chính quyền Cộng Sản Hà Nội của chế độ Diệm là một trong những động cơ quan trọng, nếu không muốn nói là động cơ thách đố nhất, thúc đẩy quân đội cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc cách mạng 1–11–63. để ngăn chận và trừng phạt dòng họ Ngô Đình. Chính âm mưu này đã là nguyên động lực làm cho nhiều tổ chức chống chế độ có thể đoàn kết hợp tác với nhau mà không ngại ngùng, và đến khi tiếng súng cách mạng phát khởi thì các đoàn thể quần chúng và nhân dân cả nước cũng đều một lòng yểm trợ cho cuộc cách mạng lật đổ Ngô triều thành công.


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến quyết định thay đổi lập trường và chính sách chống Cộng của hai anh em ông Ngô Đình Diệm nhưng tựu trung có thể gồm lại trong bốn điểm chính: thứ nhất là sự chống đối càng lúc càng quyết liệt của nhân dân và các lực lượng chính trị đối lập tại miền Nam; thứ hai là áp lực càng lúc càng nặng nề của lực lượng chính trị võ trang của kẻ thù Cộng Sản; thứ ba là sự căng thẳng trong mối bang giao Việt–Mỹ mà những đổ vỡ có thể mang đến các di hại trầm trọng; và thứ tư, quan trọng nhất, là bản chất thủ đoạn cũng như tính chủ quan của ông Ngô Đình Nhu. Nếu chỉ có một, hay hai, hay cả ba nguyên nhân mà thôi thì chưa chắc hai ông Diệm–Nhu đã thỏa hiệp với Cộng Sản, nhưng vì bốn nguyên nhân vừa khách quan vừa chủ quan này đã, chậm chạp nhưng chắc chắn, cùng phối hợp với nhau nên đã đánh bật lập trường chống Cộng của anh em Ngô Đình, dù từ lâu mối thù giết anh ruột đã bắt gốc rễ vào tâm trí họ, và dù sự nghiệp chính trị của họ được xây dựng trên quyết tâm chống Cộng của quân dân miền Nam. (29)


Trung tướng Trần Văn Đôn đã cho biết việc ông Nhu tiếp xúc với Phạm Hùng:

"Đầu tháng hai, 1963, trung tá Bường, tỉnh trưởng Bình Tuy dùng xe Dodge 4x4 chở ông Nhu và ông C. đi săn. Trung tá Bường đưa ông Nhu đến chỗ hẹn. Đến nơi trung tá Bường và ông C. chờ ngoài xe. Chỉ có ông Nhu vào. Người đương nói chuyện là Phạm Hùng, có hai ngưòi nữa ngồi bên cạnh. Ông Nhu hứa khi nối xong xe lửa thì bà Nhu và Ngô Đình Lệ Thủy sẽ đi xe đầu tiên ra Hà Nội."(30)


Việc mật đàm là chuyện bí mật nhưng anh em ông Diệm đã cố ý khoe cho mọi người biết. Đó là chuyện cành đào mừng xuân. Trần Văn Đôn cho biết đầu năm quý mão (1963), tổng thống Diệm chỉ một cành đào trong dinh Độc lập và bảo đó là của Văn Tiến Dũng gửi (31).


Theo Cao Thế Dung , bà Tố Liên ở Sài gon, có chồng là bạn với Ngô Đình Nhu, đuợc Ngô Đình Nhu trao cho nhiệm vụ sang Vientiane, trao một bức thư cho môt người từ Hà Nội sang, vốn là bạn cũ của Ngô Đình Nhu, trước cùng làm ở thư viện Hà Nội. Tết quý mão cũng người này đem cây mai quý của Hồ Chí Minh qua Hồng Kông, rồi qua Lào, từ Lào vào Saigon tặng Ngô Đình Diệm. Cao Thế Dung dã hỏi Trần Kim Tuyến, Cao Xuân Vỹ thì hai ông đều phủ nhận việc họ Ngô mật đàm với cộng sản mà chỉ có thể là sự thăm dò.(32)
Nhiều tài liệu khác lại nói là của Hồ Chí Minh gửi cành mai. Dù ai thì cũng là cộng sản trung ương gửi, dù mai hay đào cũng không có gì khác biệt nhưng đó là một sự kiện chứng thực việc mật đàm giữa ông Diệm và cộng sản. Tại sao ông Diệm lại công khai nói điều này? Ông tin chắc là mật đàm đã thắng lợi, ông đã thoát khỏi gọng kìm của' đế quốc Mỹ'? Ông càng kiêu căng, thách đố thì ông càng chết sớm!


Người Mỹ có biết việc tập đoàn Ngô Đình Diệm thỏa hiệp với cộng sản không ? CIA Mỹ nhất định là biết. Tài liệu của Ngũ Giác Đài cho thấy là họ đã được báo động về hành vi phản bội của Ngô Đình Diệm đối với tổ quốc Việt Nam và nước Mỹ.

Sự báo động của người Mỹ về những ý định của chế độ ông Diệm gia tăng kể từ tháng 9 năm 1963. Trong tháng ấy, các bản tường trình được công bố tiết lộ rằng ông Diệm đã bí mật hội kiến với một nhà ngoại giao người Pháp, đuợc cử sang Hà Nội, sau khi chủ tịch Bắc Việt Hồ Chí Minh công khai đề cập đến một cuộc ngưng bắn có thể có trong cuộc chiến, và tổng thống De Gaulle ở Ba Lê bất thần kêu gọi mới, loại bỏ hết ảnh hưởng ngoại quốc khỏi toàn thể Việt Nam (33).


Theo tài liệu Ngũ Giác Đài, Ngô Đình Nhu đã nửa úp nửa mở khi tuyên bố với báo chí:

"Đại diện Ba Lan trong ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến tại Việt Nam là ông Miecayslaw Manelli, tiếp theo đó có gặp ông Nhu, và có tin đã mang theo một thư của thủ tướng Bắc Việt. Ông Nhu tuyên bố rằng trong thư ấy thủ tướng đã xin tôi mở các cuộc thương thuyết trên căn bản đề nghị ngưng bắn của Hồ Chí Minh và đã nêu ra nhiều chi tiết có thể coi hầu như là một đề nghị hấp dẫn "(34).


Tuy nhiên, tình báo của Trung Hoa quốc gia thì quả quyết có sự tiếp xúc giữa ông Nhu và Phạm Hùng ở rừng Lá Phan Thiết năm 1962. Ông Vương Vũ Văn,trưởng lưới tình báo Trung hoa quốc gia tại Chợ Lớn khi về Đài Loan, được Tưởng Kinh Quốc cho xem tài liệu của CIA về ngày giờ và địa điểm ba lần ông Nhu gặp Phạm Hùng và một sứ giả đặc biệt của Hồ Chí Minh từ Hà Nội vào. Và cũng theo Cao Thế Dung, Lưu Thành Hữu, cựu sĩ quan tùy viên của ông Nhu, vào năm 1970 kể lại chi tiết với tác giả việc ông Nhu gặp Phạm Hùng ở Rừng Lá trong một chuyến đi săn mà Lưu Thành Hữu được tháp tùng vì ông là chuyên viên săn bắn "(35) .


Đỗ Mậu đã viết đầy đủ nhất về việc Ngô Đình Diệm bắt tay với cộng sản .Ông kể rõ mọi việc từ việc đại sứ Ba Lan , Ấn Độ và Pháp đã cùng nhau giúp Nhu Diệm mật đàm, và cuộc trao đổi giữa ông và Võ Văn Hải bí thư ông Diệm:

"Ông cụ và ông Nhu đã thay đổi lập trường rồi anh Mậu ơi. Bây giờ là chống Mỹ, bắt tay Pháp để nói chuyện với Hà Nội, chúng ta làm gì chứ? "(36).


Một tài liệu rất đặc biệt, đó là tác phẩm Ngô Đình Diệm , nỗ lực hòa bình dang dở của Nguyễn Văn Châu nói về việc ông Diệm và ông Nhu tiếp xúc với cộng sản. Tập tài liệu này là luận án cao học về sử học của ông ở đại học Paris VII, nhan đề tiếng Pháp là Ngô Đinh Diêm En 1963: Une Autre Paix Manquée . Ông Nguyễn Văn Châu là người phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, là người đồng châu và đồng tôn giáo với ông Diệm. Năm 1961, ông thăng trung tá, và làm chủ tịch quân ủy Cần Lao, đồng thời là giám đốc cơ quan phụ trách tuyên truyền bí mật ở miền Bắc Việt Nam. Ông lấy bà chị của Trần Lệ Xuân, là Trần Lệ Chi nhưng bàn dân thiên hạ lúc đó kháo nhau rằng bà Lệ Chi yêu người khác, một Pháp kiều, hai bên ly dị. Vì việc này, bà Nhu ban hành luật gia đình cấm đàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ chồng, nhưng ông Châu bất tuân luật gia đình, bỏ sang Pháp học và tiếp xúc với cộng sản như thầy Nhu và Diệm của ông. Cái nhan đề tiểu luận và lời nói đầu của ông đã công nhận việc hai ông Diệm Nhu liên lạc với cộng sản là có thực.


Ông viết:

"Ít người biết rõ là trong năm 1963, Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cho một thỏa ước ngầm để chấm dứt cuộc chiến anh em bắc nam, đồng thời loại bỏ sự can dự của ngoại quốc "(37).

Nguyễn Văn Châu vốn là đệ tử họ Ngô, lại dày công tìm đọc ở thư viện Pháp, thư viện quốc hội Mỹ và gặp gỡ các viên chức tình báo Mỹ cho nên tài liệu của ông rât đáng tin cậy. Ông đã cho ta biết về việc Ngô Đình Diệm mật đàm với cộng sản như sau:

Không khí căng thẳng mà William Colby , Richard Nixon và một số tác giả, bình luận gia khác cảm nhận đó, trở nên sôi nổi khi các cơ quan thông tấn và thông tin Mỹ mở chiến dịch chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm nhân vụ Phật giáo nổi dậy. Sự chống đối người Mỹ càng lúc càng lớn mạnh cho hiểu tại sao tổng thống Diệm đã để cho ông Nhu nối lại dây liên lạc bằng hữu với nước Pháp để đi đến thỏa hiệp với anh em thù hận Bắc Việt đồng thời vẫn giữ thành đồng chống cộng tại Đông Nam Á.


Kể từ tháng 6-1963, vài liên lạc và thảo luận được thiết lập giữa hai chính phủ Nam và Bắc Việt qua trung gian của đại sứ Ấn Độ Ram C.Goburdhyn và đại sứ Ba Lan Mieczylaw Maneli thuộc Ủy Hội quốc Tế kiểm Soát Đình Chiến đưọc thành lập sau hiệp định Genève 1954. Trong cuộc phỏng vấn dành cho nhà báo thiên cộng người Úc Wilfred Burchett vào tháng 7 năm 1963, Hồ Chí Minh tuyên bố:


-"Sự can thiệp ngoại bang phải chấm dứt. Trong viễn tượng đó, cuc ngưng bắn sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp. Dù sao đi nữa, ông Diệm vẫn là một ngưòi yêu nước dù theo cách của ông ta. Cũng theo Wilfred Burchett, trong hai năm cuối cùng của chế độ Ngô Đình Diệm, đại sứ Pháp ở Sài gòn Roger Lalouette đã yết kiến thường xuyên ông cố vấn Ngô Đình Nhu, có lúc kéo dài nhiều giờ. Không ai biết rõ nội dung của những cuộc gặp gỡ này, nhưng bắt đầu có dư luận tung tin chính sách của người Mỹ ở miền Nam Việt Nam trong thực tế nhằm che dấu một âm mưu nhắm thanh toán anh em tổng thống Diệm. Một thời gian ngắn sau đó có một sự kiện khá bất thường xảy ra. Chính quyền Băc Việt vẫn cấm tất cả mọi chuyến bay trực tiếp từ Hà Nội vào Sài gòn, nay cho phép tổng lãnh sự Pháp ở HàNội Jacques de Burzon bay vào Sài gòn để gặp tổng thống Diệm. Đại sứ Lalouette đưa ông tới dinh Gia Long trình bày với tổng thống Diệm rằng Hồ Chí Minh không còn coi ông là kẻ phản bội, bù nhìn trong tay người Mỹ mà nói về tổng thống Diệm như một con người tốt, một người Việt yêu nước dù thế nào đi nữa. Ngày 29-9-1963, tướng De Gaulle tuyên bố đề nghị một giải pháp cho vấn đề Việt Nam, sau đó đại sứ Lalouette siêng năng tới yết kiến ông cố vấn Nhu thường xuyên hơn nữa và nhắc nhở ông Nhu nắm lấy cơ hội đề nghị của tổng thống Pháp. Trong khi đó, đại sứ Ba Lan Mieczylaw Maneli thuộc Ủy hội quốc tế Kiểm soát đình chiến, nhìn nhận ông Nhu là một lý thuyết gia đứng đắn duy nhất ngoài thế giới cộng sản, về du kích chiến, đã đến gặp ông cố vấn để đưa tin riêng của thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng.


Khi về đến Sài gòn để dự đám táng người em linh mục của tôi bị tử nạn lưu thông tại Vũng Tàu, tôi được biết sứ điệp này có thật. Một phụ tá thân cận của ông Nhu cho tôi hay những liên hệ giữa một bên Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, một bên Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu không còn là liên hệ giữa kẻ thù địch với nhau mà trở thành bạn . . .Phạm Văn Đồng đưa đề nghị mở những cuộc thương thảo trên căn bản đề nghị ngưng chiến của Hồ Chí Minh, đề nghị thảo luận về những liên lạc kinh tế buôn bán giữa hai miền, vấn đề chính trị sẽ giải quyết sau. Ngoài ra hai bên còn trao đổi sứ điệp bằng cassettes giữa Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm ( Những cassettes này hiện đuợc lưu trữ tại một viện đại học ở California, theo lời xác nhân của sư huynh giáo sư Gaselin Mai Thông Tâm khi tôi gặp sư huynh tại Orlean vào năm 1965. Những chi tiết này được hai ông Cao Thế Dung và Trần Kim Tuyến ( tức Cao Vị Hoàng và Lương Khải Minh) tác giả cuốn "Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống "xác nhận. Một người từng làm giám đốc Phòng Nghiên Cùu chính trị thuộc phủ Tổng thống, người kia từng là nhân viên phủ tổng thống (38).


Nguyễn Văn Châu tiếp theo cho chúng ta biết những điều sau:

- Ông Nhu tiết lộ với thị trưởng Đà Lạt Trần Văn Phước vào tháng 9-63, nhân cuộc đi săn cọp có sự tham dự của đại sứ Lalouette : Đã tới lúc phải hành động cách khác.

Với việc Cabot Lodge được cử làm đại sứ, chúng ta sẽ mất một phần lớn viện trợ Mỹ. Pháp đã hứa viện trợ cho chúng ta. Bắc Việt muốn thương thảo với miền Nam, tại sao ta không thử nói chuyện với họ xem sao!

- Ông Nhu tiếp xúc với đại diện cộng sản tại tư thất đại sứ Ấn Độ Goburdhijn, theo một lịch trình định trước hoặc hai, ba lần một tháng.

- Khi tuyên bố với ký giả Joseph Alsoph rằng ông không muốn thương thuyết mà không cho người Mỹ biết, là ông Nhu đã dấu việc tiếp xúc vói cộng sản.

-Tác giả có mặt tại Sài gòn khi ông Diệm liên lạc với De Gaulle xin viện trợ Pháp thay thế viện trợ Mỹ (39).


Tổng hợp các tài liệu về Ngô Đình Diệm, chúng ta thấy có những ý kiến sau:

- Một số cho rằng cho rằng họ Ngô yêu nước, không bao giờ bắt tay với cộng sản. Đây là quan điểm của bộ hạ Ngô Đình Diệm.

- Một số cho rằng ông Diệm bắt tay với cộng sản là sự thực, là để mưu cầu hòa bình. Đó là phe cánh khác của Ngô Đình Diệm, đại diện là Nguyễn Văn Châu.

- Một số có tài liệu Ngô Đình Nhu mật đàm với cộng sản nhưng lại cho rằng không biết thực hay hư. Đại diện khuynh hướng này là Cao Thế Dung.

-Ông Lê Tùng Minh cho rằng việc này là do Hồ Chí Minh tung ra mục đích là làm cho Mỹ và Ngô Đình Diệm mâu thuẫn nhau (40)


Tài liệu của Lê Xuân Nhuận cho biết các sự kiện như sau:

-1"Không phải tự-nhiên mà tờ tuần-báo Newsweek nổi tiếng của Hoa Kỳ vào ngày 24 tháng 12 năm 2001 bỗng đăng một bài tổng-kết tình-hình hoạt-động cuả CIA ở Đông Nam Á, và chú lên trên bức ảnh cuả cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm một câu như sau:

“1963: The Kennedy administration begins to see South Vietnamese President Ngo Dinh Diem as a communist tool and decides that “Diem must go.” The CIA engineers coup attempts that eventually lead to his assassination in November.” (1963: Chính-quyền Kennedy bắt đầu thấy rõ Tổng Thống Ngô Đình Diệm cuả Nam Việt-Nam là một công-cụ cuả cộng-sản và quyết định rằng “Diệm phải ra đi.” Cơ-quan CIA thiết kế các mưu toan đảo chánh rốt cuộc đưa đến việc ám sát ông ta trong tháng 11.”


-2. Theo tiến-sĩ Lâm Lễ Trinh, cựu Bộ-Trưởng Bộ Nội-Vụ dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa, trong bài “Mạn Đàm với cựu Đổng-Lý (Văn-Phòng Tổng-Thống Ngô Đình Diệm) Quách Tòng Đức” thì: “Ông Ngô Ðình Nhu đã tìm cách thương-lượng với Bắc Việt để loại ảnh-hưởng của Hoa Kỳ. Ông Nhu đã mời Manelli, Trưởng Phái-Đoàn Ba Lan trong Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Đình-Chiến để nhờ liên-lạc với Hà Nội qua Ðại-Sứ Pháp là Roger Lalouette đưa đề-nghị mở cuộc tiếp-xúc giữa 2 bên. Bắc Việt chấp-nhận ngay. Ông Nhu giả vờ đi săn với ông Cao Xuân Vĩ ở Cao Nguyên rồi nửa đường rẻ xuống vùng Tánh Linh ở Phước Tuy để gặp đại-diện của Bắc Việt. Cụ Cao Xuân Vĩ đã xác-nhận điều này. Trong cuộc gặp-gỡ, 2 bên đồng ý tái-lập trước tiên về liên-lạc bưu-điện và sau đó về giao-thương để tiến tới thống-nhất đất nước trong hòa-bình. Sau cuộc tiếp-xúc đó, ông Nhu cố ý tiết-lộ nội-dung cuộc tiếp-xúc cho báo-chí biết để ngầm thông-báo cho Washington.


Ông Quách Tòng Đức xác-nhận là “chính ông Nhu có đề-cập đến chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng-lãnh tại Bộ Quốc-phòng và ngày 23.7.1963 tại suối Lồ Ồ khi nóí chuyện với các cán-bộ xây-dựng Ấp Chiến lược khoá 13.”

Một nguồn tin khác cho biết ông Nhu xử dụng trung gian cuả bốn đại sứ: Roger Lalouette (Pháp), d’Orlandi (Ý), Goburdhun (Ấn Độ) và Manelli (Ba Lan), (hai ông sau là thành viên của Ủy ban Quốc tế kiểm soát đình chiến) cũng như Tổng lãnh sự Pháp ở Bắc Việt Jacques de Buzon, để liên lạc với Hànội. Ông QTĐ nói có nghe dư luận này nhưng không biết rỏ chi tiết.

Ông cũng có nghe xầm xì rằng ông Nhu đã gặp một đại diện Văn phòng Chính trị CS (Phạm Hùng?) trong lần đi săn tại Quận Tánh Linh, Bình Tuy.

Song song với sự tiết-lộ của ông Nhu, Tổng-Thống Pháp De Gaulle lên tiếng kêu gọi loại bỏ “ảnh-hưởng ngoại-quốc” ra khỏi VN, còn Hồ Chí Minh lên tiếng nói rằng “một cuộc ngưng bắn có thể được 2 bên thỏa-thuận.”

Ông Nhu đã hội kiến với Maneli lần đầu vào ngày 25/8/63 tại Bộ Ngoại giao VNCH và kế đó là vào ngày 2/9/63 tại phòng đọc sách của ông (“War of the Vanquished”, Mieczyslaw Maneli).

Ông Quách Tòng Đức xác-nhận: một Tết Nguyên-Đán trước 1963, một cành đào đỏ lộng-lẫy được trưng-bày nơi phòng khánh-tiết Dinh Độc-lập với tấm thiệp in tặng của Chủ tịch Nhà nước Cọng hoà Xã hội Miền Bắc”. Ông Đức kết-luận: “hành-động độc-lập (không cho Mỹ biết) của ông Nhu đã làm Washington tức-giận hơn. TT Kennedy bật đèn xanh cho Lodge tiến-hành cuộc đảo-chánh nhanh chóng hơn.”(41).

Trong các tài liệu trên, tài liệu của Đỗ Mậu và Nguyễn Mạnh Quang là đầy đủ nhất về tội ác của tập đoàn Ngô Đình Diệm. Tài liệu của Nguyễn Văn Châu cũng khá đầy đủ về việc Ngô Đình Diệm bắt tay với cộng sản nhưng lập luận của ông sai lầm.  Tài liệu của Lê Xuân Nhuận  xuất bản sau các tài liệu trên nên mang tính cách cập nhật cho lịch sử Việt Nam từ 1945 cho đến 1975.  Chúng ta thấy rằng nguồn tin tình báo của CIA , tướng lãnh và sĩ quan Việt Nam cộng Hòa trong đó có Nguyễn Văn Châu đã xác nhận việc tập đoàn Ngô Đình Nhu bắt tay với cộng sản là có thực .


Đối với đất nước Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, một nhân viên cao cấp hay tầm thường, một quốc trưởng hay sĩ quan tiếp xúc với giặc đều phạm tội phản quốc. Hơn nữa, cộng sản rất gian trá, thương thuyết, giao thương với cộng sản chỉ là một hình thức đầu hàng, sớm hoặc muộn cũng bị cộng sản thanh toán. Họ Ngô khôn ngoan nhưng khôn ngoan sao bằng Mỹ và cộng sản! Nếu Mỹ không can thiệp , để cho Ngô Đình Diệm đàm phán thành công thì việc trước nhất là Mỹ phải cuốn gói một cách nhục nhã vì mục tiêu của cộng sản và Ngô Đình Nhu là loại bỏ ảnh hưởng ngoại quốc khỏi Việt nam, mà theo cộng sản, ngoại quốc là Mỹ, và Việt Nam sẽ rơi vào tay cộng sản một cách nhanh chóng chứ không phải là đạt hòa bình như ông Nguyễn Văn Châu suy nghĩ!

Ông Diệm Nhu đã cao mà ông Châu càng cao hơn! Làm sao có thể vừa bắt tay với cộng sản mà lại vừa ăn tiền viện trợ Mỹ và làm tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á ? Cộng sản bằng lòng chăng? Mỹ chấp thuận việc đó sao? Dân tộc Việt Nam tin vào điều đó chăng?


Một số người chỉ trích việc giết Ngô Đình Diệm, và họ căm thù Dương Văn Minh nên họ  đã giết thiếu tá Nhung mà trả thù. Nhưng người ra lệnh giết Diệm Nhu là chính quyền Mỹ, các ông sao không lên tiếng kết tội chính quyền Mỹ  và chống Mỹ mà sau 1975 lại chạy sang nương náu Mỹ?
 Họ cũng chỉ trích các tướng lãnh cộng hòa là phản bội Ngô Đình Diệm, sao họ không trách Ngô Đình Diệm phản bội vua Bảo Đại và quốc gia Việt Nam. Họ mạt sát các tướng lãnh là tay sai ngoại bang vậy họ thì sao? Họ cũng đã từng làm việc cho Pháp, cho Mỹ, cho Nga, cho Tàu kia mà!
Nếu Ngô Đình Diệm phản quốc, bắt tay với cộng sản không lẽ các tướng lãnh yêu nước cũng phải theo chủ họ Ngô mà đầu hàng cộng sản?  Trong trường hợp này nên trung với Tổ quốc Việt Nam hay trung thành mù quáng với anh em Ngô Đình?

Trong chiến tranh, việc xử tử những kẻ phản bội là việc thường.. Việc giết anh em nhà họ Ngô về chính trị và quân sự là  việc tất yếu trong thế cờ lúc đó. Sau cách mạng 1963, nếu để anh em họ Ngô sống thì nhiều tai họa sẽ xảy đến cho Mỹ và Việt Nam, nhiều người sẽ chết hơn là hai cái mạng của anh em Diệm Nhu. Việc đầu tiên là bọn họ có thể tuyên bố đuổi Mỹ ra khỏi nước và kêu cứu cộng sản. Pháp và Trung cộng đang bắt tay trong chiến tranh Việt Nam vì Pháp rất thích Nam Kỳ thuộc địa mà Trung Cộng thì muốn nắm cả hai miền Nam Bắc. Tình hình lúc đó rất nguy ngập, quân Việt Cộng đang tiến đánh khắp nơi, và quân Trung Cộng đang chờ đợi ở Biển Đông hay Trường Sơn, chỉ nghe một lời cầu cứu của Nhu Diệm thì trong vài tiếng đồng hồ quân Trung Cộng và Pháp tiến vào Saigon.  Nếu không, họ sẽ gây một cuộc nội chiến trong một cuộc nội chiến. Việc này sẽ làm tiềm lực quốc gia suy yếu, và giúp cộng sản nhanh chóng chiếm miền Nam. Hơn nữa, đời người chỉ một lần gặp may, và không ai bị lừa đảo hai lần. Anh em ông Diệm đã đuợc tha trong đảo chánh 11- 1960 của Nguyễn Chánh Thi, nhưng họ đã nuốt lời cam kết, lịch sử không cho họ tái diễn tấn tuồng lừa đảo! Đó là quy luật trong chính trị và trong cõi đời!

 Nhiều người cho rằng nếu anh em họ Ngô còn sống, thì đất nước Việt nam đâu có rơi vào tay cộng sản! Đây lại là một điều hão huyền. Bản thân họ Ngô là trục lợi, họ đã thương thuyết, buôn bán với cộng sản, đâu có nghĩ đến quốc gia dân tộc!Bắt tay với cộng sản là đầu hàng cộng sản thì sao có thể  cứu nước?

Vì việc này, người Mỹ và hội đồng cách mạng đã tiến hành việc lật đổ Ngô Đình Diệm và giết anh em Ngô Đình Diệm. . Nhìn cảnh tượng dân chúng hoan hô quân đội trong ngày 1-11-1963, chúng ta đã thấy lòng dân là như thế nào. Dường như trong ngày 1-11-63, báo chí, tướng lãnh và ngưòi Mỹ đều không nói gì về việc hai ông Diệm Nhu mật đàm với cộng sản cho nên người ta cứ tưởng vì Phật giáo mà Mỹ và tướng lãnh đã lật đổ họ Ngô! Người ta không nói rõ việc mật đàm, vì đó là một việc cơ mật, là niềm tủi nhục của Việt Nam cộng hòa, là nỗi đắng cay của Mỹ, nói ra sẽ làm cho lòng dân chúng và quân sĩ rúng động, chỉ có lợi cho cộng sản mà thôi! Ai đời một ông tổng thống mà đi bắt tay với cộng sản thì còn nước non gì cái đường lối chống cộng nữa. So sánh việc các tướng lãnh lật đổ Ngô Đình Diệm và việc cộng quân tiến vào Saigon , ta  thấy nhân dân hân hoan việc lật đổ Ngô Đình Diệm nhưng lạnh lùng và sợ hãi khi quân cộng sản vào Dinh Độc lập.

Nhiều người thương tiếc Ngô Đình Diệm nên kết tội nhiều người.Nhưng những lời kết tội đó chỉ là phiến diện. Người giết gia đình ông Diệm chính là ông Diệm và gia đình ông. Ông Diệm giết hại nhiều dân, bắt buộc dân bỏ đạo là trái với đức bác ái của chúa, và trái quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, ông giết hại nhiều người tài giỏi, yêu nước, gia đình ông Diệm giết người cuớp của, liên lạc với cộng sản, tiết lộ bí mật quân sự, nuôi dưỡng, che giấu kẻ thù, đó là những tội đáng xử tử. Ông là kẻ phản bội dân tộc Việt Nam, phản bội vua Bảo Đại đã tín nhiệm ông. Vua Bảo Đại đã kể lại việc ông trao việc nước cho Ngô Đình Điệm như sau:
 Cầm lấy tay ông ta, tôi kéo sang một phòng bên cạnh, trong đó có cây thánh giá. Trước thánh giá tôi bảo ông ta:
–Đây Chúa của ông đây, ông hãy thề trước chân dung Chúa là giữ vững đất nước mà người ta đã trao cho ông. Ông sẽ bảo vệ nó để chống lại bọn Cộng Sản, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp nữa.
Ông ta đứng yên lặng một lúc lâu, rồi nhìn tôi, sau nhìn lên Thánh giá, ông nói với giọng nghẹn ngào:
–Tôi xin thề. “
( 42  )

Năm 1954, ông Diệm đã đặt tay lên Thánh giá mà thề bảo vệ tổ quốc, chống cộng sản, thế mà ông lại bắt tay với cộng sản.  Ngày 1-11-1963, ông Diệm lại thề lần nữa:

"Tôi tiến, hãy theo tôi;
tôi lùi, hãy bắn tôi;(43)
Ông bắt tay với cộng sản thế là ông đã phạm lời thề! Người Việt Nam tin quả báo, quả báo kiếp sau, quả báo nhãn tiền . Khoảng 1956, sét đánh mả ông Ngô Đình Khả, một ngôi mộ ở trong thành phố Huế, do công binh xây cất rất chắc chắn thế mà bị sét đánh nứt đôi. Và sau 1963, dòng dõi họ Ngô nhiều người bị  bất đắc kỳ tử dù  họ ở ngoại quốc! 

Chính các lời thề của ông đã giết ông. Đa số người Việt Nam sợ mắc lời thề, sợ phạm điều ác, sợ quả báo. Chính hai ông tự giết mình khi công khai mở cành đào tại Dinh Độc Lập trước mắt Đại sứ Mỹ. Đó là sự kiêu hãnh, lòng tự tìn thành công đã đến nơi. Nhưng đó là đầu óc ấu trĩ, dại dột của anh em nhà Ngô . Ngoài ra, chính tập  đoàn của ông vì lòng tham mà đẩy ông vào việc phản bội tổ quốc và lâm vào chỗ chết!


Nói tóm lại, Ngô Đình Diệm và tập đoàn là một lũ buôn dân bán nước, lừa bịp dân chúng, họ dùng danh nghĩa quốc gia để chiếm đoạt đất nước này làm tài sản riêng; ho mang nhãn hiệu dân chủ để thi hành gia đình tri;  họ dùng danh nghĩa chống cộng nhưng thực tế là bắt tay với cộng sản từ khởi đầu cho đến chung cuộc.
Đất nước ta trải trăm năm Pháp thuộc, rồi nửa thế kỷ chiến tranh tàn phá và  cộng sản kìm kẹp, dân ta mong mỏi một vị lãnh đạo tài ba và nhân đức xuất hiện. Dân ta ở miền Nam tự do, nhưng một số chịu ảnh hưởng dân chủ Tây phương, một số bị cộng sản đầu độc cho nên không thích chế độ quân chủ. Đúng lúc này, Ngô Đình Diệm xuầt hiện, Người ta tin tưởng ông là cứu tinh của dân tộc, nhưng chỉ vài ngày, vài tháng, người ta đã thấy bộ mặt gian ác của nhà họ Ngô và bọn thủ hạ.


Nếu ông Ngô Đình Diệm và bọn bộ hạ không kỳ thị tôn giáo, không coi nước Việt Nam là của riêng của gia đình ông và tập đoàn ông  thì nhân dân Việt Nam rất cảm ơn Thiên Chúa giáo đã đưa đến đất nước này một người con yêu của chúa đã thực hiên đúng lời dạy bác ái của chúa!
Nếu Hoa Kỳ chọn được một Ngô Đình Diệm dân chủ, công bình chính trực và thật tâm chống cộng, thì nhân dân Việt Nam hoan hô Hoa Kỳ sáng suốt trong việc giúp đỡ Việt Nam xây dựng dân chủ và chống sản xâm lược. Đau đớn thay, người Việt Nam cảm thấy mai mỉa vì tập đoàn cộng sản và tập đoàn Ngô Đình Diệm đã nhân danh dân chủ mà làm những điều phi dân chủ, phản dân hại nước. Và họ cũng cảm thấy buồn cười vì Hoa Kỳ có nhiều người tài giỏi nhưng đã sai lầm chọn  Ngô Đình Diệm, một kẻ phản dân chủ và phản bội Hoa Kỳ! Và cũng thật khôi hài vì Hoa Kỳ có CIA khắp nơi thế mà bị anh em Diệm Nhu cho một cú đá hậu đau điếng !



8. PHONG TRÀO THIÊN CHÚA GIÁO BẮT TAY CỘNG SẢN


Sau 1963, các giám mục, linh mục, trí thức Thiên chúa giáo nổi lên chống các chính phủ miền Nam sau đó chống Thiệu tham nhũng, đòi hòa bình, chống Mỹ xâm lược cụ thể như linh mục Trần Hữu Thanh, bà Nguyễn Thị Thanh và các báo chí như Dại Dân Tộc, Tin Sáng, Điện Tín, nhà xuất bản Trình Bày.


Lê Xuân Nhuận viết:

Trên bàn cờ thời-sự Miền Nam Việt-Nam, vào giai-đoạn cuối-cùng của lịch-sử Việt-Nam Cộng-Hòa, chỉ còn có một ván cờ mới―chung-kết và chung-quyết:

Đối-thủ chính bên phía đối-lập với Chính-Quyền là các Nhóm “Giáo-Dân Tranh Đấu”, do đại-khối hơn 300 linh-mục trong “Phong Trào Chống Tham Nhũng” và cả đám linh-mục cộng-sản nằm vùng, tay sai và thân-Cộng, “lãnh-đạo tinh-thần” Kitô-Giáo Việt-Nam, đứng ra thao-túng tình-hình.
Ở trên đầu và sau lưng họ là Tòa Thánh La-Mã với đích-thân Giáo-Hoàng Phaolô VI cùng với hàng chục quốc-gia chư-hầu của Vương-Quốc Vatican.Thế đánh cạn-tàu ráo-máng của nội-thù đã chiếu bí Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, trực-tiếp mở đường cho ngoại-địch hạ gục đối-thủ trong nước cờ kết-thúc giữa Bắc-Việt Xâm-Lược với Việt-Nam Cộng-Hòa.(44)


Trong một bài khác gi ới thiệu giáo hoàng Paul VI, Lê Xuân Nhuận viết khá đầy đủ về vai trò của Ngài trong chiến tranh Việt Nam::
... Ngày 4-10-1965, Giáo Hoàng Paul VI viếng nước Mỹ.
Sau chuyến đi cuả GH Paul VI, màu sắc ngoại giao Roma rõ nét: liên lạc trực tiếp với Hà Nội và Trung Quốc. Hồng y IginoEugenio liên lạc với đại diện VN ở Âu châu. Hồng y Paolo Bertoli qua trung gian người Pháp làm việc với Saigon và Hà Nội. Đại diện Vatican ở Cambodia tiếp xúc với Việt-Cộng. Học giả, luật gia, sử gia, hàng giáo phẩm, nhân viên ngoại giao… đổ xô về Roma. GH và ông Hồ Chí Minh trực tiếp trao đổi thư từ... (Xem A)
Tóm lại, lập trường của Vatican rất rõ ràng: Cổ võ Hòa bình, chấm dứt chiến tranh, quan hệ tốt với chính quyền miền Bắc và Chính phủ lâm thời miền Nam.
Giáo Hoàng Phao Lô Đệ lục đã tiếp kiến phái đoàn của MTGPMN Việt Nam. (Xem B) ( Ngọc Nhạ, điệp-viên cộng-sản trong Phủ Tổng-Thống VNCH) còn được Tòa thánh Vatican và Giáo hoàng Paulus VI tặng bằng khen và Huy chương "Vì hòa bình" vào tháng 6 năm 1971 (trong lúc Nhạ đang ở tù tại Côn Đảo). (Xem C)


Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu đích-thân đi trực-tiếp cầu-cứu với Giáo-Hội Kitô La-Mã, là một trung-tâm quyền-lực chính-trị khác của thế-giới. Tuy nhiên, Giáo-Hoàng Paul VI không tiếp-kiến, dù Thiệu là một tổng-thống của một quốc-gia có tỷ-số giáo-dân đông thứ nhì tại lục-địa Á-Châu, mà cũng là một con chiên...
Đã thế, Giáo-Hoàng còn chỉ-trích Thiệu, lại còn tiếp-kiến cặp Nguyễn Thị Bình và Xuân Thủy, Trưởng Phái-Đoàn cộng-sản tại hòa-hội Paris... (Xem D)
LÊ XUÂN NHUẬN
Tham-Khảo


Tại sao Hồng Y Francis Spellman Muốn Dội Bom Nguyên Tử Xuống Việt Nam?
Cécilia Trần Thị Vĩnh-Tường 12/11/2010

... Giáo Hoàng Paul VI xung trận “Jamais plus la guerre”
…không là anh em nếu không có lòng trắc ẩn…

Gìữa một nước Mỹ tang tóc, đại ngươn soái “Ba thước gươm, một cỗ nhung yên” thúc ngựa xông vào vòng lửa đạn chính là giáo hoàng Paul VI. Vừa nhậm chức GH tháng 6/1963, Paul VI chớp mắt thấy tiêu tùng hai tổng thống Ki-tô Vatican mất công gầy dựng: tháng 11-1963, TT Ngô Đình Diệm và Kennedy chết thảm trong vũng máu bởi chính tay người Mỹ. Từ đó, bên tai tiếng bom rền vang hơn tiếng thánh ca. Giáo Hoàng Paul VI lo lắng về việc Spellman thủ hai vai một lúc: hồng y New York và tổng tuyên úy quân đội, khiến thế giới suýt mấy lần đối diện với thế chiến ba. GH đã cố nói chuyện với Spellman nhiều lần, nhưng chỉ nói với hai cái tai điếc đặc.


Ngày 4-10-1965, lần đầu tiên một giáo hoàng Vatican viếng nước Mỹ vốn là đất của giáo hội Tin Lành. Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U Thant và các viên chức cao cấp trong chính phủ ra đón GH ở máy bay. Ngoại giao Roma cực kỳ tinh vi qua mắt được cả thượng đế trên trời lẫn loài nguời dưới thế: hai đại diện Chúa: Paul VI và Spellman tươi cười cho cả thế giới chụp hình...

Người khách danh dự phải đến trụ sở Liên Hiệp Quốc trước GH 30 phút là bà quả phụ Jackie Kennedy. Bài diễn văn lịch sử dài 3354-chữ, GH Paul VI dùng tiếng Pháp. Mảnh dẻ như cây sậy Pascal trong cơn gió cuồng bay, Paul VI dứt khoát:

Jamais plus la guerre! Jamais plus la guerre!

Chiến tranh!! Không!! Không bao giờ nữa!!..Chỉ hoà bình mới soi sáng định mệnh nhân loại …Nếu muốn là anh em, hãy bỏ khí giới xuống…Yêu người sao được khi lăm lăm vũ khí trong tay! sẽ không là anh em nếu không có lòng trắc ẩn…”

Lời tuyên bố bung ra như bom 30 kilotons. Người thông dịch toát mồ hôi, cà lăm không tin ở tai mình. 116 đại biểu các quốc gia nồng nhiệt đứng dậy hoan hô, trừ đại biểu Albanie tẩy chay. Buổi tối tại Yankee Stadium trước 90.000 người, diễn văn 1460-chữ bằng tiếng Anh, Paul VI nhắc “Peace/hòa bình” tới 28 lần, như những thông điệp sau này của Đức DaLai LaMa. Đức Lê Lợi, xong chiến tranh chống quân Minh, cũng trả kiếm cho rùa thần. Không cần chữ nghĩa dài dòng, bài học để lại đời sau vẫn đúng như ngàn năm trước: mài gươm cho sắc đánh giặc ngoài, xong việc binh đao, phải coi dân là trọng.


“Hỡi anh em! Ta có ba điều gửi lục địa trẻ trung rạng rỡ này: Hãy yêu hoà bình! Hãy phục vụ hòa bình! Ta mang tặng hồng y Spellman phiến đá cậy từ đền thờ Saint Peter’s Basilica ở Roma, hồng y hãy vì danh Chúa xây dựng một giáo hội cho tương lai, trong Đức Tin và Đức Mến”

Một trăm triệu người khắp thế giới nghe thông điệp của vị chủ chăn Vatican qua TV. Người Mỹ vỡ toang đón niềm vui. Cả nước Mỹ mềm môi say thánh ý như say rượu nho. Mừng nhất là các bà mẹ héo hon sửa soạn cho con đăng lính đi VN hay qua Canada trốn lính, trong đó có mẹ của James Carroll. Chỉ vài ngày sau, 100.000 người khắp nước Mỹ nhảy múa mở đầu “Phong Trào Hoà Bình.” Thu xếp lại bản đồ thế giới, thông điệp cuả giáo hoàng rất rõ: Vatican muốn chiến tranh VN chấm dứt, nếu không, không “đi” với Hoa Kỳ nữa.


Các quốc gia đang lâm chiến nhẩy tango trên than hồng. KGB, CIA, MI6 vồ lấy hai bài diễn văn, kính hiển vi xét từng dấu phẩy dấu chấm. Washington bí mật cho loan tin “Giáo hoàng không biết ngài nói gì”. Sự thật thế nào? 1. GH biết/không biết trận chiến toàn cầu đều là con cờ cuả đế quốc vô hình Knights of Malta: bao giờ đạt chỉ tiêu sản xuất bom đạn mới ngưng chiến được 2. GH đã có mật ước với một trong hai (hoặc cả hai) siêu cường Liên Sô/Hoa Kỳ? 3. GH Paul VI vẫn được coi là có khuynh hướng cộng sản. Khi còn là bộ trưởng ngoại giao Vatican, ông đã từ chối chiếc mũ hồng y GH Pius XII ban, thà nhận một nhỉệm sở xa xôi với chức giám mục khiêm nhường, để phản đối chính sách thân Phát Xít của GH Pius XII. Giáo hoàng Paul VI mang niềm bí ẩn ấy về cõi thiên đàng và chỉ nói riêng với Chúa, vị hôn phu 2000 tuổi...


Sau chuyến đi cuả GH Paul VI, màu sắc ngoại giao Roma rõ nét: liên lạc trực tiếp với Hà Nội và Trung Quốc. Hồng y IginoEugenio liên lạc với đại diện VN ở Âu châu. Hồng y Paolo Bertoli qua trung gian người Pháp làm việc với Saigon và Hà Nội. Đại diện Vatican ở Cambodia tiếp xúc với Việt-Cộng. Học giả, luật gia, sử gia, hàng giáo phẩm, nhân viên ngoại giao… đổ xô về Roma. GH và ông Hồ Chí Minh trực tiếp trao đổi thư từ...


Dư luận miền Nam VN ghét oan cái đám phản chiến tốt đen Jane Fonda, John Kerry, trong khi GH Paul VI, McNamara, McBundy là phản chiến thượng hạng. Người Việt vỗ tay nhạo báng trên xác chết người Việt mấy chục năm nay mà không biết (hay không dám chỉ đích danh) kẻ mang chiến tranh choàng lên cổ người Việt là HY Spellman. Có đọc một nhận xét từ người ngoại quốc “Nguời Việt khi không đánh ngoại xâm thì chúng nó đánh nhau”.Chúng nó đánh nhau! Một tâm thức chắc chắn được tình báo các nước đối tác nghiên cứu/khai thác, khi cần áp dụng với giá rẻ mạt hay hứa hẹn tầm phào là tạo ngay đuơc chia rẽ, hỗn loạn. Lời thề kinh hãi cuả dòng Jesuits/dòng Tên gặp đất tốt, khỏi bón phân phiếc chi hết… “Con đã được đào tạo để lẳng lặng gieo mầm mống tị hiềm và thù ghét giữa cộng đồng, địa phương, quốc gia đang hòa bình, và khích bác chúng gây đổ máu, lôi kéo chúng giao chiến với nhau, và gây ra khởi loạn hay nội chiến ở các quốc gia…”...

Cécilia Trần Thị Vĩnh-Tường (Mùa Vu Lan 2010)

Lương Tâm Công Giáo:

http://luongtamconggiao.wordpress.com/2012/02/08/tgm-nguy%E1%BB%85n-van-thu%E1%BA%ADn-nguyen-nhan-13-nam-l%C6%B0u-d%E1%BA%A7y-kh%E1%BB%95-nh%E1%BB%A5c-i/


... đường lối của Vatican thông qua Giáo Hoàng Phao lồ Đệ lục là kêu gọi hòa bình, chấm dứt chiến tranh, gián tiếp chống lại quan điểm của người Mỹ và chính quyền VNCH. Năm 1968, Giáo Hoàng Phao lồ Đệ lục đã lập ra ngày Quốc tế Hòa Bình. Ngài còn kêu gọi Hòa Bình bằng thương thuyết tại Việt Nam và trung Đông.

Cụ thể hơn, Ngay từ 2/5/1967 khi chiến tranh leo thang đến đỉnh điểm của nó, GH Phaolô VI đã đưa ra đề nghị và giải pháp: “Phải chấm dứt các cuộc oanh tạc trên lãnh thổ Bắc Việt và đồng thời cũng phải chấm dứt những cuộc xâm nhập vũ khí và vật liệu chiến tranh vào miền Nam.”

Trong Hội nghị thường niên của các giám mục Việt Nam, nhân dịp này, Giáo Hoàng Phao Lồ đệ lục đã gửi một tâm thư đề ngày 13-2-1965 mà Ngài bầy tỏ như sau đã được đăng trên tờ Xây Dựng: “Tuy xa cách ngàn dậm mà lòng vẫn gần gũi và theo sát những biến cố dồn dập ngày nay đang rung chuyển và gây nên cảnh thịt rơi máu đổ trên mảnh đất Việt Nam.”

Và Ngài hứa tìm cách đưa lại Hòa bình cho Việt Nam.

Ngài viết tiếp, “Ta đã cố gắng dùng đường lối kín đáo để tiếp xúc với nhiều nhân vật đại diện trong các chính phủ, mục đích là thành khẩn xin các vị đó tìm lấy một giải pháp danh dự, nhưng hòa bình cho các vấn đề khó khăn quốc tế đang làm ta lo nghĩ”.


Tóm lại, lập trường của Vatican rất rõ ràng: Cổ võ Hòa bình, chấm dứt chiến tranh, quan hệ tốt với chính quyền miền Bắc và Chính phủ lâm thời miền Nam. Sau 30 tháng tư, yêu cầu các Giám Mục ở lại, hợp tác với chính quyền mới theo chính sách Hòa giải Dân tộc. Trong tinh thần đó, rất nhiều bài báo, truyện ngắn trong các tờ tập san Đất Nước, Hành Trình, Trình Bầy cổ võ cho Hòa Bình, chống chiến tranh và Hòa Hợp Hòa Giải. Lý Chánh Trung, một trong những thành phần trí thức cực đoan viết rằng: Tôi cổ võ cho Hòa Bình vì tôi là người Việt Nam và hơn thế nữa, tôi là một người công giáo.

Lý do thứ ba là sau khi Hiệp Định Paris được ký kết ngày 27/1/1973, miền Bắc đã nghĩ ngay đến việc thiết lập một tòa đại sứ của họ tại Ý Đại Lợi tại số 156, đường Bravetta. Tòa đại sứ này chắc hẳn không nhằm lợi thế chính trị đem lại từ nước Ý cho bằng nhận được sự ủng hộ của Vatican.

Và trên thực tế, Giáo Hoàng Phao Lô Đệ lục đã tiếp kiến phái đoàn của MTGPMN Việt Nam.

... Theo linh mục Cao Văn Luận cho biết Hồng y Casaloli, phụ trách ngoại giao của Tòa thánh nhờ linh mục Luận về nước nhắn nhủ lại: yêu cầu các giám mục Việt Nam không di tản, chuẩn bị sống chung và tìm cách hợp tác với chính quyền mới một khi tình thế đã thay đổi.

Và việc bổ nhiệm Giám mục Nguyễn Văn Thuận sau này thật ra nằm trong tinh thần sống chung và hợp tác với chính quyền mới. Bằng chứng là ở Nhatrang, Giám mục Thuận đã khôn ngoan giao hảo với chính quyền mới và đã được họ cho phép mở lại chủng viện để sinh hoạt bình thường. (45)
Wikipedia

http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Ng%E1%BB%8Dc_Nh%E1%BA%A1 .

BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 0215
VỀ GIÁO HOÀNG PHAOLÔ VI


Cuộc công khai nổi dậy chống chính quyền Quốc gia là một chủ trương mới của giáo hội Vatican dưới triều Phaolồ VI. Đây là một ý thức mới, một thay đổi tư duy trong hàng ngũ lãnh đạo tối cao của Vatican, và đó là một mệnh lệnh được truyền từ Vatican xuống các thần dân của Chúa. Mênh lệnh đó là phải bắt tay với cộng sản để chung sống hòa bình. Vì mệnh lệnh này các nhà thờ nay ngoài cha cố đeo thánh giá nay lại có các đồng chí mang AK v ào ra. Và các đấng chăn chiên mặc áo chùng thâm nay đi dép râu, đội nón cối. Nhiều người ca tụng Paul VI rằng Ngài đã mang lại hòa bình cho Việt Nam nhưng thực sự Ngài đã mang lại đau khổ cho nhân dân Việt Nam và tai họa cho giáo hội. Ngài chỉ là một con người, những suy nghĩ toan tính của Ngài có thể sai lầm.


GM Nguyễn Thái Hợp đã nói rõ việc này:

Nguy hiểm nhất là các thế lực ngoại bang đều biết khai thác, lợi dụng chiêu bài chống Cộng. Một số người, vì nhiều lý do, đã trở thành lực lượng hậu thuẫn cho họ. Những thân phận ấy bị hút vào cơn lốc “giống như những chiếc lá mà giông bão cuốn lên, tan tác mọi ngã, rồi tự rơi xuống”.

Tuy nhiên, cuối cùng quan điểm của Vatican II, của Đức Gioan XXIII và nhất là của Đức Phaolô VI đã ảnh hưởng tích cực trên nhận thức và thái độ của các giám mục Việt Nam đối với cuộc chiến. Đối diện với cuộc chiến tranh ngày càng tàn khốc tại Việt Nam, Đức Phaolô VI tuyên bố, với tư cách một người lãnh đạo tôn giáo, ngài không thể không lên tiếng. Kể từ lễ Giáng sinh năm 1964, ngài đã đưa ra nhiều đề nghị và sáng kiến hòa bình cho Việt Nam bằng con đường thương thảo. Ngày 13.2.1965, ngài gửi thư cho các giám mục Việt Nam để chia sẻ những nỗ lực vận động của ngài cho hòa bình Việt Nam. Trong cuộc triều yết ngày 29.11.1965, ngài cho biết “hằng mong ước cùng cầu nguyện để được thấy ngày mà tiếng súng sẽ im bặt và nền hòa bình thực sự sẽ chiếu dọi trên đất nước Việt Nam, trong niềm hân hoan và hòa hợp dân tộc”.[17] Qua Thông điệp Mân Côi, ngày 15.9.1966, ngài lại kêu gọi hai miền Nam Bắc chấm dứt chiến tranh và thương thuyết.


Hơn thế nữa, ngài đã gửi đặc sứ là TGM Sergio Pignedoli tới Sài Gòn để gặp gỡ các giám mục Việt Nam từ ngày 30/9 đến ngày 6.10.1966 nhằm thúc đẩy tinh thần hòa bình và hòa giải. Nhờ cuộc gặp gỡ và trao đổi này, các giám mục Việt Nam đã hoàn toàn hiệp nhất với Đức giáo hoàng để lặp lại lời kêu gọi thiết tha: “Nhân danh Chúa, xin hãy dừng lại. Hãy gặp gỡ nhau, hãy đi tới bàn hội nghị, hãy thành thật thương thuyết. Ngay bây giờ hãy giải quyết các mối bất hòa tranh chấp, dù có phải chịu thiệt thòi chút ít, vì thế nào rồi cũng phải hòa giải, nhưng có lẽ với nhiều tai họa thảm khốc hơn, mà hiện nay không ai lường được”.

Cũng chính Đức Phaolô VI đã tiếp kiến phái đoàn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do ông Xuân Thủy dẫn đầu, mà từ chối tiếp kiến ông Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Sự kiện này khiến cho nhiều người ờ miền Nam lúc đó rất ngỡ ngàng và bất bình với Vatican. (46)


Chúng ta thấy rõ một số giáo dân theo cộng sản là vì chủ trương hòa bình của giáo hoàng Phaolồ VI. Đa số giáo dân tin tưởng tuyệt đối giáo hoàng đúng như Nho gia dạy bảo: Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.".Vì vậy mà một số tu sĩ Thiên chúa giáo tuyên bố:" Thà mất nước chứ không mất đạo'. Người cộng sản một số cũng nói" Thà mất nước chứ không mất đảng"  để cam tâm bán nước cho Trung cộng. Đảng cộng sản tất nhiên phải bị tiêu diệt dù bám Trung Cộng, nhưng Chúa, Phật không bao giờ mất trong trái tim người tín đổ chung thủy sáng suốt và nhân hậu. Chúa, Phật vẫn tồn tại trong ta dù ta ngồi tù hay làm nô lệ.Chúa Phật ở trên trời và ở lòng ta , nếu ta bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất. Người Việt Nam lấy trung hiếu làm đầu: ( Trai thì trung hiếu làm đầu ---Có trung hiếu đứng trong trời đất ), không bao giờ chịu  bỏ mất tổ quốc. Dù người Việt quốc gia phải bỏ nước ra đi vì tự do, trong tâm chúng ta vẫn tràn ngập tình yêu quê hương, luôn mong muốn quang phục quê hưởng để xây dựng Việt Nam tự do dân chủ thật sự.

Đa số người Việt Nam yêu nước, thành thử trong khi một số tu sĩ đi theo cộng sản trong Giáo hội quốc doanh, một số  độc lập và bất khuất đã ủng hộ giáo hội tư doanh. Đó là hành động chính nghĩa, yêu tổ quốc, yêu tự do, bảo vệ giang sơn và bảo vệ Phật pháp của Phật tử trong giáo hội Việt Nam Thống Nhất. Có những tôn giáo  coi lời của giáo chủ là chân lý nhưng giáo chủ chưa phải là Thượng Đế, những ông giáo chủ trung cổ đã cậy oai lực của Thượng Đế mà giết hại các nhà khoa học, và gây ra cuộc chiến tranh tôn giáo. Sau này cách mạng Pháp và các nhà luật pháp,  chính trị các nước đã phê phán sự kiện này, và chính điều này đã cho ta thấy Thượng Đế  là chân lý nhưng Thượng Đế không nói, không viết, chỉ các vị giáo chủ, giáo tông, giáo lãnh đóng vai phát ngôn và hành động sai lầm. Điều đó cũng dễ hiểu bởi vì các vị ấy cũng chỉ là con người.  Đồng bào Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo có tự do trong mọi hoạt động của mình, không chịu sự câu thúc của các giáo chủ, giáo hoàng hay một thế lực gian ác nào cho nên đa số đã yêu nước yêu đạo, giữ nước và giữ đạo.

Đứng về phương diện ý thức hệ, giáo hoàng cũng chỉ là con người, có những sai lầm, có những chính sách khác nhau. Chẳng hạn Hồng Y Spellman có chủ trương khác với chủ trương của giáo hoàng Phaolo VI, và đường lối của giáo hoàng Paul VI là trái với chủ trương của các giáo hoàng tiền nhiệm.Và trong giáo hội cũng có những xung đột, không phải tất cả có ý kiến thống nhất, tất cả đều đúng.

Ta có thể nói rằng quan điểm của Giáo hoàng Phaolo VI có nhiều sai lầm.  Trong  cuộc thế hiện nay, một số vì quyền lợi nào đó theo cộng sản mà lại ẩn nấp dưới danh nghĩa yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu vô sản, yêu công bằng, chống áp bức. Một số che đậy sự dại dột hoặc lưu manh của họ bằng danh từ hòa bình, hòa hợp hòa giải, nhân đạo...

Nhìn sâu xa, ta thấy khi chủ trương hòa bình, Ngài đã phạm it nhất ba sai lầm trầm trọng.

(1). Bất công, thiên vị.

Nói rõ ra là Ngài thiên cộng. Hành động hòa bình là của song phương chứ không phải một bên. Vatican nhượng bộ nhưng cộng sản vẫn cứng rắn, vẫn mạnh tay đánh đập nhân dân, bỏ tù nhân dân. Trong thương thuyết và kêu gọi hòa bình ngài đã làm những việc bất công. Tại sao Ngài tiếp Xuân Thủy mà không tiếp Nguyễn Văn Thiệu, ông ta cũng là con chiên của chúa đấy? Việc này chứng tỏ ngài muốn hy sinh miền Nam cho cộng sản để đổi lấy những lợi lộc nào đó.

 Dù sao đi nữa, giáo hoàng phải gặp cả đôi bên trình bày ý kiến của ngài và lắng nghe ý kiến của họ. Ngài tỏ thái độ khinh bỉ Nguyễn Văn Thiệu, ghét bỏ miền nam mà  cầu cạnh cộng sản. Ngài tỏ lòng yêu hòa bình, Ngài đã khen tặng Vũ Ngọc Nhạ, tại sao Ngài không khen tặng Nguyễn Chí Thiện,  lúc này cũng đang ở tù ngoài Bắc ? Ngài kêu gọi 300 giám mục, linh mục miền Nam chống chính phủ sao ngài không kêu gọi các giám mục, linh mục ngoài Băc tập họp độ 50 ông biểu tình chống độc tài, chống chiến tranh và đả đảo Liên Xô, Trung Cộng?  Ngài cũng như một số người khác kêu gọi miền Nam  trung lập, chống Mỹ tại sao không kêu gọi miền Bắc nói không với  Liên Xô, Trung Cộng, và kêu gọi Việt Cộng trung lập, độc lập?


Ngài tỏ ra thiên vị rõ rệt. Làm quan mà bất công thì dân bất phục, làm cha mà bất công thì con cái bất mãn. Làm lãnh tụ mà bất công thì thế giới cười chê!  Không lẽ Ngài cũng nhẹ dạ mà tin theo những lời đường mật của cộng sản? Không phải là giáo hoàng thì muốn làm sao thì làm , nói sao thì nói mặc dầu một số con chiên sẵn lòng tuân phục, mù quáng tin tưởng.  Một số người kết tội Phật giáo Ấn Quang bắt tay với cộng sản thì Giáo hoàng và Vatican cũng vậy mà thôi.Nếu có người ca tụng giáo hoàng, ca tụng nhóm LM Trần Hữu Thanh yêu chuộng hòa bình thì cũng nên ca tụng Phật giáo Ấn Quang mới là công bằng!

(2). Thiếu sáng suốt

Trung lập làm sao trong khi Bắc Việt được Liên Xô và Trung Quốc viện trợ mà bảo Việt Nam chống Mỹ  thì Việt Nam một mình sao chống nổi Việt Cộng, Trung Cộng và Nga Cộng? Chống Mỹ thì lấy ai giúp đỡ? Vatican có thể giúp Việt Nam chống Trung Cộng xâm lăng không? Pháp là một kẻ giả dối. Pháp kêu gọi loại trừ các lực lượng ngoại quốc ở Việt Nam nhưng Pháp lại muốn thay chân Mỹ như thế mà Pháp lại kêu gọi loại trừ quân ngoại quốc ra khỏi Việt Nam ư?

Có lẽ giáo hoàng Paul VI đã đi theo phong trào trung lập quốc tế. Trước cuộc chiến tranh lạnh tư bản cộng sản, trước xung đột Mỹ Nga, và xung đột Nga Hoa, Ấn Độ đã chọn đường lối trung lập. Phong trào không liên kết là một tổ chức quốc tế gồm các quốc gia tự xem mình là không thuộc hoặc chống lại bất kỳ khối cường quốc lớn nào. Phong trào này chủ yếu là chủ trương của Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru, cựu tổng thống Ai Cập Gamal Abdul Nasser và chủ tịch Nam Tư Josip Broz Tito.

Tổ chức được thành lập tháng 4 năm 1955; đến năm 2007, nó có 118 thành viên. Mục đích của tổ chức như đã ghi trong Tuyên bố La Habana năm 1979 là đảm bảo "sự độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của các quốc gia không liên kết" trong "cuộc chiến chống lại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa thực dân kiểu mới, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.....Họ đại diện cho gần hai phần ba thành viên Liên Hiệp Quốc và 55 phần trăm dân số thế giới, đặc biệt là những quốc gia được xem là đang phát triển hoặc thuộc thế giới thứ ba. Tổ chức được thành lập tháng 4 năm 1955; đến năm 2007, nó có 118 thành viên. NHưng cái tổ chức Phi liên Kết này là một loại loại trung lập dối trá,là trung lập thân Nga, trung lập thân trung cộng. Hồ Hữu Tường, Phạm Công Tắc đã sai lầm khi theo chủ trương này vì nước ta nếu không có MỸ làm sao đượng cự với Nga, Tàu? Hồ Hữu Tường, Phạm Công Tắc sai lầm mà giáo hoàng Paul VI cũng sai lầm.

Khoảng1962, Pháp biết Mỹ muốn rút khỏi Việt Nam, nhân Mỹ và chính phủ Ngô Đình Diệm có mâu thuẫn, Pháp muốn Ngô Đình Diệm hất Mỹ mà trở về trong vòng tay của Pháp. Pháp có lẽ đã vận động với giáo hoàng với bao lời ngon ngọt, và bao hình ảnh huy hoàng một Đông Dương trung lập, người Pháp sẽ trở lại Việt Nam sẽ giúp Vatican mở rộng nước trời! Nhưng theo Pháp và Trung Cộng thì  sao là trung lập? Đuổi Mỹ, dầu hàng Việt Cộng tức là theo Nga, theo Tàu, theo Pháp, tức là chịu mất nước, nhưng khi mất nước, giáo dân có được tự do thờ Thượng Đế như cũ hay là sẽ bị kìm kẹp nặng hơn và mất tự do hơn?

(3). Hòa bình thất bại

 Cuộc hòa giải của Vatican từ đó đến nay đã có những thắng lợi gì? Chỉ thấy nhân dân Việt Nam hai miền cùng đạu khổ vì Tổ quốc bị xâm chiếm, nhân quyền và dân quyền ngày càng bị chà đạp.
Ai cũng muốn tự lập, độc lập , không nhờ cậy người khác, nhưng Việt Nam là một nước bé nhỏ thì biết làm sao? Sự hiện diện của Mỹ tại miền Nam không là tai họa mà chính sự rút lui của Mỹ mới là đại bất hạnh cho miền Nam.  Mặc dầu Ngài kêu gọi dân miền Nam ở lại, nhưng gần  nửa triệu người đã vượt biên. LM. Cao Văn Luận là sứ giả của Giáo hoàng đã chuyển lời kêu gọi giáo dân ở lại hưởng hòa bình và xây dựng XHCN, sao bản thân ngài không ở lại mà chạy sang Mỹ? Lời giáo hoàng kêu gọi nhưng có lẽ đa số con chiên đã bỏ ngoài tai vì dân Hố Nai Biên Hòa, dân Bắc di cư đa số đã ra đi.Chính các ông bà hăng hái kêu gọi hòa bình chống Mỹ thì ngay sau 1975 đã cuốn gói theo "đế quốc Mỹ" như LM Trần Hữu Thanh, BS Nguyễn Thị Thanh.
 Sau 1975 cho đrến nay,  nguời Việt hai miền  cũng tiếp tục bỏ nước ra đi. Một triệu người? Hai triệu người?  Ngay cả những kẻ đã từng ôm chân Việt Cộng như  Trưong Như Tảng, Đoàn Văn Toại, Lê Văn Hảo, Nguyễn Văn Hảo, Châu Tâm Luân...  sau một thời gian phục vụ cộng sản đã phải bỏ nước mà đi. .Đó là những câu trả lời mạnh mẽ về quan điểm hòa bình của Ngài. .Cái uy danh của Ngài đâu có cứu được các sĩ quan, viên chức Thiên chúa giáo khỏi bị tù, đất nhà thờ không bị tước đoạt. Cái  chủ trương hòa bình của Ngài đâu cứu được đất Thái Hà, nhà thờ Đồng Hới, giáo xứ Cồn Tiên và hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn nhà cửa, ruộng đất của dân oan?
Thực tế cho thấy sau 1975, hoà bình trở lại, nhưng nhân dân ta khổ hơn thời chiến tranh. Số lớn sĩ quan, nhân viên hành chánh cao cấp của VNCH bị tù, bị giết, nhân dân bị cộng sản tịch thâu tài sản, bị đối xử phân biệt, mất mọi thứ tự do. trong khi cộng sản có mọi thứ quiyền hạn và mọi thứ tự do, đó là tự do đàn áp, tự do cướp nhà, cướp đất của nhân dân, tự do cướp tài sản quốc gia, và tự do chia chác mọi quyền lợi kinh tế tài chánh trong khi nhân dân đói khổ, phải đi lao động khắp nơi trên thế giới trong đó có dịch vụ buôn người và dịch vụ bán dâm.


Mặc dù giáo hoàng tuyên bố vì mục đich hòa bình nhưng thật sự chiến tranh vẫn tiếp diễn, đó là chiến tranh cho độc lập và chiến tranh cho tự do dân chủ. Mặc dù giáo hoàng kêu gọi hòa bình nhưng xã hội vẫn sống trong bất an và đau khổ. Chính các tông đồ của chúa cũng bị hành hạ tù đày, chính tài sản của nhà thờ bị tịch thu. Nói tóm lại, chính sách hòa bình của Giáo hoàng Phaolo VI đã thất bại. Ngài cũng như đám GPMN, như các ông Thích Nhất Hạnh, Phạm Minh Mẫn, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín chỉ làm lợi cho cộng sản, và đã bị cộng sản lợi dụng.


Giáo hội Vatican gồm những bậc đại thánh nhưng chính các vị đã không giữ đạo trung dung, đi từ cực đoan này sang qua cực đoan khác.Trước và trong chiến tranh Pháp Việt, các bậc chăn chiên tàn sát cộng sản, căm ghét ghét những ai là vô thần hoặc không cùng tôn giáo với các vị,  nay các vị lại quỳ lạy cộng sản, mặc cho cộng sản đạp lên đầu lên cổ.

Một số người nhẹ dạ vì ảo tưởng hòa bình như giám mục Nguyễn Kim Điền:

" Ngày 1.4.1975, nghĩa là chỉ một tuần sau khi tiếng súng im bặt trên thành phố Huế, Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền đã gửi cho các tín hữu một bức tâm thư, vừa thấm đậm tinh thần Tin Mừng, vừa chứa chan tình dân tộc: “Chiến tranh đã chấm dứt trên giáo phận Huế (…). Chúng ta hãy cùng nhau cảm tạ Thiên Chúa về hồng ân quý giá này (…) Giờ đây, đã đến lúc chúng ta hoan hỉ, sẵn sàng và hăng say cộng tác với mọi người thiện chí, dưới sự chỉ đạo của chính quyền cách mạng, để xây dựng lại quê hương sau bao đổ vỡ tang tóc, hầu đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào ruột thịt. Hơn bao giờ hết, đây là lúc chúng ta cần đoàn kết, yêu thương và phục vụ người khác(…). Giờ đây, chúng ta hãy khoan dung tha thứ mọi lỗi lầm, đừng nghi ngờ, thù hận ai và gây sợ hãi cho ai”.(47)


Giám mục Nguyễn Kim Điền viết như thế là nịnh giáo hoàng, nịnh cộng sản mà đui mù và điếc trước nỗi khổ của nhân dân miền Nam mà từ đó cho đến nay ngày càng thêm bi thảm. Không lẽ GM Nguyễn Kim Điền không có anh em bà con đi tù cộng sản hay chết chìm giữa biển trên con đường đi tìm tự do? Không lẽ Ngài ở kín trong lâu đài cao không nghe nhân dân miền Trung, miền Nam kể khổ :"  Giặc từ  miền Bắc vô đây Bàn tay nhúng máu đồng bào/..Giặc từ  miền Bắc vô đây Bàn tay nhúng máu anh em/..."


Theo tài liệu của Giám mục Nguyễn Thái Hợp, giáo hoàng Phaolo đã can thiệp vào Việt Nam từ 1964. Chúng ta không biết trước đó Ngài có chỉ đạo hòa bình cho Ngô Đình Diêm hay không. Nếu như thế là Ngô Đình Diệm đã phản bội quốc gia theo lệnh giáo hoàng Phaolo VI. Nếu Ngô Đình Diệm hoạt động tự phát, tức là do lòng gian tham, không yêu nước, không thương dân, đã vì quyền lợi gia đình và phe nhóm mà lừa đảo nhân dân Việt Nam.


Chúng ta ca tụng những con người của chính nghĩa quốc gia như Nhất Linh, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, - Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ đã tuẫn tiết. Chúng ta ca tụng tinh thần tranh đấu cho dân chủ và tự do của  các nhà văn trong Nhân Văn Giai Phẩm. Chúng ta kính trọng những nhà tu bất khuất như Cố Hòa thượng Huyền Quang, Hoà thượng Quảng Độ, Thượng tọa Thích Thiện Minh, hội trưởng Lê Quang Liêm, LM. Nguyễn Văn Lý, LM. Phan Hữu Lợi. Chúng ta tán thưởng những người cộng sản giác ngộ đã từ bỏ cộng sản như Trần Xuân Bách, Nguyễn Văn Trấn, Trần Độ , Nguyễn Kiến Giang. Chúng ta yêu Chúa nhưng không bắt tay với Satan, chúng ta yêu hòa bình nhưng không yêu kẻ ác. Chúng ta tranh đấu cho hòa bình, tự do, dân chủ thực sự chứ không cam chịu nô lệ. Chúng ta không để mất Việt Nam. Chúng ta giữ độc lập và tôn trọng tư do nhân quyền trong đó có tự do tôn giáo. Phật, Chúa, Thành Thần luôn tồn tại trong ta không bao giờ mất. Với tinh thần yêu nước , yêu dân theo truyền thống, người Việt Nam sẽ đoàn kết và tiến lên tranh đấu với quỷ dữ và sẽ chiến thắng huy hoàng. Rên rỉ, van xin là hèn yếu và giả đối. Nhân dân Việt Nam đã và sẽ thành công trong việc giữ nước và giữ đạo.

Sơn Trung


Chú thích:
_____
1. Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam Một TrờI Tâm Sự, Xuân Thu, CA, 1987, tr. 80, 205
2. Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cng Hòa Toàn Thư 1954-1963. tác giả xuất bản,
WA, 1998, 191-192.
3. Đỗ Mậu. Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi. Văn Nghệ, CA, 1993, ch.8, 13-17
4. Nguyễn Chánh Thi, 81.
5. Hồ sơ cái chết Nhất Linh .Văn Học, Saigon. số 109, th.10-1962.
6. Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi. Văn Nghệ, CA, 1993,.406.
7. Lê Xuân Nhuận. Biến Loạn Miền Trung, Xây Dựng .CA, 2012 tr. 236, 237, 238)
8. Nguyễn Việt Nữ. Lãnh chúa Ngô Đình Cẩn đầu cơ gạo để tiếp tế cho cộng sản Bắc Việt lúc nào? http://anhthudatviet.blogspot.ca/2013/06/lanh-chua-ngo-inh-can-au-co-gao-e-tiep.html
9. Nguyễn Chánh Thi, 47-51.
10. Nguyễn Mạnh Quang, 400.
11. Trúc Giang .Việt Cộng nằm vùng thời nào cũng có http://www.vietlist.us/SUB_Reader/reader622.shtml
12. Nguyễn Trương Thiên Lý. Ván Bài Lật Ngữa. Phần IV
13. Phan Tùng Sơn. Kỳ 2: Những cuộc đấu trí trong lao tù . Quân Đội Nhân Dân. http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/250617/print/Default.aspx
14. Công tử Hà Đông-Ký giả Saigon.--http://hoanghaithuy.wordpress.com/2012/12/19/ky-gia-sai-gon/ )
15. Đỗ Mậu. sđd, 58.
16 Lý Tòng Bá. (Tạp chí Đông Phương, phát hành miền Đông Hoa Kỳ tháng 8 năm 2001, từ trang 36 đến trang 40) là người chỉ huy Sư Đoàn 7 của trận Ấp Bắc.Hành quân bắt được LÊ DUẨN nhưng cuối cùng được Diệm Nhu thả. (Đỗ Trọng trich trong Nhìn lại sự thật lịch sử 50 năm qua.Anh Em Diệm, Nhu Thỏa Hiệp Với CSBV.
.http://daovang.free.fr/NhinLaiLichSu50NamQuaTTDiemVaCVNhuThoaHiepVoiCongSanBacViet.html)
(17). Huỳnh Văn Cao. Một Kiếp Người . tr.18-19. Tác giả cũng nói đến việc Diệm Nhu thả Lê Duẩn. Đỗ Trọng trích lại. Nhìn lại sự thật lịch sử 50 năm qua.Anh Em Diệm, Nhu Thỏa Hiệp Với CSBV
...http://daovang.free.fr/NhinLaiLichSu50NamQuaTTDiemVaCVNhuThoaHiepVoiCongSanBacViet.html
18. . Đỗ Trọng trích lại. tài liệu trên.
19. Đỗ Trọng. . tài liệu trên
20. Đỗ Mậu, s đd, chuơng XIX
21. Đỗ Mậu, như trên.
22. Nguyễn Chánh Thi, sđd, 38-108
23. Nguyễn Chánh Thi sđd, 47
24. Trich Nguyễn Trân. Công và Tội. Nguyễn Việt Nữ. Bệnh 4 không và thuốc chữa. Http://anhthudatviet.blogspot.ca/2013/02/benh-bon-khong-va-thuoc-chua.html
25. Lê Xuân Nhuân, Biến Loạn Miền Trung, 45, 483.
26.Trúc Giang.Cụm tình báo chiến lược A.22 của VC ở Dinh Độc lập. Chuyển Luân. -http://www.chuyenluan.net/index.php?option=com_content&view=article&id=6107:cum-tinh-bao-vc-o-dinh-doc-lap&catid=15:gopnhatcatda
27.Trúc Giang. như trên.
28.Nguyễn Đức Vinh.- Vũ Ngọc Nhạ.Báo An ninh thế giới- WIKIPEDIA)
29. Đỗ Mâu, ibid. chương XVI, Từ đồng minh vớI Mỹ đến thỏa hiệp với cộng sản, 537 -602.
30. Trần Văn Đôn, Việt Nam Nhân Chứng, Xuân Thu, CA, 1989, 183-184.
31. Trần Văn Đôn sđd, .597.
32. Cao Thế Dung, Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa. Alpha,1991,.545-548.
33. Hồ Sơ Mật Của Ngũ Giác Đài. Lan Vi, Hồng Hà, Dương Hùng dịch. Đai Nam, 1971, 199.
34. Hồ Sơ Mật Của Ngũ Giác Đài., 205.
35. Cao Thế Dung, Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa. Alpha,1991,.545-548.
36. Đỗ Mậu, sđd. 556.
37. Nguyễn Văn Châu, Ngô Đình Diệm: Nỗ Lực Hoà Bình Dang Dở. Nguyễn Vy Khanh dịch.
Xuân Thu, CA, 1989, 13-14.
38. Nguyễn Văn Châu.,140-142.
39. Nguyễn Văn Châu, ,142.
40. . Lê Tùng Minh. Tạp chí Cách Mạng của Đại Việt, VA, 2000).
41. Lê Xuân Nhuận.PHẢN-BỘI ĐỒNG-MINH.http://lexuannhuan.tripod.com/PhanDoMi.html
42. Bảo Đại.  “Con Rồng Việt Nam”, Nguyễn Phước Tộc, California 1990., tr.517.
43.  Nguyễn Văn Châu.246.
44 . Lê Xuân Nhuân, Biến Loạn Miền Trung 142-143.
45.. Lê Xuân Nhuận.Biến Loạn Miền Trung. Xây Dựng CA, 2012, 483.
46. GM. Phaolô Nguyễn Thái Hợp Tương quan giữa Giáo hội và Nhà nước tại Việt Nam Conggiao.info5/20/2013 8:19:18 AM. Nguồn: Hiệp Thông Bản tin của Hội đồng Giám mục Việt Nam số 75 (tháng 3&4 năm 2013).
http://www.simonhoadalat.com/giaoducgd/SuyTu/34TuongQuanGHvaNhaNuoc.htm
47. Tạp chí Đứng Dậy, số 70, ngày 4.7.1975, tr. 37-38. Theo GM Nguyễn Thái Hợp.

No comments: