Monday, October 17, 2016

LÝ THUYẾT XÂM LƯỢC CỦA TRUNG CỘNG - TRUNG CỘNG - SƠN TRUNG

Sunday, March 17, 2013

LÝ THUYÉT XÂM LƯỢC CỦA TRUNG CỘNG

Trung Quốc và thuyết “trỗi dậy hòa bình” trấn an Mỹ

Trung Quoc va thuyet “troi day hoa binh” tran an My (III)
- "Từ năm 2002, giới tinh hoa Trung Quốc, đại diện là Zheng Bijian, từng là Trợ lý cho Chủ tịch Hồ Cẩm Đào bắt đầu phát triển lý thuyết mới về “sự trỗi dậy hòa bình”, nhằm giải quyết nguồn gốc sâu xa sự hoài nghi về Trung Quốc của phương Tây nói chung và Mỹ nói riêng".

Người Mỹ không quên “mối đe dọa Trung Quốc”
Như đã đề cập ở trên, trong quan hệ Mỹ - Trung không chỉ bao gồm khía cạnh “xây dựng và hợp tác”, mà còn bao gồm cả khía cạnh “thẳng thắn” ở những vấn đề bất đồng hay nghi ngờ giữa hai nước.
Chính vì vậy, khi các nhà ngoại giao đang nỗ lực tăng cường phát triển quan hệ chính trị giữa hai nước thì các nhà hoạch định chiến lược quốc phòng Mỹ vẫn luôn cẩn thận đề phòng với sự phát triển kinh tế và sức mạnh quân sự của Trung Quốc.
Nói cách khác, bóng ma về “mối đe dọa Trung Quốc” không bao giờ biến mất trong tâm lý của một số người Mỹ. Năm đầu tiên trong nhiệm kỳ hai của Bush, vấn đề Trung Quốc, sau khi đã lắng dịu đi một cách đáng kể từ ba năm trước, đột nhiên lại trở thành tâm điểm của công luận Mỹ.
Trong suốt năm 2005, phương tiện truyền thông Mỹ dành số lượng thời gian đáng kể đưa tin về Trung Quốc và quan hệ Mỹ - Trung. Vô số các tiêu đề bài báo, tin thời sự, bài tạp chí và sách tập trung vào các vấn đề kinh tế - quân sự có khúc mắc trong quan hệ hai nước.
Chẳng hạn về kinh tế, những lo ngại nảy sinh từ các hậu quả “toàn cầu hóa”, tăng đáng kể về giá dầu do sự trỗi dậy của Trung Quốc; các vụ mua lại các công ty Mỹ của các công ty Trung Quốc (như Tập đoàn Chinese National Offshore Oil Corporation (CNOOC) mua lại Công ty dầu Unocal, Haier mua Công ty sản xuất Maytag của Mỹ và Lenovo mua lại chi nhánh máy tính cá nhân IBM).
Về quân sự, vô số báo cáo của Bộ Quốc phòng và Quốc hội đều mang âm điệu đáng ngại trước việc Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng quân đội hiện đại. Một số người coi điều này như là làn sóng khác về “cơn sốt Trung Quốc” trong công chúng Mỹ. Những người khác gọi là sự quay trở lại của sự bài ngoại “mối đe dọa Trung Quốc”.
Nhưng dù bất cứ diễn tả nào, lý do thật sự đằng sau của làn sóng mới này là nhận thức về sự trỗi dậy của Trung Quốc như cường quốc khổng lồ về kinh tế và quân sự. Rõ ràng, một số chính khách và lãnh đạo quân sự và giới tinh hoa Mỹ đang lo lắng về tốc độ trỗi dậy của Trung Quốc, đặc biệt về quân sự. Việc sa lầy tại Iraq cũng làm tăng thêm sự lo ngại này của họ.
"Thuyết trỗi dậy hòa bình"
Nắm bắt được vấn đề này, những nhà hoạch định chính sách đối ngoại Trung Quốc tìm cách làm dịu đi mối lo ngại từ phía Mỹ và các nước khác. Bởi vì, họ hiểu rằng nếu không nó cũng sẽ không mang lại sự ổn định trong mối quan hệ hai bên.
Vì vậy, từ năm 2002, giới tinh hoa Trung Quốc, đại diện là Zheng Bijian, từng là Trợ lý cho Chủ tịch Hồ Cẩm Đào bắt đầu phát triển lý thuyết mới về “sự trỗi dậy hòa bình” nhằm giải quyết nguồn gốc sâu xa sự hoài nghi về Trung Quốc của phương Tây nói chung và Mỹ nói riêng.
Trong phát biểu nhân chuyến thăm Mỹ, Tổng bí thư Giang Trạch Dân cố gắng lèo lái luận điểm: Mỹ cần một khung chiến lược mới để nhìn sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc. Zheng Bijian tuyên bố Trung Quốc sẽ nắm lấy con đường mới trỗi dậy hòa bình hoàn toàn khác với Đức, Nhật và Liên Xô cũ.
Con đường mới được đặc trưng bởi sự gắn kết hơn là tách biệt khỏi tiến trình toàn cầu hóa kinh tế. Toàn cầu hóa kinh tế khiến sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc là có thể.
Sự phát triển của Trung Quốc cần môi trường hòa bình, đổi lại, sự phát triển đó sẽ củng cố hơn nữa hòa bình quốc tế. Tóm lại, sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc mang lại những cơ hội hơn là thách thức cho cộng đồng quốc tế.
Thuyết “sự trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc rõ ràng có tác động đến nhận thức của quan chức và giới tinh hoa Mỹ. Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Robert B. Zoellick cho rằng: “Việc làm thế nào đối phó với sức mạnh đang không ngừng trỗi dậy của Trung Quốc là một vấn đề quan trọng trong chính sách ngoại giao của Mỹ.”
Và ông nêu ra quan điểm “Mỹ phải thay đổi chính sách “hòa nhập” trong 30 năm qua” nhằm “giúp Trung Quốc vận dụng hành động mang tính xây dựng.”(15)
Phát biểu của Thứ trưởng Ngoại giao Rober Zoellick về mối quan hệ hai nước vào tháng 9/2005 là sự cụ thể hóa cho sự thay đổi này (16). Trong phát biểu của mình, Zoellick đặt ra một số nền tảng mới trong quan hệ Mỹ - Trung. Ông đưa ra thuyết về “Bên liên quan lợi ích có trách nhiệm”.
Chính sách này nhằm đưa Trung Quốc trở thành “Bên liên quan lợi ích có trách nhiệm” trong hệ thống quốc tế đang tồn tại do Mỹ giữ vai trò chủ đạo. Trong đó, lần đầu tiên trong tuyên bố chính thức của chính quyền, ông chỉ ra rằng, Trung Quốc không có hệ tư tưởng cực đoan và chống Mỹ và không tìm cách lật đổ hệ thống quốc tế đang tồn tại. Kết luận này cơ bản chấm dứt sự tranh cãi lâu nay trong công chúng Mỹ về việc liệu Trung Quốc có thành một Liên Xô kế tiếp hay không trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh Lạnh.
Zoellick cũng tuyên bố là Trung Quốc không còn đứng ngoài hệ thống quốc tế. Sau hai thập kỷ cải cách và mở cửa, Trung Quốc đã trở thành thành viên toàn diện của hệ thống quốc tế. Dù Trung Quốc vẫn chưa phải là một nền dân chủ, nhưng bản thân Trung Quốc không bao giờ tham gia vào cuộc chiến chống dân chủ. Vì vậy, Mỹ không cần loại bỏ hợp tác lâu dài với Trung Quốc. Khái niệm thú vị nhất được đề ra trong phát biểu này là kêu gọi Trung Quốc trở thành “Bên liên quan lợi ích có trách nhiệm” trong hệ thống quốc tế dù ông không thực sự giải thích cụm này có nghĩa là gì.
Cụm từ mới “Bên liên quan lợi ích có trách nhiệm ”gây ra sự tranh luận sôi nổi trong giới quan sát về Mỹ của Trung Quốc. Tranh luận trở nên thú vị hơn do tính mơ hồ của cụm từ này và khó khăn trong việc dịch sang tiếng Trung Quốc với một cụm từ tương ứng.
Xuất hiện một vài cách dịch khác nhau trên các phương tiện truyền thông của Trung Quốc. Một số nhà phân tích Trung Quốc chỉ ra rằng Mỹ đang hình thành nên một chiến lược mới với Trung Quốc và Mỹ sẵn sàng chấp nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Những người khác hoài nghi ý định thực sự đằng sau khái niệm này. Họ chỉ ra rằng, trong khi khái niệm này cho thấy Washington chính thức công nhận Trung Quốc như thành viên hợp pháp của hệ thống quốc tế hiện thời, nó cũng có nghĩa là hiện thời Washington sẽ đặt ra một bảng chuẩn cao hơn cho các vấn đề trong nước và quốc tế của Trung Quốc.
Trong quá khứ Mỹ có thể cho Trung Quốc một số đối xử đặc biệt về thương mại, nhân quyền, phổ biến hạt nhân… khi Trung Quốc vẫn là nước đứng ngoài hệ thống, sự đối xử đặc biệt đó không còn được đảm bảo cho một bên liên quan lợi ích có trách nhiệm.
Cuộc đối thoại nhận thức công khai như vậy là chưa từng thấy trong lịch sử quan hệ Mỹ - Trung. Nó chỉ ra rằng cả hai nước nhận thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của việc tìm ra khung nhận thức chiến lược mới nhằm xác định và ổn định quan hệ này.
Mỹ muốn tìm ra một lí do nhận thức hợp lý để chấp nhận và ở mức độ nào đó thậm chí giúp đỡ sự trỗi dậy của Trung Quốc với tư cách là một cường quốc lớn. Dần dần, khái niệm “Bên liên quan lợi ích có trách nhiệm” nằm trong ngôn ngữ của Mỹ về Trung Quốc. Cụm từ này nằm trong những văn kiện chính thức ở các cấp khác nhau trong Bộ Ngoại giao, Nhà Trắng và Lầu Năm góc như được phản ánh trong hai văn kiện gần đây của chính quyền là QDR và NSS.
Trong chuyến thăm Mỹ gần đây của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, các nhà lãnh đạo hàng đầu hai nước rõ ràng cũng chấp thuận cách nói này. Trong nhận xét hoan nghênh luật South Lawn của Nhà Trắng, Tổng thống Bush lần đầu tiên tự dùng cụm từ này (17). Đổi lại, nhận xét của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào trong bữa ăn trưa tại Nhà Trắng cũng đề cập cụm từ này dù ông nhanh chóng thêm rằng Trung Quốc và Mỹ nên trở thành “đối tác mang tính xây dựng”(18).
Bắt đầu với khái niệm "Bên liên quan lợi ích có trách nhiệm", có vẻ các nhà hoạch định chính sách cấp cao trong Chính quyền Bush cố đưa ra một tập hợp ngôn ngữ mới để định nghĩa về Trung Quốc và quan hệ của Mỹ với nước này.
Gần đây, Mỹ vẫn chưa sẵn sàng với sự trở lại của ngôn ngữ dưới thời Clinton và gọi Trung Quốc là một “đối tác chiến lược” theo nghĩa rõ ràng. Có vẻ Nhà Trắng vẫn lo lắng nhiều về việc sử dụng từ “chiến lược” để mô tả quan hệ với Trung Quốc giống như nghĩa của cụm từ “đối tác chiến lược” vốn được dành cho những đồng minh của Mỹ và các nền dân chủ (theo định nghĩa của Mỹ).
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của khái niệm "Bên liên quan lợi ích có trách nhiệm", Mỹ hiện sẵn sàng thảo luận những vấn đề “chiến lược” trong quan hệ hai nước và công nhận Mỹ và Trung Quốc có một số “lợi ích chiến lược” chung. Những điều chỉnh chính sách này phản ánh một thực tế là quan hệ Mỹ - Trung đã vượt xa phạm trù quan hệ song phương, hai nước cần phải hợp tác trong các công việc chung để đối phó với muôn vàn thách thức của quốc tế thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh.

Chú thích:
15) “Xu hướng điều chỉnh chiến lược của Chính quyền Bush đối với Trung Quốc”. TTXVN, TLTKĐB, Tr1-9, 2006
16) Zoellick, Robert (2005a) “Whither China: from membership to responsibility,” remarks to National Committee on U.S.-China Relations, September 21, 2005, http://www.ncuscr.org /articlesandspeeches/Zoellick.htm.
17) Bush, George W. and Hu Jingtao (2006a) , “President Bush and President Hu of People’s Republic of China participate in arrival ceremony,” April 20, 2006, http://www.whitehouse.gov /news/releases/2006/04/images/20060420_v042006db-0046jpg515h.html.
18) Bush, George W. and Hu Jingtao (2006b), “President Bush and People’s Republic of China President Hu change luncheon toasts,” April 20, 2006, http://www.whitehouse.gov/news/releases/2006/04/20060420-2.html.
Theo Nguyễn Lan Hương (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 133, tháng 4/2009)
Đây chỉ là bản lưu tạm thời của bài viết được thực hiện tự động bởi một chương trình máy tính. Để đảm bảo tính xác thực thông tin, các bạn có thể  Xem tin gốc  
Chơi ngay!

TRUNG QUỐC THẤT BẠI TẠI BIỂN ĐÔNG

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng

Email In PDF.
Về khía cạnh chiến lược, chính sách ngoại giao, quan hệ quốc tế và truyền thông trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã hoàn toàn bại trận. Dường như không một quốc gia nào ủng hộ lập trường cũng như lối hành xử của nước này. Bài viết của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Singapore, Trịnh Vĩnh Niên trên Liên hợp Buổi sáng phân tích về nguyên nhân thất bại cũng như đối sách cho Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.



Thời gian gần đây, mọi người đều vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng, đã bao nhiêu năm nay, song song với sự trỗi dậy của Trung Quốc là chuỗi "liên hoàn bại trận" của chính nước này trong các vấn đề về Biển. Đặc biệt bắt đầu từ năm ngoái, xu hướng này ngày càng hiện ra rõ ràng hơn.
Trung Quốc đã nỗ lực theo đuổi chiến lược "Trỗi dậy hòa bình" (Phát triển hòa bình) ngay sau công cuộc cải cách mở cửa. Trên rất nhiều phương diện, Trung Quốc đã từ bỏ chính sách chủ nghĩa đơn phương vốn đã tuân thủ từ rất lâu trước đó, đồng thời phát triển quan hệ hữu nghị đa phương với các nước ASEAN. Khu vực tự do thương mại Trung Quốc-ASEAN cũng đã bắt đầu có hiệu lực. Trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc đã đề xuất chủ trương "Gác tranh chấp chủ quyền, cùng khai thác chung". Những biện pháp này xét từ góc độ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng đã hình thành nên sách lược và kim chỉ nam ngoại giao "Giấu mình chờ thời" của Trung Quốc suốt từ thời Đặng Tiểu Bình đến nay. Thế nhưng rất nhiều người đã cảm nhận ra rằng, trên rất nhiều vấn đề có liên quan, nếu như Trung Quốc không thể trực diện đối mặt thì sẽ góp phần đẩy chính sách của họ đi theo hướng ngược hẳn lại.
Sự quan tâm chú ý của toàn bộ khu vực Châu Á và cộng đồng quốc tế cho tới thời điểm này đều tập trung vào vấn đề Biển Đông, Biển Đông đột nhiên lại thêm một lần nữa trở thành điểm nóng của thế giới. Chính quyền Trung Quốc dường như lại không hiểu rõ tình trạng hiện nay. Đối với Trung Quốc mà nói, chính sách Biển Đông về bản chất không hề có bất cứ một thay đổi nào, chỉ là các nước có liên quan tiến hành một loạt các hành động không có lợi cho Trung Quốc, và phản ứng của Trung Quốc theo đó cũng chỉ tương đương với hình thức "cứu hỏa" mà thôi.
Trên thực tế, từ rất nhiều năm trở lại đây, chính bởi vì nguyên do Trung Quốc luôn áp dụng các biện pháp bị động đối phó lại khiến cho vấn đề Biển Đông ngày một tích tụ chồng chất lại, và rồi dẫn đến cục diện như ngày hôm nay. Không quan tâm Trung Quốc có muốn hay không, có nắm rõ tình hình hay không, thì Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức chưa từng có trong vấn đề Biển Đông này.
Thứ nhất, Trung Quốc sớm đã hoàn toàn thất bại tại cuộc chiến công luận quốc tế.
Trong nhiều năm qua, khi Trung Quốc vẫn còn đắm chìm trong thuyết "Trỗi dậy hòa bình" do chính họ tạo dựng nên, thì các quốc gia có liên quan đã nỗ lực với tinh thần cao nhất và chuẩn bị đầy đủ trên trường quốc tế để chờ đợi vấn đề Biển Đông sẽ nổi lên như trong dự tính đã có sẵn. Xét trên hệ thống kiến thức (luật pháp), Trung Quốc hiện nay thật khó khăn để tìm ra được bất kỳ một lực lượng hỗ trợ có hiệu quả nào cho họ. Về xu hướng các giới truyền thông báo chí không đứng về phía Trung Quốc đã hình thành như hiện nay thì Trung Quốc cũng không có quyền phát biểu tại đây. Các nhà bình luận cho rằng dùng "Chính sách cứng rắn" để mô tả thái độ của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông là chưa đầy đủ, chính xác phải gọi đó là "mang tính chất tranh cướp" mới đúng. Trên thực tế, cách nhận thức tương tự như vậy của Trung Quốc đã trở nên khá phổ biến trong cộng đồng quốc tế. Bản thân Trung Quốc lại quả quyết cho rằng họ không làm gì mà lại bị đối xử "oan uổng" như vậy, đây chính là căn nguyên khiến Trung Quốc bị mất quyền phát biểu trong cuộc chiến công luận quốc tế này.
Thứ hai, Trung Quốc cũng thua trận trong cuộc chiến chiến lược.
Các nước liên quan đều có những chiến lược khá rõ ràng trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, cụ thể bao gồm các chiến lược như chủ nghĩa đa phương tại khu vực, quốc tế hóa, chính trị hóa đại quốc. Thế nhưng chiến lược của Trung Quốc nếu không dám đối mặt với sự thực thì sẽ là nhập nhằng không rõ ràng. Trung Quốc từ chối chi tiết hóa vấn đề, sử dụng khái niệm "phản đối quốc tế hóa" vô cùng vĩ mô này nhằm che lấp vấn đề cụ thể. Trên thực tế, tranh chấp Biển Đông đã được đa phương hóa, quốc tế hóa từ rất lâu rồi, hơn nữa sẽ rất nhanh tiến đến giai đoạn "chính trị hóa đại quốc" trong thời gian tới. Trung Quốc chỉ là không dám thừa nhận sự thực hiển hiện ra trước mắt này mà thôi.
Thứ ba, nếu tình hình vẫn tiếp diễn như vậy, Trung Quốc sẽ bị ràng buộc để cuối cùng rơi vào tình trạng mất chủ quyền trong cuộc chiến.
Như đã đề cập ở phần trên, từ năm ngoái cho đến năm nay, chính sách Biển Đông của Trung Quốc về bản chất không hề có bất cứ một thay đổi nào, mà chủ yếu chỉ là một số hành động mang tính chất phản ứng lại. Thế nhưng cho đến thời điểm này, bất cứ nước nào cũng đều cho rằng Trung Quốc chính là nguyên nhân phát sinh của mọi vấn đề. Tình hình thực tế là, các nước khác có liên quan vẫn đang xúc tiến các hoạt động và hành động trong khu vực tranh chấp Biển Đông, đặc biệt là trong việc phát triển nguồn năng lượng.
Trung Quốc chìm đắm trong "giấc mộng".
Đã nhiều năm nay, trong vấn đề tranh chấp Biển Đông (cũng như trong nhiều vấn đề khác), Trung Quốc dường như luôn sống trong "giấc mộng" mà chính bản thân họ tự vạch ra. Nhìn từ góc độ chiến lược, Trung Quốc không phải là không có cơ hội để chiếm ưu thế trong vấn đề Biển Đông này, mà thay vào đó lại tự động vứt bỏ những ưu thế đáng lẽ họ chiếm được ... Điều đáng tiếc là, những hành động của TQ không những không chiếm được sự đồng cảm của các nước liên quan đến tranh chấp mà cuối cùng dẫn đến kết quả hoàn toàn ngược lại, gây tổn hại cho chính lợi ích quốc gia của mình.
Vậy thì, kết quả cuối cùng sẽ như thế nào đây? Trung Quốc liệu sẽ từ bỏ chăng? Trong giới báo chí truyền thông vô cùng phát triển như ngày hôm nay, phạm vi xu hướng thỏa hiệp mà các nhà cầm quyền có thể áp dụng được ngày một nhỏ,càng không cần nói đến chuyện từ bỏ. Nếu tình hình này vẫn cứ tiếp diễn thì cuối cùng chắc chắn sẽ dẫn đến các cuộc xung đột xảy ra.Tuy nhiên xung đột trong thời gian này sẽ vô cùng bất lợi đối với Trung Quốc.
Vấn đề đã xuất hiện rồi, thì phái có cách đối phó lại. Nhiệm vụ đầu tiên cần phải làm là tìm hiểu rõ tại sao lại xuất hiện tình trạng như vậy? Ngoài các vấn đề xuất phát từ chính bản thân Trung Quốc thì còn có một số nguyên nhân quan trọng khác nữa. Đối với các nước có liên quan mà nói thì đây là sản phẩm phát sinh từ "môi trường quốc tế" và "môi trường nội bộ".
Đầu tiên đề cập đến môi trường quốc tế. Đối với các quốc gia có liên quan thì nhân tố quan trọng nhất trong môi trường quốc tế không thể không nhắc đến sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc và kéo théo sau đó là hiện đại hóa nền quốc phòng, quân sự cũng như từ đó tác động đến cục diện địa chính trị của toàn bộ khu vực Châu Á. Các quốc gia có liên quan đã bắt đầu cảm thấy rằng thời gian không còn đứng về phía họ nữa. Mặc dù Trung Quốc luôn nhấn mạnh về sự "trỗi dậy hòa bình" của mình, thế nhưng họ lại bị coi là đã áp dụng chính sách chậm trễ kéo dài thời gian trong vấn đề Biển Đông nhằm chờ thời cơ cho đến khi tình hình quốc tế thuận lợi sẽ ra tay giải quyết tranh chấp. Do vậy, đối với các quốc gia có liên quan thì vấn đề Biển Đông bắt buộc phải được giải quyết theo hướng có lợi cho họ trước khi Trung Quốc thực sự trỗi dậy, nếu không, đợi cho đến khi Trung Quốc đã trỗi dậy rồi, tia hy vọng sẽ trở nên vô cùng mong manh. Cũng chính vì thế, bắt buộc phải thông qua bất cứ biện pháp nào để đẩy mạnh hành động, hối thúc phát triển theo khuynh hướng có lợi cho bản thân họ.
Đối với Trung Quốc mà nói, môi trường các nước lớn chủ yếu đề cập đến những biến đổi chính trị trong phạm vi giữa các nước này, đặc biệt là biến đổi trong mối quan hệ với các nước lớn như Mỹ. Trong vấn đề Biển Đông, không quản có muốn hay không thì Trung Quốc chắc chắn vẫn phải đối mặt với Mỹ. Thế nhưng trong quan hệ hai nước Trung-Mỹ thì dù Trung Quốc đã hao tâm tổn trí rất nhiều nhưng vẫn không biết nên làm như thế nào để có thể hòa nhập được cùng Mỹ, đặc biệt là mối quan hệ với Mỹ trong khu vực Châu Á. Rất nhiều người đã từng nghĩ rằng mục tiêu chủ yếu của Mỹ trong sự hiện diện tại Châu Á này là nhằm đối phó với Trung Quốc, thế nhưng trên thực tế lại không hề đơn giản như vậy. Lý do Mỹ tồn tại ở khu vực Châu Á không chỉ để đối phó với riêng một Trung Quốc, mà còn liên quan đến vấn đề địa chính trị khác. Ví dụ, nếu không có nhân tố Trung Quốc thì Mỹ vẫn đương nhiên tìm ra được lý do để tạo ra không gian sinh tồn tại Châu Á. Bất luận là khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á hay Nam Á, mối quan hệ phức tạp đan xen giữa các nước đều cần có sự hỗ trợ sức mạnh của Mỹ để cân bằng lực lượng.
Trung Quốc không tạo dựng không gian cho Mỹ.
Rất nhiều các quốc gia Châu Á đều cần sự hiện diện của Mỹ chính là do kết quả không hành động của Trung Quốc. Ví dụ, trong vấn đề Triều Tiên thì ngoài Triều Tiên ra, hầu hết tất cả các nước Châu Á đều bất mãn với cách hành xử của Trung Quốc. Tất nhiên là cũng có những điểm khó xử riêng nhưng không thể vì thế mà chứng minh rằng cách hành xử của Trung Quốc là hợp lý được. Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản thường xuyên liệt vào trạng thái căng thẳng. Hiện nay cùng với sự trỗi dậy của Ấn Độ thì mối quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ cũng hàm chứa rất nhiều những nhân tố không xác định. Mặc dù Trung Quốc và các nước khu vực Châu Á luôn có các lĩnh vực hợp tác chung, thế nhưng những cuộc xung đột dường như phát sinh ngày một phức tạp hơn. Dù thế nào đi chăng nữa, trong việc giải quyết các vấn đề khu vực Châu Á thì Mỹ vẫn là quốc gia duy nhất đã từng nhiều lần thông qua các cuộc trải nghiệm, hơn nữa, tính quan trọng của nhân tố Trung Quốc mặc dù ngày một tăng lên nhưng chưa hề thông qua bất kỳ một cuộc trải nghiệm nào cả. Trong bối cảnh như vậy, Mỹ vẫn chính là môt quốc gia đạt mức độ tin tưởng và được dựa dẫm cao nhất. Điều này cũng được thể hiện trong vấn đề Biển Đông, những nước có liên quan hy vọng có sự can thiệp của Mỹ tại khu vực xảy ra tranh chấp này, nhằm nâng cao tính chắc chắn của họ trong vấn đề Biển Đông. Chính vì thế mà dẫn tới xu thế "chính trị hóa đại quốc"...
Ở đây còn có môi trường nội bộ của chính bản thân Trung Quốc. Phiên họp Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ mười tám sẽ được tổ chức vào năm sau. Trong thời gian này, nhiệm vụ chính của chính quyền Trung Quốc là giải quyết công việc nội bộ, sự ổn định sẽ trấn áp tất cả mọi vấn đề khác. Có một số quốc gia phán đoán rằng trong thời kỳ này thì Trung Quốc sẽ không thể đưa ra những điều chỉnh lớn nào về chính sách đối ngoại được cả. Điều này cũng có nghĩa rằng, trước khi một thế hệ lãnh đạo mới được thành lập, Trung Quốc sẽ không thể có chính sách mới và quan trọng nào trong lĩnh vực ngoại giao, hay nói rằng phần lớn các chính sách đối ngoại được đưa ra tất nhiên đều mang tính chất phản ứng là chủ yếu. Cách phán đoán này khiến cho các nước có liên quan đến tranh chấp sẽ nhận thấy rằng đây là cơ hội để tiến hành áp dụng những phương pháp triệt để hơn cho họ.
Trung Quốc sẽ làm gì khi đối mặt với tình thế hiện tại này? Được coi là một quốc gia lớn đang trong quá trình trỗi dậy, Trung Quốc chắc chắn sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các vấn đề về khu vực. Tình thế tại Biển Đông đối với Trung Quốc mà nói, mặc dù "ngày thế giới tận thế" vẫn còn cách xa vô cùng, nhưng họ bắt buộc phải thay đổi tính bị động đã tồn tại cho đến thời điểm hiện tại này để chuyển sang tính chủ động hơn. Điều đặc biệt quan trọng phải nói đến rằng, vấn đề hiện nay của Trung Quốc không phải là vấn đề về nguồn tài nguyên, mà là chiến lược, chính sách và cách huy động nguồn lực. Đơn giản mà nói chính là vấn đề về đường lối tư duy của Trung Quốc. Trong tranh chấp “Nam Hải” (Biển Đông), Trung Quốc phải có một đường lối tư duy rõ ràng, minh bạch.
Cần phải suy ngẫm lại đường lối tư duy đã cũ của Trung Quốc.
Khi đề cập đến đường lối tư duy mới thì cần phải suy ngẫm lại đường lối tư duy đã cũ của Trung Quốc. Vấn đề cốt lõi trong đường lối tư duy truyền thống của Trung Quốc chính là phản đối "quốc tế hóa" trong trannh chấp Biển Đông. Xét trên cơ sở lý thuyết, điều này đương nhiên là không sai. Nhưng vấn đề phát sinh nằm ở chỗ khái niệm đưa ra này không những không miêu tả được tình huống khách quan của quá trình tranh chấp Biển Đông mà lại càng khó khăn hơn khi áp dụng đường lối tư duy này để có thể tìm ra được biện pháp giải quyết. Điều này liên quan đến nhiều cấp độ bên trong các vấn đề chính.
Thứ nhất là chủ nghĩa song phương. Trung Quốc yêu sách gác tranh chấp chủ quyền cùng khai thác chung. Thế nhưng cho đến nay chính sách này vẫn chỉ dừng lại ở trạng thái khẩu hiệu, lý thuyết suông. Để có được mối quan hệ với các nước ASEAN, bản thân Trung Quốc không hề có kế hoạch khai thác Biển Đông nào cả, mà ngược lại chính là các nước có liên quan trong những năm gần đây tiến hành tăng cường khai thác. Thế nhưng Trung Quốc không phải đề xuất ra chủ trương cùng khai thác chung, mà chính xác phải nói là chủ trương khai thác đơn phương. Trong vấn đề cùng khai thác chung, các quốc gia có liên quan hoặc là không tự nguyện hoặc là tinh thần tự nguyện không cao. Hay nói toạc ra thì Trung Quốc không có đủ sức mạnh cũng như cơ chế quyền lực để thúc đẩy các quốc gia có liên quan công nhận và đi đến chấp nhận yêu sách cùng khai thác chung mà Trung Quốc đã đề xuất.
Thứ hai là chủ nghĩa đa phương, chính là mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước ASAEN. Vấn đề tranh chấp Biển Đông chủ yếu biểu hiện trong "Tuyên bố ứng xửtrên Biển Đông” mà Trung Quốc cũng đã ký kết. Thế nhưng văn bản này lại không mang bất cứ tính chất ràng buộc pháp lý nào. Văn bản tuy đã được ký kết rất nhiều năm qua nhưng không có bất cứ một quốc gia nào đạt hiệu quả trong việc thúc đẩy cho văn bản trở thành một tài liệu mang tính ràng buộc pháp lý được. Nên nói rằng chính bản thân Trung Quốc cũng không nỗ lực thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình trong đó. Điều quan trọng của vấn đề nằm ở chỗ Trung Quốc vẫn tuân thủ chủ nghĩa song phương và phản đối đa phương hóa trong tranh chấp Biển Đông. Thế nhưng bản chất thực sự của rất nhiều vấn đề trong tranh chấp Biển Đông lại là đa phương, cho nên việc phản đối chính sách đa phương hóa đã thể hiện rõ thái độ của Trung Quốc không dám đối mặt với sự thực này.
Thứ ba là quốc tế hóa. Các quốc gia có liên quan đã đưa vấn đề tranh chấp Biển Đông giao phó cho Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế. Trung Quốc tỏ ý không chấp nhận cho lắm, bởi vì nếu cầu cứu đến Liên Hợp Quốc hoặc các tổ chức quốc tế thì khả năng bại trận của Trung Quốc sẽ lớn hơn cơ hội chiến thắng rất rất nhiều lần. Như đã thảo luận trong phần trên, Trung Quốc đã thua trận trong cuộc chiến công luận quốc tế rồi, sẽ không còn bao nhiêu người có thể thông cảm cho lập trường của Trung Quốc được nữa.
Thứ tư là chính trị hóa đại quốc. Các quốc gia có liên quan trong khu vực Đông Nam Á hy vọng sẽ có sự can thiệp của Mỹ tại đây, điều này là dễ hiểu. Thế nhưng mức độ can thiệp của Mỹ sẽ sâu nông như thế nào thì còn phải xem lợi ích quốc gia của chính họ trong vấn đề này. Nhân tố Mỹ trong khu vực Đông Nam Á đã luôn tồn tại từ trước tới nay, hay nói cách khác Mỹ đã luôn là một bộ phận cấu thành trong cấu trúc khu vực này. Trên thực tế, lợi ích của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á này còn thâm căn cố đế hơn nhiều so với lợi ích của Trung Quốc. Ngay từ thời kỳ khi mới bắt đầu chiến tranh lạnh thì Mỹ đã không ngừng thiết lập mối quan hệ với các nước trong khối ASEAN, còn Trung Quốc chỉ mãi cho đến sau thời kỳ cải cách giải phóng đất nước mới bắt đầu xây dựng mối quan hệ mang tính thực chất với các nước này. Mối quan hệ giữa Mỹ và các nước Đông Nam Á là toàn diện trên các lĩnh vực còn Trung Quốc thì chủ yếu chỉ dựa trên lĩnh vực kinh tế, còn những lĩnh vực khác mới đang thuộc thời kỳ sơ khai. Do vậy, việc chính quyền Trung Quốc phản đối "chính trị hóa đại quốc" cũng chính là nguyên do khiến cho nước này không nhận ra bản chất thật của vấn đề tranh chấp.
Khi suy ngẫm đến các nhân tố đã được nêu ở phần trên, mọi người sẽ thật dễ dàng để trả lời câu hỏi rằng "Trung Quốc nên đi những bước tiếp theo như thế nào đây?", cũng có thể xem xét đánh giá từ nhiều góc độ như sau.
Trước tiên, Trung Quốc cần đặt mình đứng từ góc độ của các quốc gia láng giềng hoặc các nước có liên quan đến tranh chấp trong vấn đề Biển Đông để suy xét vấn đề. Trong suốt thời gian dài đến nay, chính quyền Trung Quốc luôn tuyên truyền lập trường với những nguyện vọng tốt đẹp của họ ra thế giới trong và ngoài nước, ví dụ như những khái niệm gọi là "trỗi dậy hòa bình", "phát triển hòa bình" và "láng giềng tốt", v.v... Những điều này rất quan trọng nhưng không bao giờ có thể coi là đủ được cả, bởi vì chính Trung Quốc đã coi nhẹ cách nhìn nhận của các nước xung quanh đối với sự trỗi dậy của họ như thế nào, hay mối quan tâm của các nước đó ra sao trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ cho đến khi thấu hiểu được mối lo lắng của các nước láng giềng này rồi, thì Trung Quốc mới hoạch định ra những chính sách thiết thực có hiệu quả được. Nếu không, không quan tâm nguyện vọng của Trung Quốc có như thế nào đi chăng nữa, hay đại loại giống như những khái niệm gọi tương tự như là "sự trỗi dậy hòa bình" v.v... thì cuối cùng vẫn biến thành những lời Trung Quốc tự nói và tự nghe.
Thứ hai, Trung Quốc bắt buộc phải phân định rõ ràng giữa vấn đề an ninh hàng hải và tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Mối quan tâm của cộng đồng quốc tế đặc biệt là Mỹ nói riêng chính là vấn đề an ninh hàng hải, việc Mỹ can thiệp vào vấn đề Biển Đông cũng chính xuất phát từ căn nguyên này ra. Đối với vấn đề này, Trung Quốc cần căn cứ vào tình hình thực tế, thừa nhận và nhấn mạnh rằng an ninh hàng hải là mối quan tâm của tất cả các bên tham gia, đồng thời cũng là trách nhiệm của tất cả các bên. Trung Quốc phải tình nguyện gánh vác trách nhiệm này cùng với các quốc gia khác như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ hay các quốc gia ASEAN. Trên thực tế, vấn đề an ninh hàng hải quốc tế vẫn luôn do Mỹ đảm nhiệm từ trước tới nay. Mặc dù Trung Quốc đã bắt đầu có năng lực và sức mạnh trong vấn đề này, thế nhưng khả năng gánh vác được trách nhiệm thì vẫn còn quá là xa vời đối với chính họ, cho dù chỉ là vấn đề liên quan đến an ninh hàng hải trong khu vực mà thôi. Trong lĩnh vực này, hai nước Trung, Mỹ có không gian để có thể hợp tác cùng với nhau rất lớn, mà sự hợp tác như vậy cũng phù hợp với lợi ích quốc gia của chính bản thân Trung Quốc. (Đương nhiên ở đây đề cập đến một vấn đề còn cơ bản hơn, đó là việc Trung-Mỹ sẽ hợp tác như thế nào để xây dựng nên hệ thống an ninh trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Mà điều này đòi hỏi thể hiện trong một bài lập luận khác biệt nữa).
Quản lý và kiểm soát sẽ chính là các lựa chọn.
Thứ ba, một cấp bậc tiếp theo nữa là mối quan hệ giữa Trung Quốc và tổng thể khối ASEAN. Việt Nam, Philippin, Malaysia và Bruney là những nước thành viên ASEAN có tuyên bố chủ quyền một phần hoặc toàn bộ đối với một số đảo trên Biển Đông. Điều này quyết định đến sự cân nhắc của Trung Quốc về lợi ích tổng thể của khối ASEAN cũng như mối quan hệ giữa Trung Quốc và tổng thể ASEAN. Mặc dù cho tới thời điểm hiện tại, Trung Quốc không sẵn sàng chấp nhận chủ nghĩa đa phương, thế nhưng cuối cùng thì họ bất đắc dĩ cũng phải thừa nhận, hơn nữa sự chấp nhận này càng sớm bao nhiêu thì sẽ càng có lợi cho Trung Quốc bấy nhiêu. Hãy giả thiết một chút rằng, nếu như "Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông" ngay từ những năm trước đã có tính ràng buộc pháp lý rồi thì cục diện Biển Đông sẽ không đến nỗi phát triển như thời điểm hiện tại thế này. Không còn nghi ngờ gì nữa, nếu Trung Quốc chấp nhận chủ nghĩa đa phương, thì "Tuyên bố ứng xửtrên Biển Đông" sẽ vẫn là một lối vào đầy thuận tiện.
Thứ tư, một cấp bậc cuối cùng là nên đối diện với vấn đề tranh chấp chủ quyền như thế nào. Đây là vấn đề vô cùng thiết yếu, Trung Quốc nên từ bỏ chủ nghĩa song phương truyền thống và chấp nhận chủ nghĩa song phương mới, cũng có nghĩa là một chủ nghĩa song phương mới nằm trong cấu trúc của chủ nghĩa đa phương. Điều này nói lên rằng, Trung Quốc và các nước có liên quan đến tranh chấp sẽ có thể tiến hành các cuộc họp thảo luận song phương dưới hình thức cấu trúc đa phương giữa Trung Quốc và ASEAN khi bàn bạc nghiên cứu về vấn đề Biển Đông. Dưới hình thức cấu trúc đa phương như vậy, các quốc gia không liên quan đến tranh chấp Biển Đông sẽ không tỏ rõ thái độ ủng hộ đối với bất cứ một bên nào, lập trường trung lập sẽ là lợi ích lớn nhất của tất cả các bên. Đồng thời khuôn khổ này cũng tạo động lực lớn giúp cho các nước có liên quan đến tranh chấp có thể tiến hành thương lượng thảo luận với Trung Quốc.
Vấn đề Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp gay gắt. Muốn một bước giải quyết nhanh gọn vấn đề này là không điều không thể xảy ra được. Nếu không giải quyết được vấn đề tồn tại, thì phương án quản lý và kiểm soát sẽ trở thành những cách lựa chọn hợp lý. Nhưng muốn quản lý và kiểm soát được vấn đề tranh chấp Biển Đông thì cần bắt buộc phát triển một loạt các cơ chế pháp lý. Mặc dù Trung Quốc hiện nay đang nằm trong tình thế bị động, thế nhưng không gian mà Trung Quốc có thể hoạt động được lại vô cùng lớn. Là một quốc gia lớn có trách nhiệm thì Trung Quốc cũng nên tìm kiếm các giải pháp để quản lý và kiểm soát vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bắt đầu ngay từ trong bối cảnh khu vực thậm chí mở rộng ra quốc tế. Nếu Trung Quốc không thể thay đổi đường lối tư duy truyền thống một cách có hiệu quả thì không gian hoạt động của Trung Quốc trong vấn đề này sẽ ngày càng bị thu hẹp nhỏ lại.
Bản gốc tiếng Trung “中国活在梦中 南海早已彻底输掉
Theo Liên hợp Buổi sáng
Đinh Thị Thu (dịch)

SƠN TRUNG * CHÍNHLUẬN 13


 VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI


 Một sự kiện đặc biệt trong tuần này là thế giới đã quan tâm đến các nhà tranh đấu Việt Nam.Tổ chức Phóng viên Không biên giới RSF phối hợp với đại công ty internet Google  trao  Giải Công dân Mạng 2013   cho Blogger Huỳnh Ngọc Chênh của Việt Nam. Bộ  ngoại giao Mỹ đã  vinh danh  khoảng 20 phụ nữ Việt Nam bất khuất kiên cường chống cộng sản xâm lược và bán nước. Các nước cũng đã khuyến cáo Việt Nam nên tôn trọng nhân quyền, trả tự do cho LS Lê Quốc Quân. Thượng nghị sĩ McCain qua Việt Nam  cũng khuyến cáo Việt Nam thay đổi chính sách.

Việt Nam cộng sản như một đứa bé ngu dốt và ương ngạnh. Với Trung Cộng, chúng bò hai chân và lạy lục. Với các nước, chúng vênh mặt lên và lên tiếng chửi rủa. Thái độ của Hà Nội cũng giống như Bắc Hàn huênh hoang đe dọa tiêu diệt Washington. Việt Cộng đối với ngoại quốc thì bất lịch sự hung hăng. Họ phản đối việc quốc tế trao giải thưởng cho các Bloggers. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm dáng dân chủ khi kêu gọi nhân dân góp ý kiến  sửa đổi Hiến Pháp, đến khi ngưởi ta lên tiếng thì ông bực bội và ăn nói  kiểu  ông nội người ta.. Ông là ai mà ông dám nói với nhân dân và các nhà trí thức  đã đóng góp sửa đổi Hiến pháp  là 'suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức'. Nhân dân là suy thoái chính trị, tư tưởng và đạo  đức  thì  các ông làm tay sai Nga Tàu, bán nước, hại dân, cướp tài sản nhân dân, giết cha mẹ, anh em, và như ông Hồ dối trá thành tinh, giết Nông Thị Vân và quăng xác ra đường là chính trị cao, tư tưởng vững và đạo đức trong sáng hay sao? Bây giờ các ông đâm chém nhau, lừa gạt nhau, cướp bóc công khai mà dám lên mặt đạo đức ư? Các ông nên biết các ông tội lỗi ngập đầu, xin cúi  mặt xuống, đừng lên tiếng tư tưởng, đạo đức. Tư tưởng, đạo đức Stalin, Mao, Hồ, Pol Pot thì cả thế giới biết rồi!Thật buồn cười, các vua chúa ta, các vua chúa Anh, Pháp, Đức , các Tổng thống Pháp, Mỹ và TrungHoa dân quốc it ai nói với quốc dân về tư tưởng đạo đức, sao Mao, Hồ lại ưa đề cao tư tưởng đạo đức thế a?  Rõ là " thùng rỗng kêu to". Người giàu có thí it khi khoe của, đa số giấu kín vì sợ trộm cướp. Người có đạo hạnh thật sự thì it khi khoe khoang vì khoe khoang là tính xấu. Cổ Học Tinh Hoa có kể chuyện Án tử làm Tể tướng thì mặt mũi khiêm cung, còn tên đánh xe thì dáng điệu vênh váo. Cả triểu đình cộng sản không ai khiêm tốn, ai cũng kiêu căng, lên tiếng dạy đời, và khoe khoang đủ thứ, nào là trí tuệ đỉnh cao, bách chiến bách thắng...
Mình làm cha mà con mình nó bỏ nhà ra đi, mỗi khi đau khổ chúng chạy qua ông hàng xóm, xin ông hàng xóm can thiệp, ông có thấy là nhục không? Đây là lúc thoái trào của Mac Lê, của Mao, Hồ. Người Nga, người Đông Âu đã giật sập tượng Marx, Lenin, Stalin, còn Trung Quốc thì còn bảng hiệu Cộng sản bề ngoài, nhưng bề trong cái ruột Marx, Mao và cộng sản đã mất cả rồi. Thiên hạ bảo ông Lú là phải!


Bà cho hay: ‘Hoạt động xuất khẩu vũ khí sát thương bị cấm trong khuôn khổ các quy định hiện thời không được mang ra thảo luận tại cuộc đối thoại chính sách quốc phòng vừa qua. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ tiếp tục hợp tác với Việt Nam trong khuôn khổ các quy định hiện có để giúp nước này tăng cường khả năng quân sự trong các lĩnh vực quan trọng’.
 http://www.voatiengviet.com/content/khong-ban-vu-khi-sat-thuong-trong-cuoc-doi-thoai-viet-my/1622988.html

 Cuộc thảo luận thường niên lần ba giữa các giới chức quân đội Việt – Mỹ diễn ra trong bối cảnh căng thẳng dâng cao tại biển Đông.

Mỹ không bán vũ khí sát thương hoặc giúp đỡ Việt Cộng vì ba lý do:
+ Việt cộng không là đồng minh của Mỹ
+Việt cộng tàn ác, độc tài. Nước Mỹ không đem tiền bạc của dân mà trợ ác.
+Việt cộng có nhiều tay chân Trung Cộng ngay trong bộ Chính trị và hàng tướng lãnh. Bán vũ khí cho Việt Nam sẽ lọt vào tay Trung Cộng.

 Nhiều người còn bảo rằng mấy tên Việt cộng xảo trá. Chúng giả đò mua vũ khí để tỏ ra ra tích cực chống ngoại xâm và cũng để mua bán kiếm chác it nhiều. Mua vũ khí Mỹ về bán lại cho Trung Cộng thì vừa được tiền, vừa được tiếng tôi ngoan!

Trong tháng ba, Mỹ và Nam Hàn luyện binh, Bắc Hàn cũng thử hỏa tiễn và tuyên bố sẽ san bằng Hoa Thịnh Đốn. Có thể đó là lời đe dọa huyênh hoang của một đứa trẻ hung hăng, điên cuồng. Nhưng người Mỹ cũng phải thận trọng vì " cẩn tắc vô áy náy" cho nên Washington cũng vội lắp đặt lá chắn đề phòng. Tú Anh đài RFI ngày 15-3-2013 cho biết trước những lời đe dọa “đánh phủ đầu”của Bắc Triều Tiên, Hoa Kỳ đã nhanh chóng củng cố hệ thống lá chắn chống tên lửa liên lục địa. Bờ biển phía tây của Mỹ sắp được tăng cường 14 dàn phi đạn diệt hỏa tiển trong khí đó Nhật Bản sẽ được trang bị thêm một ra-đa phát hiện và theo dõi đạn đạo.
 


Đài RFI loan tin Quyền tổng thống Venezuela Nicolas Maduro từng loan báo là thi hài ông Hugo Chavez sẽ được ướp để cho đời sau tiếp tục được thấy cố tổng thống của họ. Tuy nhiên hôm qua, 15/03/2013, Chính quyền Venezuela đã cho biết là sẽ không thực hiện việc này. Lý do là vì phương án này đòi hỏi là phải đưa thi hài ông Chavez qua Nga và để lại đấy trong nhiều tháng.
 Cộng sản vỗ ngực khoe họ là duy vật chủ nghĩa, là khoa học trong khi họ chửi mắng các triết phái khác , và các tôn giáo là duy tâm thần bí, ngu si dốt nát thì trong mấy chục năm qua, người ta đã thấy cộng sản hiện ra là một tôn giáo, cũng giáo điều, cũng mê tín. Người ta đua nhau ướp xác chết, tô tượng, in hình ảnh, lập nhà mồ, tổ chức lễ bái, thăm viếng bậc giáo lãnh. Ông Hồ chết năm 1969 nhưng trước đó, người ta đã cho người sang Liên Xô học kỹ thuật ướp xác. Thành ra di chúc ông già muốn chết đơn sơ giản dị, nào ném tro ra biển, nào chôn cốt chỗ này chỗ kia là hoàn toàn xạo!

Cái ông quyền Tổng thống Venezuela là tay gian nịnh nhưng may mắn thay, chính quyền Venezuela đã phản đối, thật khôn ngoan và sáng suốt thay! Ôi! Duy vật chủ nghĩa không tin linh hồn tồn tại, chết là hết, sao lại còn giữ  cái xác hôi thúi kia làm gì cho tốn tiền?  Trong khi dân nghèo, không nhà thương, không trường học, bọn Việt cộng sao lại tốn hàng triệu Mỹ kim cho các xác thối của lão già đại gian, đại ác?

 
Thế giới đang chú trọng đến việc chuyển quyền tại Trung Công. Việc lên ngôi của Tập Cận Bình là một sự kiện đại quan trọng vì thông thường, vị sáng lập đảng có nhiều quyền hành, nhưng qua kinh nghiệm Stalin và Mao, người ta phân lập, hay nói rõ hơn, người ta chia chác quyền lợi với nhau ngay trong hàng ngũ tối cao của đảng. Vì vậy mà có ba chức vụ chia cho ba ông lớn nhất là Tổng bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng. Việt Nam thêm một ghế quan trọng nữa là Chủ tịch quốc hội cho đủ bộ tứ của cái ghế bốn chân. Vì sợ tranh giành, Đặng Tiểu Bình đã đặt lệ về hưu chứ không ngồi hoài đến chết. Khó lắm mới khuyên được các cụ về hưu . Khó lắm mới chia ra ba ghế cho ba ông. Thế mà nay các cụ lại giao quyền tổng bí thư, chủ tịch nước, và chủ tịch tịch quân ủy trung ương cho một tay Tập Cận Bình. Tại sao vậy?























Đó là quan điểm của Mao Trạch Đông mà ai cũng biết. Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình chắc cũng tự hào về chiến thắng trăm phần trăm của họ.



Saturday, March 16, 2013

TRỌNG THÀNH * CA TRÙ

Ca trù trước ngã ba đường: 
Phục sinh hay mai một
Hát ca trù - tranh sơn dầu của Phạm Công Thành (2005). Ảnh: N.X.D
Hát ca trù - tranh sơn dầu của Phạm Công Thành (2005). Ảnh: N.X.D
Trọng Thành
 
Ca trù - môn nghệ thuật cổ truyền độc đáo của Việt Nam - ngày càng được công chúng trong nước và quốc tế biết đến. Năm 2009, ca trù được Unesco công nhận là một “di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp”. Điều bất ngờ là, trong thời gian gần đây, càng lúc càng có những tiếng nói trong nước báo động về nguy cơ mai một của ca trù.
Tại Việt Nam, về mặt số lượng, các nhóm ca trù địa phương dưới hình thức câu lạc bộ đang nở rộ. Nếu như trước năm 2005, cả nước chỉ có khoảng 20 câu lạc bộ, thì nay đã tăng lên gấp ba lần. Các câu lạc bộ ca trù có mặt tại khoảng 15 tỉnh và thành phố Việt Nam. Một số khóa truyền nghề của các nghệ nhân “đầu ngành” cho thế hệ trẻ đã được thực hiện, một số liên hoan ca trù toàn quốc đã được tổ chức, một số sinh hoạt ca trù gắn với các lề thói xưa đang bắt đầu được phục hồi, các phương tiện truyền thông chú ý nhiều hơn đến ca trù…
Tuy nhiên, điều bất ngờ là, trong thời gian gần đây, càng lúc càng có những tiếng nói trong nước cất lên báo động về nguy cơ mai một của ca trù. Thậm chí, một số ý kiến nhắc đến khả năng Unesco rút danh hiệu “di sản văn hóa nhân loại” mà môn nghệ thuật quý báu này vừa được trao tặng.
Tạp chí Cộng đồng của RFI tuần này xin chuyển đến quý vị tiếng nói của một số nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà tổ chức, chuyên gia hàng đầu về ca trù tại Việt Nam, những người tích cực hoạt động để cổ vũ cho sự phục hồi/phổ biến nghệ thuật ca trù, với hy vọng tiếng nói của các vị khách mời sẽ mang đến cho quý vị những góc nhìn khác nhau, góp phần vào việc soi tỏ thực tại nhiều nghịch lý kể trên.
Các khách mời của chúng ta hôm nay là các nghệ sĩ, nghệ nhân Nguyễn Thúy Hòa, Bạch Vân, Phạm Thị Huệ và Nguyễn Văn Khuê, những người trực tiếp bảo tồn/phổ biến di sản nghệ thuật này ; giáo sư Tô Ngọc Thanh và nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, những người có trọng trách trong việc lập hồ sơ ca trù gửi Unesco, và tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, tác giả một số công trình nghiên cứu về lịch sử ca trù, đặc biệt qua di sản Hán-Nôm.
Lo lắng, nhưng lạc quan về tương lai của ca trù
Mở đầu tạp chí là tiếng nói của nhà nghiên cứu âm nhạc học dân tộc Tô Ngọc Thanh, chủ tịch Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, một người nhiều năm đóng góp cho quá trình phục hồi di sản ca trù.
Tô Ngọc Thanh : Sau khi nhận được cái vinh danh ấy, thì vừa mừng, vừa lo, đặc biệt những người như chúng tôi. Tức là những người dám nói hiểu biết một ít về ca trù. Lo sợ cho vận mệnh của nó, nên càng lúc càng lo hơn. Bây giờ, nó như thế này : Chỗ đứng của ca trù hiện nay trong con mắt của nhân dân có tăng lên so với trước. Họ biết rõ đấy đích thực là một di sản quý báu, chứa chất những tinh hoa về văn học, văn hóa, nghệ thuật và âm nhạc nữa. Thì đấy là một điều mừng, vì anh chẳng lạ gì, trước đây cũng có người nói rằng đấy là sản phẩm của cái nơi đĩ bợm, với hình ảnh về phố Khâm Thiên ngày xưa.
Giáo sư Tô Ngọc Thanh
16/10/2012
Trong hồ sơ mà chúng tôi gửi đi, thì bao giờ cũng có phần rất là quan trọng, gọi là "chương trình hành động", để nếu như được vinh danh rồi, thì chúng tôi phải làm gì để xứng với tầm cỡ của nó. Thì sau khi được vinh danh rồi, trong chương trình hành động, chúng tôi cũng đề ra khá nhiều. Như thế đã trải qua ba năm rồi, cái chương trình ấy chưa được cụ thể hóa.
Anh cũng biết, trước kia nó là của dân, nó được truyền nghề theo kiểu cha truyền con nối, theo kiểu phường hội. Còn bây giờ nó không thể thế được, thế bây giờ chúng tôi cần những kinh phí để truyền dạy. Cũng xin nói thật là Hội Văn nghệ Dân gian của chúng tôi cũng đã tổ chức được 4, 5 lớp. Tức là từ những nghệ nhân truyền thẳng xuống cho lớp trẻ, mà thông qua phương thức như ngày xưa, tức là truyền miệng, truyền nghề. Chúng tôi cho rằng, đây là hình mẫu chúng tôi làm, để mai kia nếu có được kinh phí của nhà nước, thì mô hình ấy có thể giúp cho ca trù được đứng hơn.
Vậy thì, nói với nhà báo thế này : Mọi người không quên, nhưng mà nó đang ở bước đầu. Tôi hy vọng rằng, nó sẽ được hiện thực với một tốc độ cũng không nhanh lắm đâu. Nó chưa thật là vui lắm, nhưng cũng không đến mức phải buồn.
Con đường gìn giữ và phổ cập ca trù trong đời sống đương đại
Tiếp theo đây là một số nhận xét của nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, người phụ trách khoa học của Hồ sơ quốc gia về "Nghệ thuật ca trù của người Việt" trình Unesco trước đây, về một số điều ông tâm đắc trong quá trình đưa ca trù đến với đời sống đương đại, bên cạnh việc phục dựng lại một số sinh hoạt cổ.
Đặng Hoành Loan : Về việc bảo tồn vốn cổ ca trù đúng như nó có là điều khó khăn trong xã hội hiện đại. Vì ca trù hiện nay nó mất mất cái môi trường sinh hoạt của nó. Cho nên là, việc giữ gìn nó trong đời sống hiện nay, thì đương nhiên là nó vấp phải một số khó khăn nhất định. Nhưng điều quan trọng là : Con người ngày nay, nhất là sau ba năm được Unesco công nhận là di sản, thì giới yêu thích ca trù Việt Nam đang làm được một số việc quan trọng.
Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan
16/10/2012
Tôi cho rằng đây chỉ là việc tái hồi lại những bài ca đã có, những bài thơ đã có. Và nó đang dần dần trở lại các sinh hoạt trong các tập tục ngày xưa ở đình làng. Ta biết ca trù có các địa điểm trình diễn ở đình làng, trong tư gia, cung đình và các lối chơi của các nhà nho. Thì hiện nay cái đang có thể trở lại được,và đã trở lại là sinh hoạt ca trù trong một số đình làng.
Thứ hai là ở các phố thị, các thành phố hiện nay, ca trù ngày nay trình diễn lại các điệu hát trong cái sinh hoạt ngày xưa, bằng cách thức tổ chức các câu lạc bộ. Tôi thấy rằng, hiện nay rất nhiều câu lạc bộ rất tốt, đặc biệt là Hà Nội đang trở thành một trung tâm khá lớn, thu hút lực lượng trẻ. Tôi nói như vậy là tôi dựa vào cuộc liên hoan ca trù tháng 11/2011. Cuộc liên hoan này đánh dấu cuộc chuyển mình rất lớn, ca trù sống lại, tái sinh lại trong xã hội hiện đại. Nhưng chúng ta đang hy vọng phục hồi lại được những bài bản cũ, chứ còn chúng ta chưa hy vọng được là có những sinh hoạt như truyền thống ngày xưa, như rất nhiều người thường nói, là những lối ca trong gia đình, những lối ca thân thiện, những lối ca sáng tác tại chỗ.
Đào nương – linh hồn của nghệ thuật ca trù
Là một nghệ thuật gắn liền với lịch sử Việt Nam hàng trăm, thậm chí nghìn năm nay, ca trù chứa đựng nhiều tinh hoa của dân tộc Việt. Điều đặc biệt đáng chú ý trong ca trù được nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh, đó là sự phối kết linh diệu giữa các thể cách âm nhạc và sáng tạo thơ ca, qua những mối giao hòa giữa đào nương và văn nhân, thi sĩ.
Thông thường trong nghệ thuật ca trù, người thưởng thức chính là các văn nhân, đặc biệt trong vị trí quan viên giữ trống chầu, trong khi đó, ca nương là người trình diễn.
Nhắc đến ca trù đương đại không thể không dừng lại để nhớ về ca nương Quách Thị Hồ. Di sản ca trù của Việt Nam được thế giới biết đến ngày hôm nay, một phần rất lớn nhờ công lao của bà và giáo sư Trần Văn Khê, thông qua mối duyên kỳ ngộ giữa hai người, cách đây đã gần 40 năm (năm 1976, giáo sư Trần Văn Khê ghi âm giọng hát ca trù của bà Quách Thị Hồ để giới thiệu ra thế giới qua đĩa hát mang nhãn hiệu Unesco). 
"Tiếng hát của Quách Thị Hồ đẹp và tráng lệ như một tòa lâu đài nguy nga, lộng lẫy, mà mỗi một tiếng luyến láy cao siêu tinh tế của bà là một mảng chạm kỳ khu của một bức cửa võng trong cái tòa lâu đài ấy. Tiếng hát ấy vừa cao sang bác học, vừa mê hoặc ám ảnh, diễn tả ở mức tuyệt đỉnh nhất các ý tứ của các văn nhân thi sĩ gửi gắm trong các bài thơ" (theo Nguyễn Xuân Diện). 
Người ca nữ ngày nay sống như thế nào với những bài thơ mà họ hát lên ? Chúng tôi có may mắn được nghệ sĩ Nguyễn Thúy Hòa (CLB Thái Hà), người đã từng theo học với nghệ nhân Quách Thị Hồ, chia sẻ :
Nguyễn Thúy Hòa : Cái quan trọng mà thầy tôi dậy tôi là, khi mình đọc cái bài thơ trước khi mình hát, thì mình phải có cái cảm xúc thật của mình. Khi mình thể hiện, thì mình thể hiện bằng cái cảm xúc đó. Cho nên, mỗi lần hát không một lần nào giống lần nào cả.
Nghệ sĩ Nguyễn Thúy Hòa
16/10/2012
Tôi nhớ một lần hát bài "Tỳ bà hành". Tôi thể hiện nhiều lần bài hát này. Nhưng lần đó, không hiểu sao, cảm xúc của tôi quá mạnh, nó bị đong đầy quá. Và tôi đã không thể ngừng được, và tôi đã khóc rất là nhiều. Tôi vừa khóc, tôi vừa hát và tôi nức nở. Bởi vì, tôi rất nhớ đến thầy của tôi. Chỉ vì một câu hát thôi. Nội dung của bài hát không liên quan đến thầy của mình. Nhưng mà từ một câu, một chữ nào đấy, tất cả những hình bóng của thầy, những lời nói, tự nhiên nó ùa về.
Lúc ấy cái tâm trạng của mình nó không kìm được. Cái điều đó cũng là điều không nên đối với một người nghệ sĩ. Mình phải biết kìm hãm cảm xúc của mình. Nhưng mà khi khán giả thấy như thế, họ thấy là vô cùng hay. Và họ cảm nhận được cả cái bài hát, cả cái cảm xúc của mình. Cái hình ảnh đó, cái bài hát đó, cái ngày hôm đó luôn luôn ở trong tâm trí của mình.
Giây phút tri âm
Người ca nương là cả một thế giới riêng. Trước đây, phần lớn nếu không nói là hầu hết các bài thơ được hát trong ca trù, đều do các tác giả là đàn ông viết. Và như vậy rất thường khi tâm sự của người phụ nữ được thể hiện qua cảm nhận của nam văn sĩ. Người ca nữ ngày nay nhìn về vẻ đẹp của ca trù như thế nào ? Sau đây là tiếng nói của nghệ sĩ Bạch Vân (CLB Ca trù Hà Nội - CLB đầu tiên về ca trù, thành lập năm 1991) :
Bạch Vân : Những người đến với ca trù phải là những người có một tính cách thâm trầm, sâu sắc, thì anh mới có thể thả hồn mình vào đấy. Thứ hai là người hát cũng phải là người có những tâm trạng. Cuộc đời thăng trầm thì hát hay hơn nhiều. Chẳng hạn như tác phẩm nước ngoài, thì Bạch Vân thích nhất "Tỳ bà hành". Và Bạch Vân thấy rất là quý nể bà Quách Thị Hồ cái bài ấy. Bạch Vân cũng đắm chìm trong nó. Bạch Vân cảm thấy cái thân phận của người phụ nữ, đặc biệt người ca nữ nó đau đớn, nhiều khi nó trần trụi, mình cảm thấy mình đúng là cái thân phận như vậy.
Nghệ sĩ Bạch Vân
16/10/2012
Những người khách đến nghe rồi họ lại ra đi. Những khách tình cờ gặp gỡ cũng phải để lại cảm xúc chứ. « Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ », « Vô duyên đối diện bất tương phùng », « Đã từng khen chén rượu câu thơ, lòng riêng những đợi chờ tri kỷ mãi ».
Một giây phút nào đấy người ta cô đơn, người ta cảm thấy rằng đấy cũng là mình tìm được một người bạn tri kỷ, tri âm. Cái thân phận của người phụ nữ, cái thân phận của người ca nữ, nó buồn lắm, buồn sâu thẳm và nhiều khi nó đau đớn đến tột cùng. Bạch Vân cứ ngồi hát là cảm thấy Bạch Vân ở trong không gian ấy, trong nhân vật ấy và Bạch Vân đắm chìm trong câu hát ấy. Và nhiều khi mình bay lên chín tầng mây, mình hòa chung với nó, và mình không còn biết mình là ai nữa.
Đến bây giờ Bạch Vân cũng đã suýt soát gần 30 năm đam mê với nó, và Bạch Vân thấy rằng là, những lúc mình buồn bã nhất, có thể mình muốn chết, thì mình lại vào hát và mình cảm thấy mình lại bay bổng, mình lại thăng hoa, mình lại giải thoát khỏi nỗi cô đơn và mình sẽ gặp tri âm, tri kỷ trong câu hát của mình, và mình lại trở về một cách bình yên, và mình lại sáng tạo, lại sống, mình lại yêu đời hơn.
Tất nhiên là, đến với ca trù, Bạch Vân phải trả giá cho tuổi thanh xuân, trả giá cho hạnh phúc của mình. Nhưng mà, có những lúc mình đau xót, buồn thấu xương, thấu thịt, buồn thấm đẫm một sự cô đơn khủng khiếp, thì Bạch Vân lại lấy bộ phách ra và đắm chìm trong Tỳ bà hành, trong "Cuốn chiếu nhân tình", trong "Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ"…
Một thưở huy hoàng
Ca trù là một nghệ thuật đã có thời hết sức phổ biến trong xã hội Việt Nam, từ nơi thôn dã cho đến chốn thị thành. Nghệ thuật ấy đã để lại những đỉnh cao của nó, mà người nghệ sĩ ngày nay không dễ gì mà vươn đến được. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện nhận xét :
Nguyễn Xuân Diện : Cái nghệ thuật ca trù, để có thể phục hồi được, thì cái quan trọng nhất phải phục hồi là cái người đào nương. Người đào nương hồi xưa đều được sinh ra ở làng quê và được giáo dục trong các giáo phường. Cho đến hiện nay, việc này khó đến nỗi mà chúng ta chưa tìm thấy lại được một người nào nữa, một người nào nữa có thể tạm sánh với lại một phần nhỏ của bà Kim Đức, hoặc một phần nhỏ của bà Quách Thị Hồ. Cả một sự tinh tế như vậy, chính vì thế cho nên nhạc sỹ Nguyễn Xuân Khoát nói, có khi là phải lịch lãm cả một cuộc đời thì mới mong hiểu nổi cho trọn vẹn một tiếng phách tre.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện
17/10/2012
Thế thì, tìm lại cái hào quang của dĩ vãng vàng son như vậy ở trong ca trù thì không thể có được. Và vì vậy, có lẽ chỉ giữ được ca trù trong một khuôn khổ nào đó nhất định thôi. Nhưng chúng tôi cũng có thể hy vọng là, khoảng mươi, mười lăm năm nữa thì may chăng là sẽ tìm lại được chăng ?
Sự mong manh của một di sản nghìn năm
Sự phục hồi di sản ca trù không chỉ khó vì những đỉnh cao của môn nghệ thuật cổ xưa này, mà còn vì sự mong manh của các nghệ nhân đầu đàn, tất cả đều đã tuổi cao sức yếu. “Có lẽ không loại hình nghệ thuật nào như ca trù, luôn gắn với hình ảnh những người biểu diễn ở vào độ tuổi cực cao, mắt mờ chân chậm, răng lợi móm mém, mỗi khi lên xuống sân khấu phải có người dìu. Họ nói run run yếu ớt, nhưng (lạ thay) mỗi khi cất giọng hát, thì trong vắt thanh tân, nghe như rút hết chút sức tàn còn lại... » (theo Hồng Minh, trang mạng nhandan.com.vn).
Việc người nghệ nhân không được chú trọng và trân trọng thực sự đã khiến cho có rất nhiều lo ngại rằng nghệ thuật này có thể thất truyền. Sau đây là tiếng nói của nghệ sĩ Phạm Thị Huệ, phụ trách CLB Ca trù Thăng Long :
Phạm Thị Huệ : Chúng tôi cũng có những khó khăn như là : Trước khi kêu gọi các nghệ nhân làm hồ sơ, thì (cơ quan hữu trách) luôn luôn đề cao rằng, sau khi chúng ta được (Unesco) phong tặng, thì nghệ nhân cũng sẽ có những ưu đãi đặc biệt để giúp cho họ. Cho tới giờ, các nghệ nhân cũng chưa nhận được một sự ưu ái nào.
Nghệ sĩ Phạm Thị Huệ
16/10/2012
Đấy là cái điều tôi cảm thấy rất xót xa. Không biết là cho đến bao giờ. Vì các cụ đều ở cái tuổi 88, gần 90 rồi. Ở cái tuổi đó, thì cũng không còn ở gần chúng ta được bao lâu nữa. Và cái di sản mà các nghệ nhân đang gìn giữ ở trong chính tâm hồn và tài năng của họ rất là khó có thể nắm bắt được. Kể cả chúng ta có ghi âm hay học đi chăng nữa. Cái việc ghi âm thì chỉ đơn thuần là cái máy hát lại thôi, không thể truyền được cái hồn giống như chúng ta được học trực tiếp. Còn cái việc học trực tiếp, thì chúng ta cũng phải thường xuyên được ở bên cạnh nghệ nhân, sống cùng nghệ nhân, và phải có một chiều dài từ 3 năm đến 7 năm, chứ không thể gỏn gọn trong vài chục ngày, vài tháng.
Đấy là những cái mà chúng tôi cảm thấy cái sự mong manh. Trong tương lai, ca trù rất có thể sẽ lại chìm vào quên lãng.
Thời buổi phấn vôi lẫn lộn
Thái độ đối xử đúng đắn với nghệ nhân, không chỉ là qua các đãi ngộ vật chất, mà đặc biệt đáng lưu ý là sự trân trọng đối với năng lực nghệ thuật đích thực của những người đầu đàn hiếm hoi còn sống. Được gọi trân trọng là “các di sản sống”, nhưng điều mà một bộ phận công luận tại Việt Nam rất phàn nàn rằng, các cơ quan hữu trách, trước hết là những người có thẩm quyền trong lĩnh vực nghệ thuật, lại không hợp tác thực sự với giới nghệ nhân đầu ngành, gây ra tình trạng nhiễu loạn chuẩn mực hiện nay trong môn nghệ thuật đang trong quá trình hồi sinh. Sau đây là một tâm sự của nghệ sĩ đàn đáy Nguyễn Văn Khuê, thuộc CLB Ca trù Thái Hà, sinh trưởng trong một gia đình nhiều đời tiếp nối ca trù.
Nguyễn Văn Khuê : Tôi thấy, như hiện nay tôi rất là lo lắng. Làm ca trù xấu đi, và không có gì là mang đúng tính bác học của nó. Hiện nay, (tôi rất lo lắng về) cách bảo tồn ca trù của bên Viện Âm nhạc. Bây giờ, cứ ca nương mới học được một, hai năm đã có rất nhiều thành tích các thứ.
Kép đàn Nguyễn Văn Khuê
16/10/2012
Bình thường cái tiếng đàn của người ta phải tạo ra một con rồng, có đường nét và vô cùng uyển chuyển, thì họ chỉ dậy như một con giun thôi. Bản thân người đến với ca trù, người ta nghe, người ta chán.
Điều quan trọng nhất là : Thế nào thì được gọi là nghệ nhân ? Ai là người để sát hạch đấy là nghệ nhân đích thực, có đủ tài năng, thẩm mỹ để dạy cho lớp trẻ bây giờ. Khi mà thầy không đạt được tầm nghệ nhân mà dạy, thì nó sẽ dễ làm mất hết cả cái chất của ca trù, và dễ làm lệch lạc hướng đi.
Nếu cứ để như thế này, đào tạo theo phương thức này, mặc dù rất nhiều tiền của nhà nước bỏ ra, rất nhiều tiền của các ban ngành vào rồi, nhưng bây giờ thực ra phấn cũng như vôi. Không ai biết được là, người nào đích thực là nghệ nhân, đích thức là người có tài thực sự.
Một nghệ nhân đầu ngành, không công bố danh tính, cho biết, bà không đồng tình với những trắng đen lẫn lộn trong việc thẩm định chất lượng trình diễn ca trù, cũng như chất lượng dạy nghề. Tuy nhiên, dù không hợp tác với các cơ quan quản lý nghệ thuật, nghệ nhân đã ngoài 80 tuổi này cũng như một số người khác, vẫn âm thầm dạy nghề trong môi trường gia đình, thân hữu, soạn sách hướng dẫn, hầu truyền lại những giá trị đích thực của ca trù.
***
Trong vài thập niên trở lại đây, ca trù, một trong những loại hình nghệ thuật được coi là vi diệu nhất của văn hóa Việt Nam, đang trở lại với công chúng. Sự công nhận quốc tế, cũng như sự tôn vinh ngày càng mạnh mẽ trong nước đối với ca trù là điều rõ ràng. Tuy nhiên, trong quá trình hồi sinh ấy, ca trù đang đứng trước một ngã ba đường, giữa sự phục sinh - thăng hoa của những gì là di sản đích thực và sự lẫn lộn trắng đen, trong đó những giá trị nghệ thuật thực sự bị rẻ rúng và chìm trong quên lãng.
Ca trù có một truyền thuyết rất đẹp và lung linh huyền thoại về sự ra đời. (...) các vị tổ ca trù đã được chính các vị tiên xui khiến chế tác ra cây đàn đáy, mà tiếng đàn này có thể giải mọi phiền muộn, chữa được bệnh cho mọi người. Tiếng đàn ấy còn se duyên cho hai vị tổ ca trù thành đôi lứa... “ (theo Nguyễn Xuân Diện).
Mong sao sự khởi đầu rất thi vị ấy của ca trù vẫn còn sức mạnh để đưa ca trù tiếp tục cuộc hành trình xuyên qua thời gian, đưa những gì tinh túy nhất của các thế hệ đi trước đến với mai sau.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các nghệ sĩ Nguyễn Văn Khuê, Bạch Vân, Nguyễn Thúy Hòa và Phạm Thị Huệ, các nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Diện, Đặng Hoành Loan và Tô Ngọc Thanh đã dành thời gian cho tạp chí hôm nay. Trong thời gian thực hiện tạp chí này, chúng tôi đã nhận được nhiều chỉ dẫn của giáo sư Trần Quang Hải,  người tham gia lập hồ sơ ca trù trình Unesco và có một số khảo cứu về âm thanh học của ca trù. Nhân dịp này chúng tôi xin gửi lời tri ân tới giáo sư. 
Trong tạp chí lần này, chúng tôi không có dịp nhắc đến nhiều người đã có những đóng góp quan trọng cho công cuộc khôi phục và nghiên cứu về ca trù (như nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, tiến sĩ Alienor Anisensel, người Pháp - tác giả một luận án về nhạc ngữ ca trù...) hay một số khía cạnh đặc biệt khác cho thấy những biến chuyển của ca trù ngày hôm nay, như các sáng tác mới trong thơ hát nói. Hy vọng sẽ có dịp trở lại với quý vị trong đề tài này vào một dịp tới. 
Các bài liên quan

No comments: