Wednesday, October 19, 2016

THANH PHONG - TẠ PHONG TẦN - LÊ XUÂN NHUẬN

THANH PHONG * CUỘC HỘI NGỘ


Cuộc Hội Ngộ của Sĩ Quan TQLC/VNCH và Em Bé Gái Mà Ông Đã Cứu Sống 41 Năm Trước (Nay là Hải Quân Trung Tá của Quân Lực Hoa Kỳ)..


Xin chuyển đến Qúy Vị, Qúy NT và CH...

Câu chuyện làm ấm lòng Ngừơi Việt Quốc Gia, trong mùa Tháng Tư Quốc Hận... Nhất là Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với tâm niệm:

Bảo Quốc An Dân, Vì Dân Chiến Đấu...

Câu chuyện thật của một người Sĩ quan trẻ của TQLC, đã cứu một em bé, mẹ đã chết, bị bỏ rơi,
trên đường di tản ở Quảng Trị, mùa Hè đỏ lửa 1972...... 41 năm sau, gặp lại cô bé đó, nay là một Hải Quân Trung Tá của Quân Lực Hoa Kỳ...

Bài viết của Thanh Phong báo Viễn Đông...

Phần tài liệu bổ túc là Tiểu sử của Hải Quân Trung Tá Kimberly Mitchell, và chuyến đi VN vào năm 2011 của Tr. Tá Mitchell để tìm lại gốc gác của mình.. do BMH sưu tập...

Xin mời Qúy Vị theo dỏi, để tường...
 
BMH
Washington, D.C
**************************
Cuộc Hội Ngộ của Sĩ Quan TQLC/VNCH
và Em Bé Gái Mà Ông Đã Cứu  41 Năm Trước...
Nay là Trung Tá của Hải Quân Hoa Kỳ..
(VienDongDaily.Com - 04/04/2013)
Bài và hình: Thanh Phong/Viễn Đông    

 WESTMINSTER. Vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, một em bé 4 tháng tuổi nằm trên xác mẹ trên Đại Lộ Kinh Hoàng; em đang trườn người trên bụng mẹ tìm vú để bú nhưng mẹ đã chết từ bao giờ. Một người lính Quân Cụ chạy ngang, bồng em bé bỏ vào chiếc nón lá rồi chạy qua cầu Mỹ Chánh, trao lại cho một Thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến đang hành quân.
 
         Thiếu úy TQLC Trần Khắc Báo và Hải Quân Trung Tá Kimberly Mitchell
hội ngộ sau 41 năm bặt vô âm tín.
 (ảnh TP chụp lại từ gia đình).

Bao năm trôi qua, em bé mồ côi mẹ nay trở thành Trung Tá trong Quân Lực Hoa Kỳ còn người Thiếu úy TQLC sang Hoa Kỳ theo diện HO nay đang định cư tại tiểu bang New Mexico. Hai người vừa gặp nhau sau 41 năm bặt vô âm tín. Ngày Thứ Ba 2 tháng 4, 2013 vừa qua, nhân dịp sang California dự lễ cưới, người Thiếu Úy TQLC này đã kể cho phóng viên Viễn Đông câu chuyện cảm động và ly kỳ ngay tại khách sạn nơi ông đang tạm cư ngụ.

Người Thiếu Úy TQLC tên là Trần Khắc Báo. Vào thời điểm 1972 ông còn độc thân và phục vụ tại Đại Đội Vận Tải Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, được biệt phái sang Phòng 4 của Sư Đoàn làm sĩ quan phụ trách chuyển vận. Vào sáng 1 tháng 5 năm 1972, Thiếu Úy Báo được lệnh cấp trên, cùng một số đồng đội mở cuộc hành quân để giúp di chuyển Tiểu Đoàn 7 TQLC ra khỏi vùng vừa bị thất thủ thuộc tỉnh Quảng Trị vì một số đông quân nhân bị thất lạc không tìm thấy vị chỉ huy của họ. Ngoài ra, ông cũng xin lệnh giúp di tản các Quân, Dân, Cán, Chính khác đang tìm đường chạy về phía nam sông Mỹ Chánh là nơi quân đội VNCH còn đang trấn giữ; ông được cấp trên chấp thuận.
Khi đơn vị ông đến cầu Mỹ Chánh (Quảng Trị) thì nơi đây là phòng tuyến cuối cùng của VNCH để ngăn chặn quân Cộng Sản Bắc Việt tràn xuống phía Nam. Ông đã chỉ huy 20 quân xa GMC thực hiện cấp tốc cuộc di tản suốt ngày. Đến khoảng 4 hay 5 giờ chiều ông Trần Khắc Báo nhìn thấy thấp thoáng bên kia cầu còn một người đang ôm chiếc nón lá thất thểu đi qua với dáng điệu hết sức mỏi mệt. Ông định chạy qua giúp người này nhưng vị Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 TQLC đang trách nhiệm trấn giữ tại đó la lớn:
“Cây cầu tao đã gài mìn, có thể nổ và sẵn sàng phá hủy khi thấy chiến xa Việt Cộng xuất hiện, đừng chạy qua, mày sẽ bị bỏ lại bên đó không về lại được đâu nghe!”
Ông cố nài nỉ:
“Đại Bàng chờ em một chút, cho em cứu người cuối cùng này.”
Và ông chạy đến đưa người này qua cầu. Thấy người này đi không nổi, thất tha thất thểu mà tay còn cố ôm vòng chiếc nón lá, Thiếu Úy Báo nói đùa:
“Đi không nổi mà còn mang theo vàng bạc châu báu gì nữa đây cha nội?”
Người ôm vòng chiếc nón lá nói với Thiếu úy Trần Khắc Báo:
“Em là lính Quân Cụ thuộc Tiểu Khu Quảng Trị, trên đường chạy về đây em thấy cảnh tượng hết sức thương tâm này, mẹ nó đã chết từ bao giờ không biết và nó đang trườn mình trên bụng mẹ nó tìm vú để bú, em cầm lòng không được nên bế nó bỏ vào chiếc nón lá mang đến đây trao cho Thiếu Úy, xin ông ráng cứu nó vì em kiệt sức rồi, không thể đi xa được nữa và cũng không có cách gì giúp em bé này.”
Nói xong anh ta trao chiếc nón lá có em bé cho Thiếu úy Báo.
Ngừng một chút, ông Báo nói với chúng tôi:
“Mình là người lính VNCH, mình đã được huấn luyện và thuộc nằm lòng tinh thần 'Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm' nên lúc đó tôi nghĩ trách nhiệm của mình là lo cho dân nên tôi nhận đứa bé và nói với người lính Quân Cụ: 'Thôi được rồi, để tôi lo cho nó, còn anh, anh cũng lo cho sức khỏe của anh, lên GMC đi để chúng tôi đưa anh về vùng an toàn.'”
Sau đó, người sĩ quan TQLC ôm em bé leo lên chiếc xe Jeep chạy về Phong Điền, cách đó khoảng 20 cây số. Trên đường đi, ông Báo cảm thấy rất bối rối vì em bé khóc không thành tiếng vì đói, khát mà ông thì còn là một thanh niên trẻ (lúc đó mới 24 tuổi) chưa có kinh nghiệm gì nên ông hỏi người tài xế, bây giờ phải làm sao? Người tài xế tên Tài trả lời:
“Ông thầy cho nó bú đi! Ông thầy không có sữa thì lấy bi đông nước chấm đầu ngón tay vào nước để vào miệng nó cho nó bú.”
Ông Báo làm theo lời chỉ và em bé nín khóc rồi nằm im cho đến khi ông đưa em vào Phòng Xã Hội của Lữ Đoàn TQLC. Tại đây, gặp Thiếu tá Nhiều, Trưởng Phòng 4 TQLC, ông trao em bé cho Thiếu tá Nhiều và nói:
“Thiếu tá, tôi có lượm một em bé ngoài mặt trận, xin giao cho Thiếu tá.”
Ông này nhìn ông Báo cười và nói:
“Mày đi đánh giặc mà còn con rơi con rớt tùm lum!”
Ông Báo thanh minh:
“Không! Tôi lượm nó ngoài mặt trận; nó đang nằm trên xác mẹ nó.” Thiếu tá Nhiều bảo:
“Thôi, đem em bé giao cho Phòng Xã Hội để họ làm thủ tục lo cho nó.” Sau đó, ông Báo đưa em bé cho một nữ quân nhân phụ trách xã hội. Cô này nói với ông:

“Thiếu úy giao thì Thiếu úy phải có trách nhiệm, vì em bé này ở ngoài mặt trận thì Thiếu úy phải cho nó cái tên và tên họ Thiếu úy nữa để sau này nó biết cội nguồn của nó mà tìm.”

Lúc đó, ông còn độc thân nhưng trong thâm tâm ông vốn nghĩ rằng sau này khi ông cưới vợ, nếu có con gái ông sẽ đặt tên là Bích, nếu con trai ông sẽ đặt tên là Bảo, nên sau khi nghe người nữ quân nhân nói, ông Báo đặt ngay cho em bé cái tên là Trần Thị Ngọc Bích.

Sau đó ông trở về đơn vị và cuộc chiến ngày càng trở nên khốc liệt cho tới tháng 3/1975, đơn vị ông bị thất thủ cùng Lữ Đoàn 2 TQLC ở Huế và ông Báo bị Việt cộng bắt làm tù binh. Mãi đến năm 1981 ông được chúng thả về gia đình và bị quản chế. Tháng 9/1994 ông được sang định cư tại thành phố Albuqueque, tiểu bang New Mexico... 

Em bé Mồ Côi Gặp May Mắn
Em bé Trần Thị Ngọc Bích được Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC đem đến Cô Nhi Viện Thánh Tâm Đà Nẵng giao cho các Dì Phước chăm sóc. Số hồ sơ của em là 899.

Một hôm có ông Trung Sĩ Hoa Kỳ thuộc binh chủng Không Quân phục vụ tại phi trường Đà Nẵng tên là James Mitchell vô Cô Nhi Viện xin nhận một trong các em tại đây làm con nuôi. Em Trần Thị Ngọc Bích may mắn lọt vào mắt xanh của ông James Mitchell và trở thành thành viên của gia đình này từ đó đến nay.

Sau khi rời khỏi binh chủng Không Quân, ông James Mitchell trở về Hoa Kỳ vào năm 1972. Ông quyết định mang theo đứa con nuôi Trần Thị Ngọc Bích, lúc đó em mới được 6 tháng.

Hai ông bà Mitchell đặt tên Mỹ cho em là Kimberly Mitchell. Em ở tại trang trại của gia đình tại Solon Springs, tiểu bang Wisconsin.
Kimberly Mitchell lớn lên tại đây và được bố mẹ nuôi rất thương yêu, coi như con ruột. Em được đi học, tham gia thể thao và vào hội thanh niên. Lớn lên em vừa đi học vừa phụ giúp cha mẹ nuôi bò và làm phó mát. Cái tên Trần Thị Ngọc Bích đã bị quên lãng từ đó, và Kimberly Mitchell cho biết, mỗi khi nghe ai nói gì về Việt Nam, cô thường tự hỏi, Việt Nam là đâu nhỉ?

Khi đã có trí khôn, Kimberly Mitchell nhận thấy mình không phải người Mỹ như bố mẹ, không phải con lai, không phải người Tàu. Cô không biết mình là người nước nào và cứ mang cái thắc mắc đó mãi mà không ai có thể trả lời cho cô.

Một hôm, Kimberly Mitchell đánh bạo hỏi bố:
"Con muốn biết con người gì, nguồn gốc con ở đâu? Tại sao con lại là con bố mẹ?”

Bố nuôi James giải thích cho cô:
"Con là người Việt Nam, bố mẹ xin con từ trong viện mồ côi ở Đà Nẵng, Việt Nam. Nếu con muốn tìm nguồn cội của con, con có thể về Đà Nẵng, may ra tìm được tông tích của gia đình con.”

Ngay từ khi Kimberly còn học lớp ba, bố nuôi em đã muốn sau này cho Kimberly gia nhập Không Quân nhân khi cô được chọn tham dự hội thảo về nghệ thuật lãnh đạo dành cho những học sinh xuất sắc. Nhưng rồi định mệnh xui khiến, cô lại theo Hải Quân. Trong thời gian theo học, Kimberly Mitchell phải bỏ học một năm vì bố nuôi qua đời năm 1991 trong một tai nạn tại trang trại của gia đình. 
Sau đó cô trở lại trường và tiếp tục học. Năm 1996 cô tốt nghiệp Cơ Khí Hàng Hải và phục vụ trong Hải Quân Hoa Kỳ và hiện nay mang cấp bậc Trung Tá, Phó Giám Đốc Văn Phòng Trợ Giúp Quân Nhân và Thân Nhân tại Ngũ Giác Đài.

Năm 2011, Kimberly Mitchell trở về cố hương trong vai một nữ Trung Tá Hải Quân, Quân Lực Hoa Kỳ, mong gặp lại người thân. Đến Viện Nuôi Trẻ Mồ Côi Thánh Tâm ở Đà Nẵng, cô may mắn gặp được Sơ Mary, người tiếp nhận cô năm 1972 từ một nữ quân nhân Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC. Giây phút thật cảm động, nhưng Kimberly chỉ được Sơ Mary cho biết:
“Lúc người ta mang con tới đây, con mới có 4 tháng và họ đặt tên con là Trần Thị Ngọc Bích. Họ nói mẹ con đã chết trên Đại Lộ Kinh Hoàng, con được một người lính VNCH cứu đem đến đây giao cho Cô Nhi Viện rồi đi mất, vì lúc đó chiến tranh tàn khốc lắm.”

Kimberly không biết gì hơn và cô quay trở lại Mỹ. Sau khi đã biết mình là người Việt Nam, thỉnh thoảng cô viết trên website câu chuyện của mình. 


Cuộc hội ngộ sau 41 năm với chiếc nón lá mà 41 năm trước, Trần Thị Ngọc Bích đã được cứu sống bởi các chiến sĩ VNCH. Trong hình, gia đình ông Trần Ngọc Báo và nữ Trung tá Kimberly Mitchell (quàng khăn hình Quốc kỳ VNCH )-

ảnh TP/VĐ chụp lại.
Gặp Lại Cố Nhân

Ông Trần Khắc Báo đưa cho chúng tôi xem một số hình ảnh, một số báo tiếng Việt và mấy tờ báo tiếng Anh đăng hình cuộc gặp gỡ giữa gia đình ông và cô Trần Thị Ngọc Bích, và nói:
“Sau khi ra tù Việt Cộng, tôi cũng cố tìm hiểu xem em bé Trần Thị Ngọc Bích nay ra sao, kể cả người lính Quân Cụ năm xưa, nhưng tất cả đều bặt vô âm tín. Một hôm tình cờ tôi đọc được một bài viết của tác giả Trúc Giang trên tờ Việt Báo Hải Ngoại số 66 phát hành tại New Jersey, tác giả kể lại câu chuyện đi Mỹ của một em bé trong cô nhi viện Đà Nẵng mang tên Trần Thị Ngọc Bích. Đọc xong tôi rất xúc động pha lẫn vui mừng, vì có thể 80, 90% cô Ngọc Bích đó là do mình cứu và đặt tên cho cô.”

Sau đó, ông nhờ người bạn tên là Đào Thị Lệ làm việc trong New York Life, có chồng người Mỹ và có em cũng ở trong Hải Quân Hoa Kỳ, liên lạc tìm kiếm Mitchell. Và chính cô Đào Thị Lệ là người đầu tiên trực tiếp nói chuyện với Trần Thị Ngọc Bích đang làm việc tại Ngũ Giác Đài.
Theo ông nghĩ, có thể cô Mitchell bán tín bán nghi, không biết chuyện này có đúng không hay là chuyện “thấy sang bắt quàng làm họ” như ông cha mình thường nói. Nhưng sau khi nói chuyện với ông Trần Khắc Báo, Mitchell quyết định tổ chức một cuộc hội ngộ trước các cơ quan truyền thông. Cô xin phép đơn vị và mời được 7 đài truyền hình cùng một số phóng viên báo chí từ Washington, D.C cũng như nhiều nơi về tham dự.
Cuộc hội ngộ, theo ông Báo cho biết, hoàn toàn do cô Kimberly Mitchell quyết định, địa điểm là trụ sở Hội Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New Mexico vào Thứ Sáu, ngày 29.8. 2012. Cô đến phi trường vào tối Thứ Năm 28.8, gia đình ông Báo ngỏ ý ra phi trường đón nhưng cô cho cô Đào thị Lệ biết là cô không muốn gia đình đón ở phi trường cũng như đưa vào khách sạn. Cô muốn dành giây phút thật cảm động và ý nghĩa này trước mặt mọi người, đặc biệt là trước mặt các cơ quan truyền thông, và cô muốn ông Báo mặc bộ quân phục TQLC như khi ông tiếp nhận cô đưa đến Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC cách nay 41 năm.
Giây phút đầy xúc động

Gia đình ông Trần Khắc Báo gồm vợ và con gái cùng có mặt. Khi ông Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia hỏi cô Kimberly Mitchell:
"Cô đến đây tìm ai?”

Cô trả lời:
"Tôi muốn tìm ông Trần Khắc Báo.”
Vị Chủ Tịch quay sang ông Báo đang mặc quân phục và giới thiệu:
"Đây là ông Trần Khắc Báo.”
Lập tức, Kimberly Mitchell Trần Thị Ngọc Bích tiến lại ôm lấy ông Báo và cả hai cùng khóc nức nở.
Giây phút xúc động qua đi, cô Kimberly hỏi ông Trần Ngọc Báo:
"Ông là người đã cứu mạng tôi, tôi mới có ngày hôm nay; tôi xin cám ơn ông, và bây giờ ông muốn gì ở tôi?”
Ông Trần Khắc Báo nói :
“Thực sự bây giờ tôi chỉ muốn cô nói với tôi một lời bằng tiếng Việt, cô hãy kêu tôi là “Tía”. Vì tất cả các con tôi đều gọi tôi bằng Tía, tôi xem cô cũng như con tôi, tôi chỉ mong điều đó.”

Và ông mãn nguyện ngay, khi Kimberly Mitchell gọi “Tía”. Ông nói với chúng tôi:
“Bấy giờ tôi thực sự mãn nguyện.”

Trả lời các câu hỏi của chúng tôi, ông Trần Khắc Báo cho biết, cô Kimberly chưa lập gia đình và cô có hứa sẽ thường xuyên liên lạc với gia đình ông. Ông có nhắc cô Kimberly điều này, rằng cô không phải là đứa trẻ bị bỏ rơi. Cô đã được những người lính VNCH có tinh thần trách nhiệm cứu sống trên bụng mẹ cô đã chết, và chính ông đã đặt tên cho cô là Trần Thị Ngọc Bích. Ông cũng mong rằng sau này, cô có thể trở lại Quảng Trị, may ra có thể tìm ra tung tích cha cô hoặc người thân của mình. Ông Trần Khắc Báo cũng cho biết, ông mất liên lạc với người lính Quân Cụ từ lúc hai người giao nhận đứa bé đến nay.

Trong cuộc hội ngộ, trả lời câu hỏi của các phóng viên Hoa Kỳ, nữ Trung Tá Kimberly Mitchell cho biết, cô có hai cái may. Cái may thứ nhất là cô được tìm thấy và mang tới trại mồ côi . Cái may thứ hai là được ông bà James Mitchell bước vào trại mồ côi và nói với các Sơ rằng, ông muốn nhận em bé này làm con nuôi.”

Câu chuyện sau 41 năm kết thúc tốt đẹp, cô Trần Thị Ngọc Bích đúng là viên ngọc quý trên Đại Lộ Kinh Hoàng như ý nguyện của người đã cứu mạng em, vì chính cô đã làm vẻ vang cho dân tộc Việt khi cố gắng học hành để trở nên người lãnh đạo xuất sắc trong Quân Lực Hoa Kỳ, một quân lực hùng mạnh vào bậc nhất thế giới.
Người quân nhân binh chủng Quân Cụ và người sĩ quan TQLC Trần Khắc Báo đã thể hiện tinh thần của một quân nhân Quân Lực VNCH , luôn đặt Tổ Quốc - Danh Dự và Trách Nhiệm trên hết. (TP)
  **********************************
Tài liệu bổ túc

Sưu tập bởi BMH

** Hình ảnh khi Cô còn mang cấp bậc Hải Quân Thiếu Tá (LCDR)
Tiểu sử Kimberly M. Mitchell 
Lieutenant Commander Kimberly M. Mitchell, US Navy

LCDR Mitchell was born in 1971 in DaNang, South Vietnam. She was adopted and brought to the United States in September 1972. Raised in Solon Springs, Wisconsin, she was active in sports, church, 4-H and other community activities. 
Upon graduation from high school, LCDR Mitchell was accepted into the United States Naval Academy and graduated in 1996 with a Bachelor of Science degree in Ocean Engineering. Selecting the Surface Warfare Community, she was assigned to USS STUMP (DD 978) as the Damage Control Assistant. Following that tour, she was assigned to Assault Craft Unit 4 as a Detachment Officer-In-Charge (OIC) for a detachment of Landing Craft Air Cushion (LCAC). Her first shore duty brought her to Washington DC as part of the Washington Navy Intern Program where she completed her Masters of Arts degree in Organizational Management from The George Washington University as well as completing three internships in the office of the Chief of Naval Operations, the State Department and on the Joint Staff. 
Following shore duty, LCDR Mitchell reported to USS CROMMELIN (FFG 37) as the Operations Officer and then reported to Commander Destroyer Squadron 50 home ported in the Kingdom of Bahrain as the Future Operations Officer and Maritime Security Operations Officer. 
LCDR Mitchell’s second shore duty again brought her to Washington DC as a Country Program Director assigned to the Navy International Programs Office (NIPO) doing Foreign Military Sales. Following her tour at NIPO, she was selected to be the Military Assistant in the Office of Wounded Warrior Care and Transition Policy in the Office of the Secretary of Defense. 
Following a year in that job, she transferred to the Office of the Chairman of the Joint Chiefs of Staff where she is currently the Deputy Director for the Office of Warrior and Family Support.
LCDR Mitchell’s personal awards include Joint Commendation Medal, Navy Commendation Medal, Joint Service Achievement Medal, Navy Achievement Medal, as well as other unit awards. She has also received recognition from the Assistant Secretary of State for her work in Humanitarian and Peacekeeping Operations as well as the Director of the Defense Security Cooperation Agency for her work in Foreign Military Sales.

** Cuộc hành trình tìm về quê hương của cha, mẹ ruột...

Adopted U.S. Navy Officer Makes First Return to Vietnam

Lieutenant Commander Kim Mitchell with Sister Mary (left)
and Sister Vincent in Danang.

HANOI, August 26, 2011 – She was once known only as Baby #899, an abandoned infant in Danang’s Sacred Heart Orphanage.  With more than a bit of luck, as she now acknowledges, Baby #899 was eventually adopted by a U.S. Air Force Tech Sergeant and his wife in 1972, and brought up on a farm in rural Wisconsin.
U.S. Navy Lieutenant Commander Kimberly M. Mitchell now works at the Pentagon, as Deputy Director for the Office of Warrior and Family Support, and recently made her first trip back to Vietnam.  “I wanted to try to reconnect with the unknown of my past,” said LCDR Mitchell after meeting with officials at the U.S. Embassy in Hanoi. “I’ve been talking about coming back for years, but it was like a soccer ball that I kept kicking down the field.”
LCDR Mitchell returned to Vietnam and visited Ho Chi Minh City and Hanoi—but the most moving part of her week-long homecoming was in Danang, where she found the Sacred Heart Orphanage (now a monastery) and tracked down one of the nuns, Sister Mary, who worked in the orphanage four decades ago at the time that Baby 899 was adopted.  
“Sister Mary was able to tell me about the name they gave me, Tran Thi Ngoc Bich—and that it meant precious pearl,” said LCDR Mitchell. “It was the trip of a lifetime. I certainly won’t wait another 40 years to return.”
 
BMH
Washington, D.C
Posted by HLTL on 4/06/2013.

TẠ PHONG TẦN * TÀN DƯ MỸ NGỤY



Tạ Phong Tần viết về Tàn dư Mỹ Ngụy
Print
E-mail
Hồi nhỏ, nhà tôi có cái máy hát dĩa nhựa và một chồng dĩa lớn nhỏ đủ loại. Dĩa nhỏ thường màu đen, đường kính chừng một gang tay là tân nhạc. Dĩa lớn đủ màu sắc xanh, đỏ, vàng, cam, đường kính chừng gang rưỡi là dĩa tuồng cải lương.
Mỗi lần hát thì cha tôi bỏ bốn cục pin Con Ó bự chảng vào máy, mở nắp máy ra, gắn cái dĩa vô, để cây kim vào đường rãnh ngoài cùng của cái dĩa rồi nhấn nút là máy hát lớn ông ổng, âm thanh cực rõ, cực hay. Bà ngoại tôi thích nghe tuồng cải lương Tuyệt Tình Ca lắm, hễ có mặt bà ngoại tôi thì y như rằng trong nhà, máy hát tuồng này. Tuồng còn có một tên khác “bình dân học vụ” hơn là “Ông Cò quận 9”, kêu theo tên nhân vật ông Cò (Cảnh sát trưởng quận 9) do cố nghệ sĩ Út Trà Ôn thủ diễn. Nghệ sĩ Bạch Tuyết đóng vai Lê Thị Trường An – đứa con gái thất lạc của ông Cò. Nghe nói tuồng này được trình diễn trên sân khấu Dạ Lý Hương khoảng năm 1965.
Lúc đó, tôi “bị nghe” cải lương chớ không phải “được nghe”, thành thử tôi không hiểu mấy về các nhân vật trong tuồng, không hiểu tại sao bà giáo Lan (vợ bé ông Cò) không đi lấy chồng khác phức cho rồi. Tôi lại nhớ “ấn tượng” nhất cái giọng chanh chua, the thé và đầy chất hợm tiền của bà Sa lúc bà đi đánh ghen và bắt quả tang chồng bà đang tò tí với cô nhân tình trẻ: “Ông thừa phát lại đâu rồi? Ổng đâu rồi, ổng đây nè” (nắm đầu ông chồng lôi ra), “Ông thừa phát lại, nhờ ông lập vi bằng…” Cho đến tận những năm 90, tôi chẳng hiểu chức vụ “thừa phát lại” là để làm cái giống gì.
Sau ngày 30 tháng 4, 1975, tôi lại thấy “cán bộ cách mạng” ở quê tôi chận đường để cắt tóc dài, rọc quần ống loe và áo sơ mi bó chim cò của thanh niên thành phố. Quần Jean bị coi là “đồ Mỹ”, “tàn dư của Mỹ-Ngụy”, cấm dùng. Thay vào đó, từ cán bộ đến dân đều diện quần ống túm màu xanh lá cây may bằng vải ni-lông dù, áo sơ mi vải xanh hay nguyên bộ bà ba đen và dép râu. Cá biệt, có ông Ba Linh giữ chức vụ cao trong chính quyền mới nhưng đi làm luôn luôn mặc bộ quần áo bà ba đen bằng vải thường và đi chân đất.
Những năm 80, thiên hạ quê tôi lại rùng rùng rủ nhau may quần tây kiểu phía trên thì ôm đùi, phía dưới ống thì rộng loe ra, kêu là quần ống “pát”. Ðến khoảng năm 1995 trở về sau, đâu đâu cũng thấy người ta “chơi” quần Jean ống “pát” đầy đường. Ôi thôi, “tàng dư của Mỹ-Ngụy” nhan nhản khắp “hang cùng ngõ hẻm” quê tôi.
Tôi còn nhớ trong tuồng cải lương cách mạng tên “Khách Sạn Hào Hoa” gì đó, tuần nào cũng phát trên ti vi, trên sóng phát thanh, có nhân vật cách mạng nhắc đến “ca sĩ phòng trà” với hàm ý chê bai là hạng gái “bán bông”. Tất nhiên, Việt Nam lúc đó không có cái phòng trà nào. Sau mấy chục năm, bây giờ tôi thấy “ngôi sao ca nhạc”, “thần tượng giới trẻ”, “nghệ sĩ ưu tú”, “mầm non đang lên”, v.v… toàn biểu diễn trong phòng trà không hà. Còn đất Sài Gòn thì số lượng phòng trà (có giấy phép hẳn hoi) đếm mệt nghỉ.
Hồi trước, cũng thời “tàn dư của Mỹ-Ngụy”, đâu có thi hoa hậu nhiều như bây giờ. Tôi có quen với mấy anh chị “văn công giải phóng” lớn tuổi, kể cho tôi nghe rằng mấy anh chị lên sân khấu được phổ biến nguyên tắc bất di bất dịch là khi biểu diễn không được xoay mông về phía khán giả (dù ăn mặc rất kín đáo và kín mít). Trong lúc diễn, nghệ sĩ nào diễn hứng quá mà quên “nguyên tắc” thì lập tức bị phê bình, kiểm điểm là tư cách “đồi trụy”, “khiêu dâm”. Giờ thì ôi thôi, lên sân khấu biểu diễn, chẳng những xoay mông ra khán giả mà còn ăn mặc hở hang đến mức không thể hở hơn được. Thậm chí còn gây nên cuộc tranh luận tốn nhiều giấy mực báo chí là: Ca sĩ Hồ Quỳnh Hương: Hở bao nhiêu là vừa?
Ở trường học, lúc nhỏ chúng tôi được giáo dục “đả thực, bài phong” là thành tích, “thắng lợi của dân tộc ta”. Nghe nói, đình chùa, miếu mạo là “mê tín dị đoan” cần phải xóa bỏ. Quê tôi có cái đình thờ thần bổn mạng của làng, tục kêu là Ðình Ông Bổn, bị chính quyền cách mạng “trưng dụng” gần hết diện tích chánh điện làm hai lớp học 8 và 9. Trước đó, trong đình chỉ có tượng “hạc đứng trên lưng quy” thôi, sau khi có lớp học chễm chệ trong đình, trên lưng hạc thường xuyên có thêm đứa học trò ngồi. Tội nghiệp con quy bị “hai tầng áp bức”.
“Tàn dư thực dân phong kiến” còn bị dẹp sạch bằng cách bỏ hết các tên trường Tiểu học, Trung học, các danh hiệu Tú Tài, Cử nhân đi, thay vào đó bằng tên trường cấp 1, cấp 2, cấp 3, còn đại học thường bị gọi đùa bằng “cấp 4”. Học xong ra rồi thôi, chẳng có danh hiệu gì hết. Ðến khoảng năm 1991 trở về sau thì “thực dân phong kiến” “đội mồ sống dậy”, trường Tiểu học, Trung học, các cô Tú, cậu Cử đâu đâu cũng có. Lại còn thêm cái màn làm lễ tốt nghiệp bắt buộc phải mặc bộ đồ dài lòng thòng màu đen, màu xanh dương đậm hay màu đỏ ké, đội cái mũ cùng màu áo hình vuông vuông có cọng dây dài lòng thòng, kiểu giống mấy ông quan Tòa trong phim “Ba Người Lính Ngự Lâm” của Pháp quá chừng. Tôi thầm trách sao mình không sinh ra muộn chừng chục năm để lúc tốt nghiệp cũng mặc bộ đồ lòng thòng đó chụp hình “giải quyết khâu oai”.
Ðùng một cái, mấy năm gần đây, tôi lại thấy “cán bộ ta” xây chùa rần rần, “phát pháo đầu tiên” phải kể đến “Ðại Nam Quốc Tự” của đại gia Dũng Lò Vôi ở Bình Dương nổi tiếng trong và ngoài nước với “thành tích” để tượng Phật Thích Ca, vua Hùng và ông Hồ Chí Minh vào chung một chỗ. Nghe “giang hồ đồn đại”, đại gia Dũng Lò Vôi tên thật là Huỳnh Phi Dũng, nguyên đại biểu Quốc Hội, bà con gì đó với ông Nguyễn Minh Triết (?).
Cách đây mấy năm, cán bộ công chức vô cùng vui mừng khi được Nhà nước ta cho phép nghỉ ngày giỗ tổ Hùng Vương. Vừa rồi, nguyên dàn các vị lãnh đạo ở trên còn chi ngân sách để tổ chức và tham gia cúng tổ Hùng Vương rầm rộ. Thật là phúc cho dân ta quá, sau mấy chục năm dài toàn thờ ai đâu không, giờ người dân Việt mới được chính thức thờ cúng lại ông Tổ Hùng Vương của mình, công khai quay về nguồn cội.
Sáng nay, đọc báo Tiền Phong ngày 23 tháng 5, 2010 thấy báo ta “chơi” nguyên hàng tít thật giựt gân: “TPHCM: Lập 5 văn phòng Thừa Phát Lại đầu tiên tại Việt Nam” đầy hãnh diện như một “phát kiến vĩ đại”, mà tôi tưởng chừng như “báo ta” đăng thông tin Christopher Columbus vừa tìm ra Châu Mỹ vậy.
Theo Tiền Phong, ngày 21 tháng 5, 2010, Sở Tư Pháp thành phố HCM trao quyết định thành lập và giấy đăng ký kinh doanh cho 5 văn phòng Thừa Phát Lại đầu tiên tại TPHCM và trên phạm vi cả nước. Chức năng quy định tại giấy đăng ký kinh doanh, các văn phòng Thừa Phát Lại được phép tống đạt theo yêu cầu của tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự, lập vi bằng (ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác); xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự; trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự…
Chữ “đầu tiên” và chữ “cả nước” được nhấn mạnh bằng cách lặp đi lặp lại. Tưởng gì, cái vụ “thừa phát lại” này ở Việt Nam nó đã có từ năm 1965 trở về trước rồi mấy cha nội, cũ rích hà, nói “đầu tiên ở Việt Nam” nghe mà mắc cỡ muốn chết. Của người ta có sẵn, tự dưng đi phá sập, rồi bây giờ đi nhặt lại dựng lên, rồi vỗ ngực tự hào là “thành tựu”, nghe thiệt muốn độn thổ luôn á!
Tạ Phong Tần
Nguồn: Blog Tạ Phong Tần

LÊ XUÂN NHUẬN * BÍ MẬT LỊCH SỬ

ÔNG NGUYỄN NAM SƠN
VỚI NHỮNG BÍ MẬT LỊCH-SỬ
 
  Có người vừa phổ-biến trên diễn-đàn liên-mạng một bài-viết nhan đề Bên lề lịch sử: Quanh sự liên hệ giữa Cựu Hoàng Bảo Đại và Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm với tên ký bên dưới là Nguyễn Nam Sơn.
        Lại có người chuyển-tiếp bài-viết ấy với phụ-đề Tài Liệu vô cùng quý giá, cần lưu giữ khiến tôi không thể không đọc.
 
Nhận thấy trong bài-viết ấy có một số điểm không đúng Sự Thật Lịch-Sử, tôi xin có ý-kiến dưới đây (các chữ màu hường) ghi xen vào từng chủ-điểm (màu đỏ tô đậm) liên-hệ:
 
----------------------------------------------------------------------------------------------------
 
From: Subject: [BTGVQHVN-2] Fw: Tài Liệu vô cùng quí giá cần lưu giử
To:
Date: Friday, April 5, 2013, 7:27 PM
From: dinhthong3Gmail
Quý vị nào ghét hay thương ông Diệm,
kính mời đọc hết bài này.
From: Aladin Nguyen
Subject:            Tài Liệu vô cùng quí giá cần lưu giử
 
From: Tran Marie
To: thaoluan9@yahoogroups.com
Sent: Monday, January 7, 2013 5:19 PM
Subject: [Thaoluan9] Bên lề lịch sử: Quanh sự liên hệ giữa Cựu Hoàng Bảo Đại và Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Bên lề lịch sử: Quanh sự liên hệ giữa Cựu Hoàng Bảo Đại và Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
 
Nguyễn Nam Sơn
 
Một nhà quan sát về các diễn biến chánh trị tại Việt Nam, trong những giai đoạn cận kim (người đó xin được khỏi nêu tên), đã có nhận định như sau về Cựu Hoàng Bảo Đại và về Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm: (1)Đây là một cặp cựu thù rất ăn jeu”: Bảo Đại đưa banh cho Ngô Đình Diệm sút vào lưới Cộng sản Bắc Việt”.
 
Suy nghĩ thật kỹ, đây không là một sự so sánh chỉ có giá trị “nghe chơi cho vui”, mà nó chứa đựng những sự thật mà chính cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cố ý công bố với toàn dân, nhưng chưa kịp, thì bị Dương Văn Minh vì lợi lộc cho bản thân,  nên đã sát hại vào ngày 1-11- 1963.
 
(1) LXN:
        Ăn jeu”: tiếng Pháp, en jeu ở đây có nghĩa là đồng-thuận (tâm đồng ý hiệp) với nhau. Nhưng trên thực-tế thì Bảo Đại và Ngô Đình Diệm là hai thái-cực đối-nghịch nhau, cho đến tận thời-điểm cuối tháng 10-1963 (trước ngày 1-11-1963).
        Nếu quả thật là Cựu-Hoàng Bảo Đại cũng đồng-ý với Tổng-Thống Ngô Đình Diệm (thương-thảo với Cộng-Sản Bắc-Việt), ngược lại với lời ủy-thác khi bổ-nhiệm Ông Ngô Đình Diệm làm Thủ-Tướng Quốc-Gia Việt-Nam [ông hãy thề là sẽ bảo vệ đất nước mà ông được giao cho để chống lại cộng-sản...], thì phải có ít nhất là một lời phát-biểu hay một động-thái liên-hệ nào đó, của Cựu-Hoàng Bảo Đại, mà cả thế-giới không nghe/thấy (nhưng chỉ có “Một nhà quan sát về các diễn biến chánh trị tại Việt Nam, trong những giai đoạn cận kim” biết được); thế thì tại sao, mãi đến hôm nay đâu còn Nhà Nguyễn, đâu còn Nhà Ngô mà nhân-vật thông-thạo đó vẫn còn xin được khỏi nêu tên, và chính Ông Nguyễn Nam Sơn cũng ăn jeu không chịu tiết-lộ tên, để bà-con gần-xa được vinh-hạnh thỉnh-cầu người ấy cho biết những những sự thật mà chính cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cố ý công bố với toàn dân, nhưng chưa kịp?
 
Câu chuyện bắt đầu từ khi một vị Hoàng Đế chưa đầy 20 tuổi, được Pháp đưa về cai trị nước thuộc địa Việt Nam. Người Pháp đã có những tính toán của người Pháp: Bảo vệ quyền lợi của mẫu quốc và của thực dân Pháp, trong guồng máy bảo hộ tại Việt Nam.
 
Nhưng vị vua trẻ cũng có những dự tính nồng nhiệt của tuổi trẻ: đem tinh thần Tự do Dân chủ Ngài đã hấp thụ được từ Pháp về làm nền tảng để cải cách và canh tân xứ sở. Vừa về đến Việt Nam, việc làm đầu tiên của Bảo Đại là đem những dự tính này thảo luận với các quan trong triều. Cụ Nguyễn Hữu Bài, Thượng thư Bộ lại, chức vụ tương đương với Thủ tướng, vì tin lầm rằng Pháp “đưa Bảo Đại về nước để canh tân Việt Nam”, nên tâu rằng: (không nguyên văn) “Hạ thần nay tuổi đã già sức yếu, không còn có  khả năng  tiếp tay với bệ hạ. Hạ thần nghĩ, có một người có thể thay thế hạ thần, để cáng đáng việc này, trong cương vị Thượng thư Bộ lại. Đó là Tuần vũ Bình Thuận, ông Ngô Đình Diệm, con của cụ Ngô Đình Khả”.
 
Được thông báo về toan tính của vua Bảo Đại, “có khả năng tạo nguy cơ cho chế độ Pháp ở thuộc địa”, Pháp liền nghĩ đến nhu cầu “phải cho người của Pháp bao vây Vua Bảo Đại, để kịp thời cản ngăn vị vua trẻ, có thể gây khó khăn cho nhà càm quyền thuộc địa”. Pháp đề nghị Nguyễn Đệ và Phạm Quỳnh; "hai tay chân của Pháp", để thay thế cụ Nguyễn Hữu Bài ở chức Thượng thư Bộ lại, nhưng, sau khi được cụ Bài cho biết về “ý đồ của bọn thực dân Pháp”, vua Bảo Đại đã chọn Ông Ngô Đình Diệm, dù chánh quyền thuộc địa Pháp chống đối dữ dội, vì ông Ngô Đình Diệm là người có chủ trương chống Pháp, đòi độc lập cho Việt Nam.
 
Nhậm chức xong, Thượng thư Bộ lại Ngô Đình Diệm được vua Bảo Đại giao cho việc lập kế hoạch canh tân xứ sở. Sau thời gian nghiên cứu soạn thảo, ông Ngô Đình Diệm trình kế hoạch lên Đức Vua. (2) Nguyễn Đình Hòe, chánh văn phòng của Bảo Đại (lúc này thân Pháp) vừa manh nha thân Cộng sản, liền thông báo cho Pháp qua Phạm Quỳnh.
 
(2) LXN:
        Nhân-vật này tên là Phạm Khắc Hòe, chứ không phải là Nguyễn Đình Hòe. Viết về lịch-sử mà không nhớ đúng họ+tên của đương-nhân thì làm sao mà người-đọc tin được.
        Phạm Khắc Hòe, tốt-nghiệp Cao-đẳng Pháp-Luật và Hành-Chánh (của Pháp) ở Hà-Nội, ra làm Tham-Tá Tòa Sứ ở Huế (nơi có Tòa Khâm-Sứ cấp Trung-Kỳ và Toà Công-Sứ cấp Tỉnh
Thừa-Thiên/Huế) ... đến năm 1933 [năm mà Hoàng-Đế thanh-niên Bảo Đại cải-tổ nội-các, thay-thế các Thượng-Thư già-cả bằng những nhân-vật trẻ-trung trong đó có Ngô Đình Diệm] thì chuyển sang ngạch Quan-Lại Nam-Triều.
Nguồn:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_Kh%E1%BA%AFc_H%C3%B2e
http://www.sachxua.net/forum/index.php?topic=1818.0;wap2
http://sachxua.net/forum/index.php?topic=1818.0
http://www.baomoi.com/Pham-Khac-Hoe--Tu-trieu-dinh-Hue-den-chien-khu-Viet-Bac/152/6837823.epi
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/6/33/33/157812/Default.aspx
 
        Ông Hòe đã từng làm việc với Pháp nhiều năm, nay Pháp viện cớ rằng ông có vợ là người hoàng-phái hệ cao (Công Tằng Tôn Nữ) nên chuyển ông qua Nam-Triều, làm Chánh Văn-Phòng cho Bảo Đại, mục-đích là để mật theo-dõi ông vua Tây-Học và nội-các mới/trẻ này. Vậy thì ông Hòe có thể trực-tiếp báo-cáo với Pháp để tâng công, cần gì phải qua Ông Phạm Quỳnh [để ông này giành mất công đầu]?
 
Bị người Pháp cản trở tối đa và biết được Pháp áp lực tối đa với nhà vua, mặc dù Bảo Đại không nghe theo áp lực của chánh quyền Pháp, để thay thế mình ở chức Thượng thư Bộ lại, nhưng ông Ngô Đình Diệm bèn đệ đơn từ chức, rũ áo ra đi.
 
Đầu năm 1945, lấy cớ “mượn đường đi xuống Đông Nam Á”, Nhật đến Việt Nam. Sợ ông Ngô Đình Diệm lợi dụng những mối giao hảo của ông đối với Nhật, để lật Pháp, chánh quyền thuộc địa tìm cách giết ông Ngô Đình Diệm. Do đó, ông Ngô Đình Diệm phải vào lẫn trốn ở Sài Gòn. Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chánh Pháp trao lại độc lập cho Việt Nam. Đức vua Bảo Đại nghĩ đây là lúc tiếp nối thực hiện những mong ước cải cách từ năm 1932, nên ông đã nhờ Nhật đi tìm ông Ngô Đình Diệm còn ở Sài Gòn. Tuy ông Ngô Đình Diệm có nhiều mối giao hảo tốt với mình, Nhật vẫn không tin rằng ông Ngô Đình Diệm sẽ chịu hoạt động bảo vệ quyền lợi của Nhật khi hữu sự.  Do đó, ông (3) Trần Trọng Kim, một người “của Nhật” được Nhật đưa từ Gia Nã Đại về cho vua Bảo Đại. Vì không biết làm sao tìm được ông Ngô đình Diệm, nên Đức Vua phải nhận ông Trần Trọng Kim làm Thủ tướng.
 
(3) LXN:
        Sự Thật là Ông Trần Trọng Kim được đưa về nước từ Thái Lan chứ không phải từ Gia Nã Đại (Canada).
        Vào thời-gian ấy, Gia Nã Đại (trong Liên-Hiệp Anh) đã tham-gia lực-lượng Đồng-Minh (Mỹ+Anh+Nga...) để đánh Đức Quốc-Xã, giải-phóng Pháp... Mà Nhật thì thuộc Phe Trục (Đức Quốc-Xã+Ý Phát-Xít+Nhật Quân-Phiệt), làm sao mà Nhật (phe Trục) tiếp-cận được Ông Trần Trọng Kim ở Gia-Nã-Đại (phe Đồng-Minh)?
Nguồn:
http://en.wikipedia.org/wiki/Allies_of_World_War_II
http://www.enotes.com/homework-help/what-countries-were-called-allies-world-war-ii-289041
http://wiki.answers.com/Q/What_countries_were_in_the_Allies_During_World_War_2
 
        Viết về lịch-sử mà không nhớ đúng sự-việc và bối-cảnh địa-dư thì làm sao mà người-đọc tin được?
       
Khi về Việt Nam chấp chánh lần thứ nhì, năm 1949, thì cái tiếc nhất của vua Bảo Đại là: Ông Diệm đã đi tu tại tu viện Citeaux ở Pháp, như theo lời của chính vua Bảo Đại đã nói với tôi khi đến thăm ngài nhân chuyến đi Hòa đàm Paris năm 1969.
 
Lần này, chánh quyền thuộc địa Pháp lại bao vây Đức Vua với nhiều khéo léo hơn, với nhiều cách “khoa học” hơn… với hai chủ đích: làm cho nhà vua xao lãng mọi việc Triều chính và vui lòng ký ban Sắc lệnh đã do Pháp soạn thảo… trong chiều hướng này, Pháp đã lập cho Vua Bảo Đại khu “Hoàng triều Cương Thổ” ở Cao nguyên, để nhà vua chỉ ăn chơi, săn bắn… Chính Cựu Hoàng Bảo Đại đã viết trong Hồi ký: Con Rồng Việt Nam:
 
Tôi đã thấy được hậu ý của Pháp, nhưng với bản tính thiếu cương nghị và đảm lược… và cũng không biết làm gì khác, nên tôi đã thuận theo ý họ. Tuy nhiên, tôi cũng đã chống lại áp lực của họ, bằng cách không chịu ký những sắc lệnh có thiệt hại đáng kể cho Việt Nam. Vài lần, thì người Pháp cũng hiểu được thái độ “chống đối ngầm” của tôi, nên chúng áp lực đưa tôi sang sống ở Cannes, hầu như chúng rảnh tay hơn ở Việt Nam”. Chính vua Đảo Đại đã viết như vậy.
 
Khoảng (4) cuối năm 1953, ông Ngô Đình Nhu nhờ ông Phạm Văn Nhu (sau này, dưới thời Đệ I Cộng Hòa là Phó Chủ tịch Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, kiêm Trưởng khối Cồng Đồng Nhân Vị tại Quốc Hội, kiêm Chủ tịch Quốc Hội) đến thăm Quốc trưởng Bảo Đại nhân dịp sang Pháp tham dự cuộc họp Cố vấn Liên Hiệp Pháp (ông này, là Cố vấn đặc trách về Trung Việt do vua Bảo Đại đề cử) và trình với Quốc trưởng về áp lực của Cộng sản ngày một nặng nề hơn, và nhu cầu phải có một Thủ tướng “Mạnh”, để “đương đầu với Cộng sản Bắc Việt.
 
Vua Bảo Đại có hỏi về ông Ngô Đình Diệm:
 
- Nghe đâu ông Ngô Đình Diệm đã sang Hoa Kỳ ?
- Ông ấy đến Mỹ để tìm hiểu người Mỹ nghĩ gì về hiểm họa Cộng sản ở Việt Nam, nhưng chuyến đi coi như thất bại, vì cả Quốc hội Hoa Kỳ lẫn Tổng thống Hoa Kỳ đều quá bận, nên không thể tiếp ông được. Cả Đức Hồng Y Spellman , Giáo chủ Giáo hội Thiên Chúa giáo Hoa Kỳ (thuộc La Mã), cũng vì bận, nên cũng không thể tiếp.
 
(4) LXN:
        Đến cuối năm 1953 mà Ông Nguyễn Nam Sơn còn viết là Ông Ngô Đình Diệm không được Đức Hồng-Y Spellman tiếp đón, trong lúc Sự Thật là Ông Diệm, ngay từ sau 1950, đã gặp được nhiều nhân-vật tên-tuổi trong chính-giới, giáo-giới, lưỡng-viện quốc-hội, tối-cao pháp-viện, hành-pháp, cơ-quan CIA, của Hoa-Kỳ, nhất là đã được Hồng-Y Spellman đặc-biệt giúp-đỡ nhiều mặt, khiến các sử-gia gọi Ngài là người đã đóng môt vai trò rất quan-trọng trong việc tạo nên sự-nghiệp chính-trị của Diệm sau này.
Nguồn:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_%C4%90%C3%ACnh_Di%E1%BB%87m
http://motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/NgoDinhDiem/NDChau/TieusuNDD.htm
http://www.vietnamvanhien.net/ngodinhdiem.html
http://chuacuuthemedia.wordpress.com/2011/10/27/ti%E1%BB%83u-s%E1%BB%AD-c%E1%BB%91-t%E1%BB%95ng-th%E1%BB%91ng-ngo-dinh-di%E1%BB%87m/
http://tintacsinhtulenh.wordpress.com/2010/11/05/ti%E1%BB%83u-s%E1%BB%AD-ngo-dinh-di%E1%BB%87m/
https://groups.google.com/forum/?fromgroups=#!topic/soc.culture.vietnamese/_hLtAZdWVFQ
 
        Viết về lịch-sử mà coi chuyến đi của Ông Diệm qua Mỹ là thất-bại [Diệm cũng không được Hồng-Y Spellman tiếp?], thì làm sao mà người-đọc tin được?
 
Từ trước đến nay, nhiều người vẫn cho rằng Hoa Kỳ đưa Ông Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng: Điều này, hoàn toàn sai, vì sự thật là chính Hoàng Đế Bảo đại đã chọn Ông Ngô Đình Diệm, chứ không phải ai khác.
 
Vua Bảo Đại chưa kịp có biện pháp thích ứng, thì Việt cộng đã “thắng” Pháp ở Điện Biên Phủ…
 
Ngay (5) sau Hiệp định Genève, 1954, chia đôi đất nước, trước nguy cơ Cộng sản Bắc Việt xâm nhập miền Nam, các tổ chức và dảng phái chánh trị đã cử một phái đoàn đông đảo sang Pháp gặp vua Bảo Đại ,và lập lại lời thỉnh cầu của ông Ngô Đình Nhu trước đó chưa đầy một năm: cần có một Thủ tướng có đảm lược… để đương đầu với Cộng sản Bắc Việt. Nhân đây, tôi xin được nhắc lại về cuộc gặp gỡ này, theo chính lời kể của (7) Đức Vua Bảo Đại như sau:
 
…...
Sau khi lắng nghe từng người trong phái đoàn nhận định về tình hình chính trị tại Việt Nam, nhất là về những mối nguy Cộng sản Bắc Việt sẽ xâm lăng Miền Nam Tự Do, tôi nhìn những người trong phái đoàn:
 
- Có vị nào trong quý vị, tự xét có đủ khả năng là vị Thủ tướng đó không ?
Không ai nói gì!
Tôi hỏi tiếp:
- Quý vị có đề cử ai không ?
Cũng không ai có trả lời gì!
Để làm dịu bớt bầu không khí đang căng thẳng, tôi nói một cách bâng quơ:
- Cá nhân tôi, tôi biết một người mà chắc chắn quý vị sẽ không chịu… mà dù quý vị có chịu đi nữa, thì tôi chắc 100% người đó sẽ không chịu.
Mọi người đều hỏi:
- Xin (7) bệ hạ cho biết người đó là ai ?
Tôi nói tiếp, cũng với một cách bâng quơ, theo kiểu “nói cho vui” chứ không vì mục đích.
- Người đó, tên là Ngô Đình Diệm ! Tôi nghĩ sẽ có rất nhiều sự phản đối, nhưng vô cùng ngạc nhiên, khi nghe câu:
- Chúng tôi đồng ý Ông Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng !
Bấy giờ, tôi cảm thấy mình bị “kẹt” vì câu nói bâng quơ, vì tôi chắc chắn không khi nào Ông Diệm nhận lời.
- Tôi biết Ông Diệm sẽ từ chối…
- Xin (7) bệ hạ hãy cố gắng vì tiền đồ của đất nước, vì chỉ có ông Diệm mới đủ khả năng và đảm lược, để đương đầu với Cộng sản Bắc Việt.
Tôi suy nghĩ vẫn không biết làm cách nào để mời cho được Ông Diệm, nhưng tôi muốn cho mọi người cần được an lòng:
- Mời Ông Diệm khó vô cùng, nhưng tôi sẽ cố gắng.
 
Tôi gọi điện lên Tu viện Citeaux cả thảy bốn lần, nhưng Ông Diệm không tiếp điện, tôi cầu cứu bà Nam Phương, vì tôi biết Ông Diệm rất nể bà này. Qủa nhiên, đúng như tôi nghĩ, Ông Diệm tiếp điện bà Nam Phương, nhưng một mực từ chối về Việt Nam làm Thủ tướng. Thấy không gì lay chuyển được ý chí cương quyết của ông; sau cùng bà Nam Phương nói:
 
- Thôi tôi không đề cập đến việc Quốc trưởng có ý muốn mời ông về làm Thủ tướng nữa, mà chỉ xin Ông, vì nể tình vợ chồng tôi, cho vợ chồng tôi được gặp mặt ông một lần. (khi tôi đến tìm anh Bùi Tường Minh, Chánh văn phòng của (7)  Đức vua vào năm 1969, và may mắn được gặp ngài, tôi vô cùng ngạc nhiên khi (7)  Đức Vua bảo tôi vào phóng khách, kéo tay tôi ngồi cùng ghế sofa với ngài, lấy nước mời tôi và bảo tôi gọi ngài là (6) Bác (chú thích của người viết bài này).
 
Lúc đầu, Ông Diệm không chịu đến Cannes, nhưng sau đó, tôi không nhớ bà Nam Phương nói gì với ông Diệm, mà ông Diệm đến đúng ngày hẹn.
 
Bà Nam Phương và tôi vui vẻ tiếp ông Diệm và cả ba chúng tôi mãi miết kể lại những kỷ niệm xưa… từ lúc tôi vừa về chấp chánh lần đầu năm 1932… Rồi từ chuyện này, chúng tôi kéo sang chuyện khác và làm như vô tình, tôi cũng nói một cách bang quơ:
 
- Khi nào Quốc Gia hữu sự, thì tôi lại cần đến Ông.
Và tôi lén nhìn ông, để xem ông có phản ứng như thế nào. Ông Diệm có vẻ cảm động nhiều, nhưng không nói gì… Được bước đầu, tôi từ từ đi vào lãnh vực các vấn đề tôn giáo (tôi biết ông Diệm là một tín đồ Thiên Chúa Giáo hết sức ngoan đạo), kinh tế, văn hóa, xã hội… Và cuối cùng về Cộng sản và về những phương cách để chống Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm miền Nam. Ông Ngô Đình Diệm hăng say trình bày ý kiến. Và tôi kết luận:
 
- Không có gì hay hơn những gì (6) Bác đề ra… nhưng… vấn đề là ai sẽ là người đủ khả năng và đủ đức hy sinh để đứng ra thực hiện những điều đó ?
 
(6) LXN:
        Đức Vua Bảo Đại bảo Ông Nguyễn Nam Sơn gọi Ngài là Bác (chuyện không liên-can gì đến nội-dung bài-viết này), thế mà Ông Sơn lại bắt Cựu-Hoàng Bảo Đại cũng phải gọi Ông Ngô Đình Diệm là Bác (mặc dù ở đoạn trước và các đoạn sau thì Bảo Đại gọi Diệm là Ông)!
        Viết về lịch-sử mà không nhớ đúng lời-lẽ xưng-hô giữa các đương-nhân thì làm sao mà người-đọc tin được?
 
Ông Ngô Đình Diệm im lặng không trả lời, nhưng tôi có cảm giác ông Diệm hiểu tôi muốn gì… Hồi lâu, ông nói:
 
- Thưa (7) Hoàng thượng, không thể được ạ. Tôi phải phụ lòng của (7) hoàng thượng, không thể được ạ. Tôi xin trình ngài là sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đã quyết định. Tôi định đi tu...
- Tôi kính trọng ý định của ông. Nhưng hiện nay tôi kêu gọi đến lòng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của mình. Nhưng sự tồn vong của Việt Nam buộc ông như vậy.
Sau một hồi yên lặng cuối cùng ông Diệm có vẻ do dự:
- Còn bọn Pháp ?
Tôi đối phó với họ!
- (7) Hoàng thượng sẽ cho tôi thời gian bao lâu ?
- Ông được toàn quyền hành xử, khỏi cần hỏi ý kiến tôi trước, và thời gian vô hạn định cho đến khi Ông cảm thấy đánh bại Cộng sản Bắc Việt, trong mưu toan xâm lăng Miền Nam.
- (7) Hoàng thượng hứa chắc ?
- Tôi xin cam kết như vậy!
 
- Thưa (7) Hoàng thượng, trong trường hợp đó, tôi xin nhận sứ mạng mà Ngài trao phó.
Cầm lấy tay ông ta, tôi kéo sang một phòng bên cạnh, trong đó có cây thánh giá. Trước thánh giá tôi nói với Ông:
- Đây Chúa của ông đây, ông hãy thề trước chân dung Chúa là giữ vững đất nước mà người ta đã trao cho ông. Ông sẽ bảo vệ nó để chống lại bọn Cộng sản, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp nữa.
 
Ông Diệm đứng yên lặng một lúc lâu, rồi nhìn tôi, sau nhìn lên Thánh giá, ông nói với giọng nghẹn ngào: “Tôi xin thề.”     
……….
 
(5) LXN:
        Sau Hiệp-Định Geneva 1954, nghĩa là sau ngày Hiệp-Định ấy được ký [20-7-1954], mới có một phái-đoàn sang Pháp gặp vua Bảo Đại, rồi Cựu-Hoàng Bảo Đại và Cựu Hoàng-Hậu Nam Phương mới tìm cách mời Ông Ngô Đình Diệm đến để thuyết-phục, rồi Ông Diệm mới “xin nhận sứ mạng” [về làm thủ-tướng] mà Bảo Đại trao cho?
        Sự Thật là việc Ông Bảo-Đại mời và bổ-nhiệm Ông Diệm làm Thủ-Tướng Quốc-Gia Việt-Nam đã hoàn-tất thành-công, và Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm đã về Việt-Nam từ ngày 24 (có nơi viết là 25-6-1954 (khoảng cả tháng trước đó) rồi!
        Viết về lịch-sử mà không nhớ đúng các mốc thời-gian trọng-đại như thế thì làm sao mà người-đọc tin được?
 
Ông Ngô Đình Diệm về Việt Nam nhậm chức, Pháp lồng lộn, tức giận. Ông Georges Bidault và một viên chức bộ Ngoại giao (trước kia lãnh đạo bộ thuộc địa) đến gặp tôi và đã không tiếc lời trách móc tôi. Lúc quá nóng giận, ông đánh giá việc tôi mời ông Ngô Đình Diệm về làm thủ tướng, là “có ý đồ chống Pháp, vô trách nhiệm và có ý phản bội”.
Tôi trả lời như sau:
 
- Ông Diệm là người duy nhất đủ khả năng, để không cho Cộng Sản bắc Việt xâm chiếm Miền Nam !
 
Tôi cứ tưởng nói như thế, thì Georges Bidault “thông cảm” hơn… nhưng, câu nói tiếp theo của ông ta, đã làm tôi choáng váng:
 
- Thà là Cộng sản Bắc Việt chứ không là Ngô Đình Diệm !
…………….
Muốn biết thêm về việc “Ông Diệm truất phế Bảo Bại” như người ta thường nói, tôi, người viết bài này hỏi:
- Bác nghĩ sao về việc Ông Diệm “truất phế”?
- Lúc sự việc vừa xẩy ra, tôi rất giận ông Diệm và lên án ông ấy là một “kẻ bất trung, phản bội” như lời kết án của những người chung quanh tôi. Nhưng, sau khi đã điều tra kỹ, thì tôi được biết những Tướng lãnh phía Ông Diệm (khi ấy, ông Diệm còn đang bị các ông này hoàn toàn chi phối) áp lực, Ông Diệm phải làm như thế với lý luận rằng Ông Diệm phải hoàn toàn độc lập đối với tôi, thì mới làm được việc: Nếu Ông Ngô Đình Diệm còn dính dáng đến tôi, thì còn gặp rắc rối từ phía người Pháp, vì họ cho tôi là người “Pháp bảo gì làm nấy”.
 
Bác nghĩ Ông Diệm làm như vậy, là đúng hay sai ?
 
- Sau khi đã biết rõ mọi “sự thực bên trong” của vấn đề, tôi cho rằng Ông Ngô Đình Diệm làm như vậy là Đúng, và sở dĩ tôi phải mời cho bằng được ông Ngô Đình Diệm, vì cần phải đối phó với Cộng sản Bắc Việt, và những mưu đồ của chúng. Cạnh đó, tôi vẫn không sao quên được việc người Pháp luôn luôn xem Ông Ngô Đình Diệm là kẻ thù, chứ không phải là Cộng sản Bắc Việt !
 
Do đó, tôi không còn coi việc tôi bị ông Ngô Đình Diệm “truất phế” là một hành động “bất trung”, vì tôi khẳng định Ông Ngô Đình Diệm là một Trung Thần !
 
Thoạt tiên, tôi có buồn phiền sao ông Diệm không bàn trước với tôi, nhưng suy nghĩ kỹ, thì ông Diệm có hai lý do chính yếu:
 
- Bàn trước với tôi, vì sợ người Pháp hay vì Ông cho rằng tôi đã bị “người Pháp mua chuộc”.
- Ông Diệm “giận” tôi, vì tôi đã không làm gì để giúp ông chống lại phía Tướng Nguyễn văn Hinh + Bình Xuyên + Giáo phái … (khi ấy, tôi phải ở thế “án binh bất động”, vì không làm gì được: Tướng Hinh là Pháp !
 
- Vậy, khi bị “truất phế” Bác đã phản ứng như thế nào ?
Mặc dù bị đủ mọi thứ áp lực, chỉ trích từ phía người Pháp cũng như từ phía những người “Bảo Hoàng”, tôi vẫn không có phản ứng gì, vì tôi đồng tình với Ông Ngô Đình Diệm:
 
Phải Hy Sinh Tất Cả, nếu muốn Tiêu Diệt cộng sản!
 
Và do việc (7) Đức Vua Bảo Đại theo Thiên Chúa Giáo, với Tên Thánh Gioan Baotixita là Tên Thánh của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tôi dám khẳng định rằng: không còn gì khúc mắc gì giữa hai nhân vật chống Cộng hàng đầu của Việt Nam là Cựu Hoàng Bảo Đại và Cố tổng Thống Ngô Đình Diệm.
 
(7) LXN:
        Vào năm 1969, Ông Nguyễn Nam Sơn vẫn còn gọi Cựu-Hoàng Bảo Đại là Vua, là Đức Vua, là Bệ Hạ” (Vua Bảo Đại đã thoái-vị từ năm 1945), là việc riêng của ông ấy.
Nhưng, vào năm 1954 mà Ông Sơn lại bắt Ông Ngô Đình Diệm phải gọi Quốc-Trưởng Bảo Đai là Hoàng Thượng thì không đúng với Sự Thật; huống chi Ông Diệm là người rành hơn ai hết về các lễ-nghi, phép-tắc cung-đình, và vào lúc này thì lại nắm vững hơn ai hết về thân-thế, vai trò, thế đứng giữa hai người.
Viết về lịch-sử mà không nhớ đúng bối-cảnh, địa-vị, quy-tắc xưng-hô giữa các nhân-vật liên-quan, thì làm sao mà người-đọc tin được?
 
Nguyễn Nam Sơn
 
Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 498.
Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 516.
Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 514.
Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 514
 
----------------------------------------------------------------------------------------------------
 *
        Tóm lại, hầu như Ông Nguyễn Nam Sơn muốn nhấn mạnh rằng Ông Ngô Đình Diệm không phải do Mỹ đưa về, mà do chính Quốc-Trưởng Bảo Đại nài-nỉ mời làm Thủ-Tướng; và chính Ông Bảo Đại cũng không giận-hờn gì về vụ bị Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm truất-phế: việc đó thì chính Ông Bảo Đại đã viết trong cuốn hồi-ký Con Rồng Việt-Nam mà rất nhiều người đã đọc rồi, đã biết rồi. Có gì là mới, lạ đâu?
Ông Nguyễn Nam Sơn chỉ viết lại những điều mà nhiều người đã viết, đã đọc, đã biết (nhưng lại sai nhiều về không-gian, thời-điểm, sự-việc, ngôn-từ...). Thế thì có gì mà Ông Sơn lại giáo đầu rằng: Suy nghĩ thật kỹ, đây không là một sự so sánh chỉ có giá trị “nghe chơi cho vui”, mà nó chứa đựng những sự thật mà chính cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cố ý công bố với toàn dân, nhưng chưa kịp.
Và bây giờ thì Ông Nguyễn Nam Sơn đã công-bố ra rồi, “những sự thật mà cố TT Ngô Đình Diệm đã cố ý nhưng chưa kịp công-bố với toàn-dân”?
 
Tuy-nhiên, “sự so sánh” ấy, “những sự thật” ấy, Ông Sơn không dám nhận là của mình, mà đổ cho “một nhà quan sát [nào đó] về các diễn biến chánh trị tại Việt Nam, trong những giai đoạn cận kim (người đó xin được khỏi nêu tên)”.
Có gì ghê-gớm lắm mà sợ trách-nhiệm nên phải giấu tên?
 
Vấn-đề còn lại là: Bảo Đại đưa banh cho Ngô Đình Diệm sút, và Ngô Đình Diệm đã sút vào lưới Cộng sản Bắc Việt như thế nào, mà Ông Nguyễn Nam Sơn (à không, nhà quan sát” kia) bảo là hai người rất ăn jeu” với nhau?
 
 
 
Tháng Tư Đen đã đến rồi.
Muốn biết thế-lực nào, biến-cố nào
đã giết VNCH vào ngày Quốc-Hận 30-4-1975,
xin mời đọc
Nam Cali: các nhà sách Tú Quỳnh, Tự Lực
Bắc Cali: các nhà sách Hương Giang, Khai Trí, Tự Do
 

No comments: