Wednesday, November 9, 2016

THÁNG TƯ ĐEN * TRẦN VĂN ÂN * NGUYỄN BÁ THANH

Friday, May 2, 2014

ALAN PHAN * THÁNG TƯ ĐEN

0-04-2014


Tháng Tư Đen và Đỏ

Alan Phan
26 April 2014
Tôi về lại Nam Cali tuần rồi. Chạy qua con đường Bolsa ở Little Saigon để đến tiệm phở với vài người bạn Mỹ, ai cũng trố mắt nhìn cờ xí bay ngập trời (dĩ nhiên là cờ vàng 3 sọc đỏ) và dọc vỉa hè là những triển lãm hình ảnh về tội ác của “bên thắng cuộc”. 

Tôi chắc chắn rằng cách đây nửa vòng trái đất, tại Saigon và các thành phố lớn của Việt Nam, một hình ảnh ngược lại đang ngự trị: đại lễ ăn mừng chiến thắng mùa xuân, cờ đỏ sao vàng ngập phố hẽm và trên TV, những tội ác của Mỹ Ngụy được phát sóng hàng giờ cùng những bài diễn văn ca ngợi đảng quang vinh.
Hai thái cực này không nói lên điều gì ngoài việc cuộc chiến Bắc Nam vẫn âm thầm tiếp tục sau 39 năm. Chỉ có một khác biệt là cả 2 phe đều muốn kéo Mỹ về phía mình. Và trong khi miền Bắc học được vài ba bài học về chuyện anh em với xứ của 16 chữ vàng (xem hồi ký của Krushchev trên trang này); dân miền Nam cũng biết rõ hơn về “cam kết” của ông đồng minh gọi là tư bản Mỹ.
Những bài học quá đắt cho hơn 3 triệu sinh mạng và cả chục triệu mảnh đời tan nát vì chiến tranh “proxy” của các cường quốc. Những chính trị gia và gia đình thì dĩ nhiên hưởng lợi trong mọi tình thế, dù phục vụ ông chủ nào, dưới bất cứ hình thức nào. Trong khi đó, xứ sở bị tụt hậu khoảng 80 năm so với các nước láng giềng, và thu nhập của người dân tụt xuống gần cuối bảng của Á Châu. Niềm hãnh diện duy nhất của Việt Nam hiện nay là thuộc hàng top ten trên thế giới về lượng tiêu thụ bia rượu và thuốc lá nhiều nhất cho mỗi đầu người.
Độc lập, tự do, hạnh phúc chỉ hiện hữu trên giấy tờ, biểu ngữ… và dành cho vài phần trăm dân số. Đại đa số người dân âm thầm chịu đựng, trong thời chiến cũng như thời bình, an phận làm những con tốt thí trong một bàn cờ họ không quan tâm và không hiểu nổi. Tệ nhất là một nền văn hóa giáo dục xuống cấp trầm trọng, ngay cà các lãnh đạo cấp cao của đảng CS cũng phải thừa nhận.
Và cứ thế 39 năm trôi qua, và có lẽ 39 năm sắp tới cũng sẽ sao y nếu không có một hay hai “con thiên nga đen” nào. Tháng 4 sẽ vẫn “đen” dù “đỏ”.
Thực sự cá nhân tôi thì đã quên biến cố dâu biển ngày 30/4/1975 ngay vài ngày sau đó. Nặng gánh vợ con, tôi phải tíu tít đi kiếm việc làm để gia đình sinh tồn tại một xứ Mỹ bận rộn vì cạnh tranh. Tôi không có cái luxury để phân tích chính trị lịch sử hay dự đoán về tình hình kinh tế xã hội của một quê hương đã bỏ lại ngàn dặm. Nhưng sau vài năm ổn định cuộc sống vật chất, tôi lại phải đối mặt với bao nhiêu nhắc nhở từ một quá khứ mà mình nghĩ đã an táng dưới mộ sâu. Nào chuyện bạn bè bà con vượt biển đang nằm ở Mã Lai, Phi…chờ bảo lãnh; nào chuyện người trong nước viết thơ hàng ngày xin cứu trợ; nào chuyện các tổ chức thiện nguyện cần người làm trong những ngày nghỉ để hổ trợ cho người mới đến….
Trên hết, chuyện Việt Nam vẫn chiếm những cột báo ngay trang đầu: lần này thì chuyện thuyền nhân, chuyện chiến tranh với Trung Quốc, với Kampuchia, chuyện các tay phản chiến ngày xưa phản tỉnh như Joan Baez, J.P. Sartre, Trương Như Tảng…Không ai để cho tôi quên “ngày xưa”; nhất là những cuộc biểu tình rầm rộ khắp thế giới của 2 bên “thua’ và “thắng” vào mỗi tháng tư.
Sau đó, tôi có dịp quay về Á Châu làm ăn; do đó, thường xuyên về Việt Nam để “ăn chơi” (xin thú thật) và bù khú với các bạn mới cũ hiện rất rảnh rang. Không tính làm ăn gì, nhưng tôi vẫn bị quê hương lôi kéo. Sau khi mất vài ba triệu đô trong lần tháo chạy năm 1975, tôi lại mất thêm vài triệu đô vào những đầu tư mới từ 2007. Tuy nhiên, tiền là “chuyện nhỏ”; và tôi không có một mất mát gì về “nợ máu” của cả 2 bên. Cho nên, tôi không có lý do gì để thù hận hay oán ghét ai, và cũng không có nhu cầu ganh tị vì nghĩ cá nhân mình đã quá may mắn trong cuộc chơi “đen đỏ” này.
Tôi chỉ biết nhìn với cặp mắt buồn rầu về một quê hương và dân tộc có đầy đủ điều kiện để “hóa rồng” nhưng chỉ vì vài lựa chọn sai lầm, biến thành con giun đất. Và nếu thái độ của mọi người vẫn thể hiện như đang thể hiện ngày 30/4 mỗi năm, thì tương lai con cháu trên quê hương này vẫn “đen” dù “đỏ”.
Tôi tin là con người sáng tạo ra định mệnh của mình qua tư duy, lựa chọn, hành động và thói quen. Nhưng mỗi năm vào tháng 4, tôi vẫn buột miệng theo bạn bè “cái đất nước mình nó thế”.
Tôi có một người anh bà con xa, lớn tuổi hơn làm bác sĩ tại Saigon trước 1975. Qua đây tị nạn, anh cố gắng đi học lại và sau 5 năm nghèo khó, thi đậu bằng bác sĩ Mỹ và hành nghề lại ở Cali. Anh thành công và tạo cho gia đình một cuộc sống khá sung túc. Nhưng chỉ được vài năm, thằng con trai đầu mới vừa 18 tuổi, nghe lời bạn học khích bác, nổi giận và đâm chết một tình địch. Nằm tù 16 năm, thằng bé ra tù và suy sụp hoàn toàn với ma túy và bạo lực.
Trong khi đó, 4 em còn lại, ai cũng thành tài vẻ vang với cách giáo huấn đầy đạo đức của một gia đình tử tế. Tuy nhiên, anh nói mỗi ngày hai vợ chồng vẫn lưng tròng nước mắt và tan nát tim đau khi nghĩ đến đứa con đầu bị “tai nạn”. Mỗi lần anh chị khóc, tôi chỉ biết ngồi im và buồn rầu nhìn thảm cảnh. Và chợt nhớ lại quê hương ngàn dặm…
Có lẽ vì đại đa số người dân nơi đó vẫn chỉ là những “kẻ thua cuộc” hay những người gặp “tai nạn”?

LÊ XUÂN NHUẬN * NGƯỜI BẠN ĐỒNG-MINH

NGƯỜI BẠN ĐỒNG-MINH &
TÒA TỔNG-LÃNH-SỰ HOA-KỲ VÙNG I
        TRONG suốt thời-gian từ Hiệp-Ðịnh Geneva 1954 đến Hiệp-Ðịnh Paris 1973, nhất là từ 1962 đến 1975, đã có khoảng vài chục người Mỹ làm Cố-Vấn (Phối-Trí-Viên, rồi Người Bạn Đồng-Minh) cho tôi: đa-số họ là viên-chức cơ-quan Tình-Báo TrungƯơng Hoa-Kỳ (CIA). Mỗi người đều có những đặc-điểm nào đó, phần lớn là tốt, về mặt công-tác chung hoặc về mặt quan-hệ hợp-tác giữa hai bên.
        Tôi biết rằng đa-số viên-chức tình-báo Mỹ đều mang tên giả; nhưng, người nào đã có một vai trò, một chỗ đứng, thì đều cần có một cái tên, để phân-biệt kẻ khác với mình.
        Tuy nhiên, người đã đẩy tôi vào một cuộc chiến-đấu gay-gắt, cùng một lúc với cả ba kẻ thù theo nguyên-tắc tình-báođối-phương, công-chúng, và đồng-nghiệplại là một trong các Người Bạn Ðồng-Minh hậu-chiến của tôi, trong một năm rưỡi tôi được Trung-Ương đưa trở về Miền Trung, cũng là giai-đoạn lịch-sử cuối-cùng của Việt-Nam Cộng-Hòa. Dù sao, anh bạn này cũng đã ghi lại một dấu ấn sâu-đậm trong trí nhớ của tôi.
        Người đó là Kenneth D. Ferguson.
*
        Sau khi đã trắc-nghiệm cả về mặt liên-hệ gia-đình với cộng-sản* (Xem bài “Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình) lẫn về mặt công-tác tình-báo chuyên-môn, cũng như chính tôi tự chứng-tỏ kiến-thức, năng-lực, kinh-nghiệm và sáng-kiến của mình, Tòa Tổng-Lãnh-Sự Hoa-Kỳ và Người Bạn Đồng-Minh tại Vùng I đã hoàn-toàn tin-tưởng và triệt-để yểm-trợ tôi.
        Ngoài những đóng-góp hữu-hiệu trong công-cuộc chống-Cộng và Bình-Định & Phát-Triển chung, tôi đã giúp họ một tay trong việc dễ-dàng-hóa hoạt-động và cả bảo-vệ uy-tín cho chính họ.
 
        Từ năm 1974 qua đến tháng 3-1975, giai-đoạn cuối-cùng
của Việt-Nam Cộng-Hòa, có nhiều tổ-chức tư-nhân Hoa-Kỳ, tôn-giáo và xã-hội, đã đến Miền Trung, đặc-biệt là Đà-Nẵng, trực-tiếp giúp-đỡ người dân địa-phương, từ các Tỉnh khác trốn chạy cộng-sản di-tản đến. Nổi bật trong các nỗ-lực ấy là Chương-Trình “Áo Xanh”, tuyển-dụng người thất-nghiệp đi hốt rác, vét mương, sơn tường, trồng cây, v.v... tức là tạo ra việc làm, dù không cấp-thiết, để trả lương cho họ sống; cũng như phân-phát miễn-phí áo-quần, dụng-cụ, thuốc-men và thực-phẩm định-kỳ cho các gia-đình túng nghèo.
        Đương-nhiên Mỹ phải nhờ đến trung-gian là người Việt-Nam, nên sinh ra lạm-dụng, bè-phái, bất-công, bất-bình. Có lần một nhóm cực-đoan đã tổ-chức một cuộc xuống-đường lớn, đông nghẹt trước cổng Tòa Tổng-Lãnh-Sự Hoa-Kỳ, vừa công-kích gắt-gao vừa đưa yêu-sách này kia. Nhờ tôi biết trước nên một mặt chỉ-thị cho Đặc-Cảnh Đà-Nẵng thu-thập bằng-chứng chứng-tỏ là bọn phá-rối mượn cớ để sách-động đám đôngcũng như cả chục Liên-Minh, Mặt Trận, Lực-Lượng, Phong-Trào, Tổ-Chức, Tập-Hợp, Đảng, Phái, Hội, Đoàn, v.v... họp+hành liên-miênchứ các nhân-vật từ-tâm cũng như đại-diện của Tòa TLS Mỹ thì chỉ có thiện-chí và vô-tư mà thôi; mặt khác tôi báo cho họ biết trước, nên khi Tòa TLS bị biểu-tình, phóng-viên các Hãng/Đài Mỹ phỏng-vấn, phát-ngôn-viên của Tòa đã trả lời trôi-chảy, không bị Cấp Trên hay độc/khán/thính-giả chê trách điều gì.
 
        Tôi đã cấp Giấy Giới-Thiệu” cho một số nhân-viên của Người Bạn Đồng-Minh, xem như phái-viên của Đặc-Cảnh, để họ đi tiếp-xúc với các đối-tượng của họ dễ-dàng hơn.
        Tôi đã xin Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I cấp Giấy Phép Mang Vũ-Khí” cho một số cộng-tác-viên của họ, để tự-vệ khi đi hoạt-động ở vùng nông-thôn.
        Tôi cũng đã liều-lĩnh xin Đại-Tá Lộc ký các Giấy Phép Lưu-Thông Ban Đêm” cho một số xe-hơi của họmặc dù theo nguyên-tắc thì chỉ có Sĩ-Quan Quân-Trấn-Trưởng được Tư-Lệnh Quân-Khu ủy-nhiệm mới có quyền đó trong thời-gian thiết quân-luật hoặc trong giờ giới-nghiêm ban đêm. V.v...
 
        Đáp lại, Người Bạn Đồng-Minh cũng đã dành nhiều ưu-tiên cho tôi trong các hoạt-động hằng ngày.
        Quan-trọng hơn hết là các công-tác của tôi, móc-nối, tuyển-mộ thành-viên cộng-sản Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi trong Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát & Giám-Sát Ngưng Bắn (ICCS) làm nội-tuyến cho ta, do tôi khởi-xướngthực-hiện thành-công, và chuyển-giao cho Người Bạn Đồng-Minh tiếp-tục khai-dụng bên trong hàng-ngũ Đảng, Nhà Nước, và Bộ-Đội của họ sau khi họ về nước, nằm vùng cho Thế-Giới Tự-Do trong Khối Cộng-Sản Đông-Âu* (Xem cuốn “Cộng-Sản Đông-Âu” của Lê Xuân Nhuận sắp ấn-hành).
        Họ trả tiền điện, tiền dùng điện-thoại Bưu-Điện, tiền xăng, và các chi-phí linh-tinh mà phía Việt-Nam không cung-ứng đủ cho tôi, nhất là chi-phí tình-báo.
        Họ thỏa-mãn ngay nhu-cầu của tôi di-chuyển bằng phi-cơ Air America, dù là vào ngày lễ nghỉ và chỉ sử-dụng một mình bất-cứ đi đâu và đi bao lâu (trả tiền phi-công rất cao); họ dành cho tôi quyền ký các phiếu trưng-vận phi-cơ Air America, cho bất-cứ người nào, được đáp các chuyến bay thường ngày. Và tôi được quyền sử-dụng Phòng Khách đặc-biệt tại trạm hàng-không; mỗi khi tôi đến là viên kỹ-sư Trưỏng Trạm người Phi-Luật-Tân giao ngay chìa-khóa vào phòng VIP cho tôi.
        Họ dành ưu-tiên một chỗ cho tống-thư-viên của tôi trên bất-cứ chuyến bay nào đi/về Sài-Gòn hay các Tỉnh trong Vùng.
        Họ giúp cho tôi bí-mật sử-dụng một số nhân-viên của Hãng-Thầu Mỹ (cung-cấp khách-sạn, tài-xế, lao-công, và các dịch-vụ ẩm-thực, vệ-sinh, v.v...) để làm tay-trong cho Ngành Đặc-Cảnh của tôi.
        Họ cũng tổ-chức những buổi tiệc-tùng chiêu-đãi hầu hết mọi giới tai-mắt tại địa-phương, nhưng cốt ý là để cho tôi có cơ-hội tiếp-xúc với các sĩ-quan cao-cấp Trưởng Phái-Đoàn trong Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Và Giám-Sát Ngưng Bắn, nhất là cộảg-sản Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi...
 
        Trước khi tôi đến, chỉ có chưa đầy $4,000.00 chi-phí mà Người Bạn Đồng-Minh hết đòi biên-nhận lại hỏi chứng-từ.
        Với tôi, họ đã ứng trước một số tiền lón, bao giờ tiêu hết thì lại lấy thêm, tùy tôi quyết-định mỗi việc là bao nhiêu tiền. Tôi giao cho Đại-Úy Phạm Khả*, Chủ-Sự Phòng Điều-Hợp, kết-toán với Văn-Phòng NBĐM. Mỗi tháng tôi tiêu trên $400,000.00, nhiều hơn trăm lần so với trước kia, chưa kể các khoản đặc-biệt.
        (Tôi có nhân dịp giúp cho một số anh+em hữu-công, mỗi người mỗi tháng từ $1,000.00 lên đến $10,000.00. Nhưng tôi không lấy cho mình một xu nào. *Phạm Khả (*Phạm Khả hiện ở Thành-Phố Bloomington, Illinois, US.) trả tiền thuê nhà cho tôi mỗi tháng $20,000.00, trong lúc Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương cho tôi mỗi tháng $20,000.00 để trả tiền thuê nhàhẳn cũng là tiền lấy của NBĐM, nên tôi tự cho là đã có nhận $20,000.00 rồimặc dù lấy thêm tôi tin là họ vẫn sẽ sẵn lòng.)
*
        Tiếp theo mấy Tỉnh ở Cao-Nguyên, tất cả các Tỉnh ở Vùng I cũng mất luôn. Dân, chính, công, quân, từ các Tỉnh thất-thểu kéo về Thị-Xã Đà-Nẵng chật đường. Nhũng kẻ có súng tha-hồ phá-phách, cướp của, hiếp-dâm, giết người.
        Số-phận của Quân-Khu I chỉ còn trông cậy vào tình-hình an-ninh trật-tự tại hậu-cứ duy-nhất này.
        Đối với tôi, vận-mệnh của bất-cứ yếu-điểm nào cũng tùy-thuộc vào quyết-định của Hoa-Kỳ.
        Liệu Hoa-Kỳ có cố-thủ, hay sẽ bỏ rơi Đà-Nẵng, và...?
*
        Như có linh-tính báo trước, tôi đã thực-hiện một chuyến đi quan-sát, chụp hình để làm kỷ-niệm, từ bên này sông Thạch-Hãn (thay vì sông Bến Hai) cho đến giáp ranh Sa-Huỳnh Bồng-Sơn (Quân-Khu I−Quân-Khu II), vừa kịp trước khi quân ta rút khỏi các nơi này.
        Tiếp đó, tôi cũng sợ, nếu mất Quân-Khu I thì tôi không còn có dịp gặp lại Người Bạn Đồng-Minh rất thân này của tôi, cho nên vào ngày 27-3-1975, tôi quyết-định gặp riêng, đề-cập với Người Bạn Đồng-Minh của mình một số vấn-đề thời-sự tế-nhị liên-quan đến chính-sách của Hoa-Kỳ về Việt-Nam.
        Như để tỏ ra là anh chỉ chú-trọng đến việc chống Cộng mà thôi, Ferguson mở đầu bằng lời khen tôi đã có sáng-kiến và đã thành-công trong việc móc-nối tuyển-dụng các thành-viên cao-cấp trong hai Phái-Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi làm nội-tuyến cho ta.
        Đó là những công-tác gián-điệp ở tầm-vóc quốc-tế.
        Họ đã tiếp-tục cộng-tác với các chuyên-viên Hoa-K, và một số, về nước trước, đã bắt được liên-lạc và bắt đầu làm việc tại chỗ với các Trưởng Lưới tình-báo của Thế-Giới Tự Do.
       Furguson chỉ là một cá-nhân, mà cá-nhân nào thì cũng có cả dở lẫn hay. Anh lại là người Mỹ, mà người Mỹ nào thì cũng có tự-do suy-nghĩ khác người. Anh không đại-diện cho chính-quyền Mỹ, nhưng anh hiển-nhiên có biết ít nhiều nhận-định kín-đáo trong nội-bộ người Mỹ về tình-thế nói chung và các nhân-vật lãnh-đạo nói riêng của nước Việt-Nam Cộng-Hòa này.
        Tôi đi ngay vào vấn-đề:
        − Anh với tôi đều làm chung một việc, gồm có hai phầntình-báo và hành-độngnhắm chung vào một mục-tiêu;
ấy là cộng-sản, kẻ thù chung. Nhưng, thật ra, cả anh lẫn tôi đều có ít nhất là một mộc-tiêu thứ hai, mà hai chúng ta giấu nhau; ấy là thành-phần thứ ba, đối-lập hoặc nằm ngoài thành-phần đương-quyền...
        Trong lúc Ferguson chưa kịp xác-nhận hay phủ-nhận,
tôi nói thêm:
        − Về phía Việt-Nam thì anh biết rồi. Chính-quyền xem như những kẻ đối-lập cũng là kẻ thù. Ngành Đặc-Cảnh nhiều lúc đã bị sủ-dụng để phục-vụ riêng cho những kẻ cầm quyền. Do đó, ở phần hành-động, Ngành Đặc-Cảnh phải đứng về phía đương-quyền. Các cơ-quan an-ninh tình-báo là công-cụ bảo-vệ chế-độ; mà chế-độ, theo họ, thì không phải là chính-thể hay hiến-pháp, mà là tập-đoàn tại-quyền.
        Nói chung là họ muốn mãi mãi được-quyền lãnh-đạo quốc-dân. Thế thì mục-đích đã khác đi rồi, nhất là khác với lập-trường của Hoa-Kỳ và các nước Tụ-Do. Phải thế không, anh?
        Bạn tôi gật đầu; tôi nói tiếp:
        Còn người Mỹ thì vừa giúp các nhà đương-quyền chống Cộng, vừa tìm các tiềm-năng nhân-sự mới, để nếu cần thì thay-thế, hầu mỗi ngày mỗi có những nhà lãnh-đạo tài+đức hơn...
        Ferguson vói một tay vỗ lên và bóp nhẹ trên vai tôi.
 
        Hồi đó, không có người nào là không thấy được sự bấp-bênh của tình-hình.
        Đã chấm dứt chiến-tranh, đã có Ủy-Hội Quốc-Tế, nhưng cộng-sản lại đánh phá mạnh hơn; dân quê vẫn chết-chóc, đói-khá; và Quân-Lực Quốc-Gia thì thiếu đạn+bom.
        Sản-lượng ít-oi; viện-trợ Mỹ nuôi sống Nền Cộng-Hòa thì ngày nay đã giảm nhiều. Đời sống khó-khăn; công-chức và quân-nhân không sống đủ với đồng lương. Công-luận bị lèo-lái theo ý muốn của đối-lập nếu không là cộng-phỉ và cộng-nô.
Giữa phản-chiến và phản-chính không có biên-cương. Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu bị phần lớn báo-chí chỉ-trích, đa-số hội-đoàn phản-đối, và các phần-tử bất-mãn tẩy chay. Người ta cũng quy-trách cho cho Hoa-Kỳ.
        Tôi kéo bàn tay của viên đại-tá CIA bạn tôi ra trước mắt, vuốt ngược những sợi lông dày và cứng trên mu:
        − Báo-chí Việt-Nam gọi người Mỹ là những “bàn tay
lông-lá”.
        − Tôi biết.
 
        Chính-khách Ngô Đình Diệm là người đầu tiên mở trang sử chính-thức và công-khai quan-hệ với Hoa-Kỳ, nên tôi bắt đầu về ông Diệm trước. Tôi hỏi thẳng:
        − Anh nghĩ thế nào về cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm?
        − Anh nói trước đi!
        Ferguson đẩy tôi đi trước. Cũng như nhiều người Mỹ khác, anh muốn tỏ ra là mình không can-thiệp vào việc nội-bộ của nước người. Tôi bèn dò ý:
        − Hoa-Kỳ không muốn giết Diệm. Nhưng điều chắc-chắn là Hoa-Kỳ không muốn chế-độ Diệm tồn-tại lâu hơn. Kỳ-thị tôn-giáo là một trong nhiều nguyên-nhân, tuy chỉ nội một cái nguyên-nhân ấy cũng đã đủ sức thuyết-phục để Quân-Lực phải ra tay...
        − Còn những nguyên-nhân nào nữa?
        Diệm đánh hỏng những giá-trị tinh-thần của Mỹ mà Hoa-Kỳ muốn Diệm là biểu-trưng...
        − Những giá-trị nào được xét ở đây?
        − Căn-bản là các quyền tự-do ghi trong Tu-Chính-Án số 1 của Hiến-Pháp Hoa-Kỳngôn-luận, báo-chí, tín-ngưỡng, hội-họp ôn-hòa, đạo-đạt ý dânmà Diệm khinh thường. Diệm tự cho mình cao hơn Hiến-Pháp (“Đằng sau hiến-pháp, còn có tôi!”).
        − Gì nữa?
        − Diệm phá vỡ kế-hoạch của Mỹ thành-lập Liên-Bang Đông-Dương và Liên-Phòng Đông-Bắc Á-Châu. Và Diệm hầu như suýt dâng nốt Miền Nam Việt-Nam cho cộng-sản: Ổng mưu-toan thỏa-hiệp với Bắc-Việt, lúc ấy là một khối chính-trị và quân-sự to lớn, thống-nhất và ngoan-cường bội phần hơn Miền Nam, có thừa thủ-đoạn và khả-năng tiêu-diệt thành-phần Quốc-Gia. Ổng muốn trở lại với Pháp; ổng muốn lạnh nhạt với Mỹ, trong lúc đối-ngoại thì mọi việc đều nhờ Mỹ đỡ đầu, đối-nội thì nền kinh-tế còn phôi-thai, cả guồng máy chính-quyền, trị-an và quốc-phòng, v.v... đều sống nhờ vào viện-trợ của Hoa-Kỳ...
        − Anh nghĩ thế nào về cái chết của Diệm?
        − Ô hay, tôi định hỏi anh thì anh đã hỏi ngược lại tôi.
        Chúng tôi nhìn nhau rồi cả hai cùng cười. Tôi nói:
        − Diệm tự giết mình!
        Ferguson trố mắt nhìn tôi xem tôi có nói đùa hay không.
        Tôi giải-thích thêm:
        − Về mặt sự-việc: cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, dù muốn dù không, cũng đã trở thành một con hổ dữ. Hé một lời-nói, lộ một cử-chỉ mà vây-cánh ổng cho là phạm-thượng thì khó mà thoát khỏi bàn tay tàn-độc của thủ-hạ ổng. Huống gì, lật đổ ổng, lùng rượt ổng, bắt trói ổng... Tôi kính-trọng Diệm, tôi không tán-đồng việc giết Diệm, tôi phản-đối cách giết Diệm; nhưng tôi thông-cảm tình-cảnh của những kẻ đã cỡi lên đầu hổ rồi. Giết hổ hay hổ giết mình. Có thể xem như “tự-vệ” mà thôi.
        − Còn mặt nào nữa?
        − Về mặt tinh-thần:
        “Thứ nhất: Diệm chịu ảnh-hưởng Đạo Nho, muốn mình “tiết trực, tâm hư”. Nhưng Đạo Nho lấy “trung-quân” làm trọng; mà Diệm thì không chịu làm một bề-tôi lương-đống, đã phản-bội Bảo Đại để lên làm Nguyên-Thủ Quốc-Gia, tức đã phạm tội bất-trung với vua. Thế là Nho-Giáo không dung.
        “Thứ hai: Diệm lật đổ Bảo Đại vì Bảo Đại bất-tài. Điều đó đúng; tức Diệm thực-thi chủ-nghĩa duy-ích, một thứ đạo-đức mới. Nhưng học-thuyết vị-lợi ấy chủ-trương nhân danh đa-số, để làm điều có ích lợi chung. Trong lúc đó, áp-dụng chủ-nghĩa thực-dụng cho thiểu-số phe mình mà thôi, chính Diệm cũng đã biết trước là sẽ lâm-nguy. Ổng nói: Tôi chết thì trả thù cho tôi!’ Nếu chết tự-nhiên thì tại sao lại phải trả thù? Và Diệm cũng đã nêu lên tiền-lệ: mình truất ngôi người này được, thì kẻ khác cũng lại hất cẳng mình được, chứ sao! Các tướng chỉ noi gương ổng mà thôi! Đó là quy-luật sinh-tồn! Thế là đạo-đức mới cũng quật lại ổng.
        “Thứ ba: Diệm là tín-đồ Đạo Kitô. Theo Đạo ấy thì, “Satan là Chúa của đời này” (2 Cor 4:4) Chính “Đức Jesus cũng gọi Quỷ Satan là vua, chúa (kẻ thống-trị, bá-chủ) của thế-gian này” (John 12:31) và Thánh-Kinh xác-nhận “Cả thế-gian đều phục dưới quyền ma-quỷ, đều nằm trong tay ma quỷ (cả thế-giới đều ở dưới quyền thống-trị của Quỷ-vương)” (1 John 5:19). Với tư-cách chủ-nhân-ông của cả thế-giới loài người, “Satan đem Đức Jesus lên đỉnh núi cao, chỉ cho Ngài thấy các nước vinh-quang rực-rỡ khắp thế-giới, quyến-rũ Ngài rằng: Ngươi chỉ cần quỳ gối thờ lạy ta, là ta sẽ cho ngươi làm chủ tất cả thế-gian này!” (Matt 4:8,9). Đức Jesus từ-chối; Ngài cầu-nguyện Đức Chúa Trời: “Con đã rao truyền lời Cha cho các tín-đồ, nên người đời thù ghét họ, vì họ không thuộc về thế-gian, cũng như Con không thuộc về thế-gian” (John 17:14). Lời Đức Chúa Trời kể rằng: “Các vua thế-gian nổi dậy, các lãnh-tụ bàn nghị cùng nhau, âm-mưu đối đầu với Jehovah Đức Chúa Trời và nghịch với Đức Jesus là Đấng chịu xức dầu của Ngài” (Ps 2:2). Do đó, Chúa dạy: “Chớ yêu thế-gian, cũng đừng yêu (quyền-hành, danh-vọng, lợi-lộc) bất-cứ những gì thuộc về thế-gian” (1 John 2:15-17). Thánh-Kinh giảng thêm: “Kết bạn với kẻ thù của Đức Chúa Trời tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời; kẻ thù đó là thế-gian” (Jas 4:4). Ngay chính trong giới tín-đồ của mình, khi “Đức Jesus thấy họ sắp tạo áp-lực đưa Ngài lên làm vua, Ngài liền bỏ đi lên núi ở một mình” (John 6:15), không chịu làm vua ở thế-gian. Nói chung, ngày nào mà Đấng Cứu-Thế chưa tái-lâm (chưa tận-thế), thì ngày đó “Cả thiên-hạ (toàn thể thế-giới loài người) còn bị Quỷ-vương hay Satan lừa dối, dỗ dành” (Rev 12:9), “làm mờ tối tâm trí (mù lòng)” (2 Cor 4:4), và “kẻ thù của Đức Chúa Trời” (Jas 4:4) là “các vua thế-gian” (Ps 2:2). Tóm lại, tín-đồ Đạo Chúa là người không thuộc về thế-gian; mà Diệm làm Tổng-Thống tức là làm một vua ở thế-gian, dưới quyền của Quỷ Satan, và chống lại Đức Chúa Trời. Hơn nữa, Đạo Chúa cấm đoán mọi Đạo khác, theo các Điều Răn thứ 1 và thứ 2 của Đức Chúa Trời: “Các ngươi không được thờ thần nào khác, ngoài Ta; không được khắc hình tượng-trưng cho bất-cứ cái gì trên cõi đời này; không được thờ-phụng chúng” (Ex 20:3-5). Thế mà Diệm còn tôn sùng giáo-lý Đức Khổng, dùng hình khóm trúc làm biểu-hiệu cho tinh-thần Nho-Giáo của mình, khắc vào ấn-tín của mình và của cả Quốc-Gia. Thế là Thiên-Chúa-Giáo cũng không dung. “Quân thù trồng rặt loại nho lấy giống từ vườn Sô Đôm với đất từ đồng Gô Mo; trái đắng và chua, làm thành rượu độc nọc rắn”. Tất-nhiên Đức Chúa Trời phải “ganh tỵ” (Zec 1:14), vì Chúa là Chúa “phân bì” (De 32:16; PS 78:58), “động lòng ghen” (Zec 1:14), nên Chúa phải trừng-trị, phải trả thù: “Báo thù là việc của ta, Ta làm cho chúng ngã nhào, tai-họa ào đến tức-thời” (Deut 32:32-35)...”
 
Ferguson ngẫm-nghĩ một lát rồi dò-dẫm hỏi tôi:
− Chuyện đã qua rồi, phải không?
− Cái đó còn tùy. Nhưng có vài điều đáng nói:
“Thứ nhất, Diệm phản Bảo Đại thì Diệm vẫn còn mắc nợ Bảo Đại, vì Bảo Đại dùng Diệm mà Diệm không giúp ích gì cho Bảo Đại; nhưng các Tướng lật Diệm thì Diệm vẫn còn mang ơn các Tướng, vì Diệm dùng các Tướng thì các Tướng đã liều thân xông pha trận-tiền, đánh dẹp các giáo-phái, bình-định xứ-sở, ổn-định tình-hình cho chế-độ Diệm vững an. Thứ hai, nếu Diệm có đức, có tài, thì đó là thuộc-tính của một người, không nhất-thiết có nghĩa là mọi người khác đều tầm-thường mọi mặt, và bất-cứ đồ-đệ nào còn sót lại của Diệm cũng xứng-đáng lên làm lãnh-tụ quốc dân...”
        
Nghĩ rằng chừng đó đã đủ, tôi hỏi qua chuyện mới:
− Anh nghĩ thế nào về Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu ?
− Cũng xin nhường anh!
Thế là Ferguson lại đẩy tôi đi trước nữa. Tôi thấy cần phải rào-đón phần mình trước tiên:
− Chắc anh đã biết là tôi đối-lập với Thiệu. Nhưng tôi chỉ chống tính-cách quân-phiệt, tôi chỉ phản-đối việc quân-cách-hóa Chính-Quyền, nhất là với Cảnh-Lực; tôi đòi-hỏi thực-thi Kế-Hoạch Cảnh-Sát-Hóa, là một quốc-sách tối-thượng mà Hoa-Kỳ tặng cho để làm sách-lược hậu-chiến, nhưng Thiệu xếp bỏ không dùng. Trong việc chống Thiệu, tôi khác người ta.
− Người ta chống Thiệu thế nào?
 
Tôi thấy là Ferguson đang “moi tin” tôi, nhưng tôi cũng thử dò đường:
− “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” thì có đông-đảo quần-chúng, là giới Phật-tử chiếm trên chín mươi phần trăm dân-số, có sẵn ứng-viên lý-tưởng vào chức-vụ Tổng-Thống, là Dương Văn Minh. Nếu là ứng-viên dân-sự thì khó lòng được lòng mọi Tướng, nhưng Minh là đại-tướng. Minh hòa-hoãn với cộng-sản, và Hà-Nội đã bắn tiếng chỉ nói chuyện với Minh. Đa-số đã chán chiến-tranh, lại ngán cộng-sản, nên đặt hy-vọng vào Minh. Nhưng Lực-Lượng này không bạo-động, và chỉ chờ-đợi đến kỳ bầu-cử Tổng-Thống vào cuối năm nay mà thôi...
− Anh cứ nói đi!           
− “Đại-Việt Cách-Mạng Đảng” là một chính-đảng có nhiều đảng-viên nhất, lại được tổ-chức chặt-chẽ. Họ có nhiều đảng-viên giữ các chức-vụ trọng-yếu trong Chính-Quyền. Họ có thực-lực chính-trị. Lãnh-tụ của Đảng là Hà Thúc Ký nặng ký hơn Thiệu trong cuộc chạy đua giành phiếu nay mai. Tuy thế, có nhiều đảng-viên có thể bầu Minh.
− Xin nói tiếp đi!
− “Việt-Nam Quốc-Dân Đảng” là một chính-đảng kỳ-cựu, có thời mạnh hơn Việt-Minh tức Cộng-Sản Việt-Nam. Sau này phân-hóa thành nhiều hệ-phái, phải đứng chung với “Đảng Dân-Chủ” của Thiệu trong một Liên-Minh. Hiện Vũ Hồng Khanh, một lãnh-tụ chính-trị mà Hồ Chí Minh đã phải nài-nỉ mời đồng ký tên ngang hàng với mình trong bản thỏa-hiệp thành-lập chính-phủ Quốc+Cộng liên-hiệp vào năm 1946, đang nỗ-lực thống-nhất lại. Mục đích của họ là phục-hồi uy-tín và địa-vị của Đảng cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài. Họ không hoàn-toàn đồng-minh với Thiệu, nhưng nhiều đảng-viên cũng có thể chọn Minh.
− Còn các tổ-chức khác nữa?
− “Phong-Trào Quốc-Gia Cấp-Tiến” dựa vào các nhà khoa-bảng và giới học-thức trẻ. Họ muốn cải-cách kinh-tế là huyết-mạch của quốc-dân, vì cho rằng nhà cầm quyền hầu như bất-chấp cán cân mậu-dịch và vấn-đề cung cầu...
“Các đoàn-thể khác nói chung thì chỉ đưa ra một vài ý-kiến mới, nhằm mục-đích trình-diện một vài nhân-vật tranh-đấu cấp địa-phương, nhắm ghế Quốc-Hội hoặc Hội-Đồng Tỉnh, Thị.
“Một số phần-tử nặng tinh-thần dân-tộc thì cho là Thiệu quá lệ-thuộc Hoa-Kỳ.
“Còn trên bình-diện cá-nhân thì phần đông chống Thiệu theo kiểu trưng-diện một món thời-trang, sợ không đối-lập thì bị xem là lỗi-thời!”
 
Ferguson cùng cười theo tôi. Lát sau, anh dè dặt:
− Nay Huế đã mất, nhưng những người liên-hệ với Huế thì vẫn còn. Anh thấy hệ-lụy của nó đối với tình-hình mới tại các Tỉnh trong Nam sẽ như thế nào?
Người Bạn của tôi nhắc đến những việc mà tôi cố ý hoặc bỏ qua hoặc dành nói sau. Tôi phải nói luôn:
− Đảng “Nhân-Xã”, tức Đảng “Cần-Lao Nhân-Vị” đổi mới, chỉ hoạt-động bên trong các giới tín-đồ Đạo Kitô và cựu cơ-sở Đảng Cần-Lao. Bên ngoài, họ có “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình”. Hòa-Bình thì chưa thấy có kế-hoạch khả-thi. Tham-nhũng thì là cụ-thể, nhưng chưa phải là yếu-tố quyết-định hàng đầu. Theo họ, lật đổ Ngô Đình Điệm mới là tội-phạm tối-trọng, bất-khả khoan-dung. Họ đã bắt đầu bạo-động. Mục-đích của họ là thay-thế Thiệu ngay, bằng một Tổng-Thống và Chính-Quyền rập khuôn Đệ-Nhất Cộng-Hòa .
− Anh nghĩ thế nào?
Tôi đáp:
− Diệm nếu còn sống thì ổng cũng đã mãn các nhiệm-kỳ hiến-định từ lâu. Người của thời này không thể giải-quyết việc của thời kia. Không dưng mà các cộng-tác-viên ban đầu đã rời-bỏ, rồi các trí-thức chống-đối, rồi nhiều thành-viên nội-các từ-chức, rồi dân-chúng sôi-sục bất-bình, rồi chính người nhà mà cũng chia tay. Quân-đội bắt đầu đảo-chính từ 1960, ném bom Dinh Tổng-Thống từ 1962...
“Việc gì phải đến là cứ đến.
“Háo-hức dẹp một tảng đá cản đường, không ai ngờ trước sẽ gặp bãi lầy tiếp theo. Nhưng hẳn không ai muốn cho tình-hình xấu đi...
“Lịch-sử đã sang trang. Vấn-đề bây giờ không phải là khóc mình, hận người, mà là làm sao để cải-thiện tình-hình. Có ai xứng-đáng để lên thay Thiệu không, và, nếu thay Thiệu thì thay cách nào?”
 
− Ý anh thế nào?
− Trước hết, nói về người thay. Tôi thấy là không, hoặc chưa, có ai có đủ điều-kiện để lên thay Thiệu. Riêng đối với Mỹ, nếu có thì tất Hoa-Kỳ đã bật đèn xanh cho xuất-hiện rồi!
Ferguson cố gắng giữ nguyên nét mặt vô-tư. Anh tiếp-tục hỏi tôi:
− Còn về cách thay?
 
Tổng-Thống là người lãnh-đạo toàn-dân. Xuất-xứ có thể là bất-cứ đâu, nhưng đối-tượng phục-vụ không phải chỉ là một chính-đảng, một giáo-hội, một xã-giới, hay một gia-đình. Về Thiệu, tôi đã suy-nghĩ về hai trường-hợp có thể xảy ra: ông tự giải-quyết, hoặc bị giải-quyết.
 
Tôi nói ngắn gọn:
− Thiệu đang gặp nhiều khó-khăn: Hoa-Kỳ rút ra, cộng-sản tiến vào, đối-lập lấn lên. Lần đầu tiên người dân Việt-Nam được tự-do xúc-phạm một nguyên-thủ quốc-gia mà không sợ bị bắt nhốt, trả thù, như dưới thời Diệm. Theo tôi, Thiệu không nên tham-quyền cố-vị. Vì chống mình nên người ta chỉ nhắm vào việc thay mình. Nếu mình bắn tiếng từ-chức thì tự-nhiên sẽ nổi lên tất cả các chuẩn-ứng-viên thay mình; dân-chúng sẽ so-sánh lựa-chọn giữa họ với mình; và người ta sẽ quay lại chống nhau, làm sáng tỏ ưu-khuyết-điểm của từng người; mình dựa vào đó mà tu-chính và quyết-định ở lại hay ra đi.
“Nếu Thiệu từ-chức, hoặc ông bị mất trí hay mệnh-vong, thì cũng chỉ có Phó Tổng-Thống Trần Văn Hương lên thay, cho đến cuối năm nay [1975] mới hết nhiệm-kỳ. Với Hương, có đạo-đức nhưng thiếu bản-lãnh, tình-hình sẽ như thế nào?
“Còn nếu muốn loại cả chế-độ Thiệu tức-thời thì chỉ có cách là đảo-chính quân-sựmột việc mà chắc hẳn đã có kẻ mưu toan nhưng không thuyết-phục được ai nên không xảy ra. Nhưng nếu xảy ra thì Chính-Quyền cũng sẽ chỉ nằm trong tay các tướng: Minh, Khiêm, Kỳ, v.v... hoặc người nào khác thì cũng thế thôi. Có khuôn mặt nào nổi bật hơn đâu? Kinh-nghiệm Cách-Mạng 1-11-1963: thay-đổi toàn-diện thì tình-hình sẽ như thế nào? Tóm lại, người ta mới nghĩ đến việc loại Thiệu, nhưng chưa nghĩ đến tình-hình hậu-Thiệu; hoặc cũng đã có nghĩ đến, nhưng không thực-tế, chỉ chủ-quan, cầu-may. Thực-tế là đã có Việt-Nam-Hóa, không còn báo-cô Hoa-Kỳ như trước được nữa, mà quốc-dân thì chưa đủ sức tự-túc tự-tồn. Giặc đã đến bên lưng, không còn thì-giờ để làm lại từ đầu...”
Im lặng một lát, rồi Ferguson hỏi tôi mà tôi nghe như anh tự hỏi mình:
− Không còn cách nào nữa ư?
Tôi nói chậm-rãi:
− Đáng lẽ đã có nhiều cách rồi!
Bạn tôi nhướng mắt lên, đợi chờ.
− Đệ-Nhất cũng như Đệ-Nhị Cộng-Hòa Việt-Nam chỉ thấy cái phần chiến-thuật chứ không thấy cái phần chiến-lược của các Kế-Hoạch mà Hoa-Kỳ đưa ra. Ngoài ra, họ chỉ chú-trọng cái phần ưu mà không quan-tâm đến cái phần khuyết, ở cuối mỗi Kế-Hoạch đều có nêu lên. Hơn nữa, còn có hai nhược-điểm về phía Hoa-Kì. Cố-Vấn Mỹ chỉ là cấp thừa-hành, đâu phải ai cũng hiểu được thâm-ý khi soạn-thảo kế-hoạch của cấp Trung-Ương hay chiến-lược-gia; thế mà họ đã để cho Đồng-Minh Việt-Nam cứ xem Cố-Vấn Mỹ như thước ngọc khuôn vàng. Trong lúc đó, các cấp Trung-Ương và ngoại-giao sành-sỏi của Mĩ thì cứ phép-tắc lễ-nghi; đáng lẽ phải nói huỵch-toạc ra như giữa các bên phối-tác với nhau, thì họ lại chỉ bóng-gió xa-xôi, mặc cho người nghe có thể không hiểu hoặc hiểu lầm.
− Xin anh nói rõ hơn.
− Diệm đã phá hỏng kế-hoạch của Mỹ nên mới hỏng bét. Bây giờ Thiệu cũng bỏ lỡ kế-hoạch của Mỹ nên phải dở-dang.
− Anh muốn nói về “Cảnh-Sát-Hóa” và trước đó là “Liên-Bang Đông-Dương”, “Liên-Phòng Đông-Bắc Á-Châu”?
− Vậy anh muốn tôi nói về vấn-đề gì khác nào?
− Nếu còn vấn đề gì khác, sao không nói ra?
 
Tôi ngưng một lát, rồi đánh bạo nói lên ý nghĩ của mình:
− Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa quả thật thiện-chiến, tinh-thần rất cao, nhưng dù có được Hoa-Kỳ tiếp-tục viện-trợ và yểm-trợ thì cũng vẫn sẽ không bao giờ thắng được Cộng-Sản Việt-Nam!
 
Ferguson không giấu nổi vẻ ngạc-nhiên. Tôi giảng giải thêm:
− Lính phải ngăn-chận kẻ thù đằng trước để che-chở dân đằng sau. Đằng nầy: ở cấp Xã thì Nghĩa-Quân thu mình trong dăm ba chòi gác; ở cấp Quận thì Địa-Phương-Quân thủ thế trong khuôn-viên trụ-sở Chi-Khu; còn Chủ-Lực-Quân thì sau các cuộc hành-quân là rút về trại binh. Cộng-sản chiếm được phần lớn không-gian và thời-gian, nhất là ban đêm, cô-lập lính trong đồn và chế-ngự dân bên ngoài. Lính đã không bảo-vệ được dân thì thôi, làm sao mong dân phải làm khiên mộc bên ngoài bảo-vệ cho lính trong đồn?
 
Người bạn của tôi ngẫm-nghĩ một lát rồi hỏi lại tôi:
− Thế còn Cảnh-Lực thì sao ?
− Cảnh-Lực, với tổ-chức và điều-hành hiện nay, không giúp được gì đúng với mong đợi của mọi người. Cảnh-Sát mới xuống đến Xã, các Xã “an-ninh” mà thôi, và chỉ là Cảnh-Sát Sắc-Phục, không làm điệp-báo, không lùng-diệt, và cũng không chống-cự nổi nếu bị đối-phương tấn-công. Đặc-Cảnh thì ở cấp Quận, và Ban Tác-Vụ chỉ có mấy người, làm sao nắm hết các Xã, các Thôn trong khắp khu-vực trách-nhiệm của mình, nhất là khi không có đủ phương-tiện để tổ-chức các đường dây...
Ferguson hỏi vặn tôi:
− Nghe anh có vẻ bi-quan. Thế tại sao hôm trước anh lại nài-ép tôivà tôi đã nhiệt-thành giúp anhbênh-vực Việt-Nam Cộng-Hòa trước các Dân-Biểu và Thượng-Nghị-Sĩ Hoa-Kỳ khi họ đến tận chỗ quan-sát tình-hình tại Vùng I này?
− Anh muốn tôi cứ để mặc cho chính-thể này suy sụp sao?
 
Chừng thấy câu chuyện hơi găng, Ferguson liền đổi đề-tài:
− Tôi thấy anh có nhiều hiểu-biết và nhận-định giá-trị hơn người. Ước chi anh là Tổng-Thống của nước này!
 
Dù anh nói thật hay nói mỉa tôi, tôi cũng không cần. Tôi đã bốc đồng:
− Tôi đợi thăng cấp vào ngày mồng 1 tháng 6 [1975] này, xong tôi ứng-cử vào Quốc-Hội. Tôi vào một Khối hoặc một Ủy-Ban. Tôi ra một tờ báo. Tôi lập một hội-đoàn. Và tôi ứng-cử Tổng-Thống Việt-Nam Cộng-Hòa. Anh nghĩ sao?
Ferguson trả lời:
− Tại sao lại không?
Tôi muốn nhân dịp dò-xét thái-độ của anh đối với mình:
− Nhưng điều quan-trọng là anh có ủng-hộ tôi hay không?
Người Bạn Đồng-Minh đưa ngay tay ra bắt tay tôi:
− Tại sao lại không?
Chúng tôi ôm nhau mà cười.
 
Sau đó, trở lại với chủ-đích của mình, tôi nói:
− Tôi đã đưa cho Watkins, viên-chức phụ-tá của anh, một chiếc máy truyền-tin cầm tay, với tần-số và mật-hiệu liên-lạc với tôi 24/24 giờ. Khi nào anh rời Đà-Nẵng thì anh hoặc anh ấy gọi tôi.
− Watkins đã nói cho tôi biết rồi.
 
Đề-cập đến sự-việc ấy, bỗng-nhiên tôi thấy nghẹn-ngào.
Tôi rán hỏi thêm một câu:
− Tóm lại, Hoa-Kỳ có bỏ Đà-Nẵng không? Và Hoa-Kỳ có bỏ Việt-Nam không?
− Anh đã biết câu trả lời của tôi rồi!
Thật là một câu trả lời “khôn-ngoan”.
Rốt cuộc, tôi vẫn chẳng biết Người Bạn Đồng-Minh Hoa-Kỳ Ferguson đã trả lời tôi như thế nào.
*
Ngay đêm hôm ấy, Tòa Tổng Lãnh-Sự Hoa-Kỳ tại Vùng I bí-mật ra đi.
 
TÒA TỔNG-LÃNH-SỰ HOA-KỲ RÚT KHỎI MIỀN TRUNG
 
Khoảng quá nửa đêm 27-3-1975, tôi được báo-cáo là các Thủy-Quân Lục-Chiến Mỹ canh gác Tòa Tổng-Lãnh-Sự Hoa-Kỳ tại Vùng I đã khóa cổng kỹ và rời khỏi trụ-sở ấy, sau khi đã chở ra khỏi nơi đó nhiều chuyến hàng đóng thùng, và từ giữa sân bên trong thì bốc lên trời một cột khói đen như ai đang đốt nhiều đồ vật gì.
Tôi gọi điện-thoại đến đó, rồi đến tư-gia của các Người Bạn Ðồng-Minh và những viên-chức ngoại-giao Hoa-Kỳ mà tôi quen, thì hoặc đường dây bị hư, hoặc chuông có reo mà không có người trả lời. Tôi dùng máy vô-tuyến gọi các Người Bạn Ðồng-Minh Ferguson và Watkins, nhưng cũng không liên-lạc được với ai.
*
Mờ sáng hôm sau, 28-3-1975, dân-chúng bắt đầu vào “hôi của” tại tòa nhà vốn được gọi theo địa-chỉ là 52 Bạch-Ðằng. Lúc đầu thì đồ ăn, đồ uống, vật-liệu văn-phòng, dụng-cụ linh-tinh; về sau thì bàn ghế tủ giường, trang-cụ, thiết-cụ, máy móc; cuối-cùng là các loại xe-hơi.
 
Tôi chen lách đám đông vào được trong văn-phòng của Trạm Hàng-Không “Air America”. Nơi đây đang chuẩn-bị đợt hành-khách và hành-lý cuối-cùng cho một số phi-cơ bán-phản-lực và trực-thăng. Viên kỹ-sư Phi-Luật-Tân, Trưởng Trạm, tuy đang bận túi-bụi nhưng không quên trao ngay chiếc chìa-khóa vào phòng VIP cho tôi. Anh tưởng, như những lần trước, tôi mà đến đây là chỉ để đưa hay đón các viên-chức quan-trọng mà thôi, vì lần nào tôi cũng mượn dùng phòng khách quan-nhân. Khi chỉ còn lại mấy chiếc trực-thăng, anh chào từ-giã tôi, rồi cùng với các nhân-viên khác dùng bình-xịt xịt ra một thứ bọt trắng xóa, đẩy đám đông lui ra xa khỏi phi-cơ. Xong họ bay lên, rời khỏi sân bay và trạm hàng-không đặc-biệt này, sau khi nói cho tôi biết là họ bay ra tàu-thủy đang đậu ngoài khơi.
Thế là người Mỹ đã thật-sự bỏ Ðà-Nẵng, bỏ Miền Trung, bỏ Vùng Chiến-Tuyến này rồi.
*
Ngày đó, 28-3-1975, từ trong trụ-sở của họ khói đen từ mấy thùng đốt hồ-sơ tài-liệu tiếp-tục bốc lên ngút trời.
Tôi tiếp-tục tìm và gọi cho đến hôm sau vẫn không có vân mòng gì về Người Bạn Đồng-Minh.
 
Và ngày 29-3-1975 được xem là ngày thất-thủ của thủ-phủ Miền Trung...
 
(Trích "Biến-Loạn Miền Trung" trang 413-432)
Một phần bài này đã có trong "Về Vùng Chiến-Tuyến" 1996)