Saturday, November 12, 2016

TRUYỆN TÙ & VƯIỢT BIÊN * DƯ THỊ DIỄM BUỒN * DƯƠNG THU HƯƠNG

TTĐẠI * CHUYỆN TÙ CỘNG SẢN




Cô Y Tá


Thứ ba, 19 Tháng 2 2013 18:05 TT Đại / Chuyện tù cải tạo



Trong các trại cải tạo của tôi ở miền Bắc Việt-Nam thuộc tỉnh Hoàng-liên-sơn, đều được thiết lập sâu trong rừng già. Lý do là vì công tác chính của các cải tạo viên là chặt giang (một loại tre rừng rất lớn) để làm giấy, mà giang chỉ có trong rừng già. Khi bước chân đến một trại cải tạo mới nào, chúng tôi cũng được Cán bộ Trưởng Trại đón tiếp bằng câu:”Tội các anh đều ‘đáng chết’ vì có ‘nợ máu’ với nhân dân, nhưng nhờ Đảng và Nhà Nước Cách Mạng khoan hồng nhân đạo, nên cho các anh còn được sống đấy!”.

 Câu nói này được các Cán bộ Quản giáo thường xuyên nhắc lại. Mục đích để làm gì? Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì đối với một tội phạm thì “tội chết” ( tử hình) là tội nặng nhất, nên căn cứ vào đó thì dù Chính sách của Đảng và Nhà Nước Cách Mạng có đối xử với tù binh cải tạo tồi tệ đến đâu chăng nữa, thì so với “tội chết” vẫn còn là khoan hồng nhân đạo! Hơn nữa, Đảng lại còn huấn luyện được mội đội ngũ Cán bộ luôn luôn thi hành Chính sách một cách nghiêm túc, không để tình cảm cá nhân xen vào.


Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ, đó là có Cán bộ đã dám nương nhẹ tay khi áp dụng chính sách của cấp trên trao phó. Ở đây tôi muốn nói đến một Cán bộ cấp nhỏ ở trại cải tạo của tôi ở tỉnh Hoàng-liên-sơn vào năm 1978. Đó là cô y tá ở trại này. Cô chỉ là loại y tá sơ đẳng, giống như y tá nông thôn ở miền Nam, chỉ được học chuyên môn chừng ba tháng, nghĩa là chỉ biết điều trị những bệnh thông thường như cảm sốt, nhức đầu, đau bụng… và biết chích và băng bó sơ qua thôi.


Cô tên là Nữ, tôi không biết họ cô là gì, thuộc dân tộc thiểu số Mường, chừng khoảng 25 tuổi. Cô là một phụ nữ độc nhất trong trại cải tạo gồm hơn 600 cải tạo viên và khoảng chừng 30 cán bộ tham mưu, cán bộ quản giáo và bộ đội bảo vệ.



Đáng lẽ cô phải được mọi người chú ý, nhưng không, dường như ai cũng lơ là đối với cô. Lý do là vì cô sinh ra đời với một ngôi sao xấu, nghĩa là nhan sắc cô quá tầm thường. Nước da cô nâu xậm, đôi môi thâm dầy, khi cười thì để lộ ra hai cái răng cửa to quá khổ, che lấp các răng khác.


 Răng cô mầu nâu lợt, có lẽ có thời cô nhuộm răng đen, nhưng khi gia nhập bộ đội thì không có cơ hội nhuộm răng nữa, lại cũng không có thuốc tẩy trắng răng. Tóc cô thuộc loại tóc rễ tre, cứng và rất khó chải cho mượt. Mình cô mặc bộ đồ kaki bộ đội, phát sao mặc vậy, nghĩa là chẳng có sửa cho bó sát vào thân hình. Chân cô đi đôi dép lốp, để lộ hai ngón chân cái to tướng, hướng vào nhau như giống người Giao-chỉ thủa xưa. Gót chân cô thì nứt nẻ, có lẽ do đi bộ nhiều. Cô không có dáng yểu điệu của một thiếu nữ thời son trẻ, vì cô sinh ra ở bộ lạc Mường nên ngay từ mhỏ đã phải lội suối băng rừng, nếp sống đó đã tạo cho cô một thân thể lực lưỡng khác thường. Đó là những yếu tố không hợp với nhãn quan của đàn ông, nên họ đều lơ là đối với cô.



Tên cô là Nữ, nhưng một số các cán bộ miền Bắc nói ngọng nên gọi cô là “Lữ”. Cô chấn chỉnh họ:” Tên tôi là Nữ sao lại đổi thành “Lữ” hả? Họ cười lớn và trả lời:” Gọi tên thế nào hiểu được thì thôi, có đẹp đẽ duyên dáng gì mà làm bộ làm tịch như thế!” Cô yên lặng không trả lời, có lẽ cảm thấy xót xa cay đắng lắm, vì bất cứ vấn đề gì, họ cũng đem cái diện mạo xấu xí của cô ra mà châm biếm!

Đối với các cải tạo viên thì lúc đầu cũng không có cảm tình đối với cô. Lúc buổi tối chuyện trò với nhau trong lán, có anh cải tạo nói:
- Con mụ đó có cho không, tao cũng không nhận!
- Nếu gặp con đó ở giữa rừng, có lẽ tao cũng co giò mà chạy cho thoát thân! Một anh khác thêm vào.



Tôi cố gắng can thiệp :” Nhan sắc phụ nữ là thứ Trời cho, chẳng may cô có một diện mạo xấu xí, thì đáng thương hại hơn là chê bai ruồng rẫy như vậy! Một anh lên tiếng :” Nhưng cô ta lại còn khó khăn, bệnh nặng đến mấy cũng không cho nghỉ lao động!”

Tôi cố bào chữa cho cô một lần nữa :” Đó là lệnh của Trưởng Trại, vì chỉ tiêu mỗi cải tạo viên là 40 cây giang, mỗi cây trị giá 4 hào, vị chi là 16 đồng, khẩu phần mỗi cải tạo viên là 2 hào một ngày, nếu cho nghỉ thì lấy gì mà bù vào số tiền sai biệt 15 đồng 8 hào!



Thêm một anh nữa chất vấn rằng :” Tại sao mỗi lần cải tạo viên đến khám bệnh, con mụ đó bắt anh em chúng ta phải đứng nghiêm cách xa ba bước rồi khai bệnh. Nếu không có ống nghe bệnh, thì cũng phải thò tay ra bắt mạch chứ, đằng này không, dường như nó sợ đụng chạm vào người bệnh nhân!”



Câu chê trách này khiến tôi không thể bênh vực được, nhưng tôi nghĩ có thể có uẩn khúc gì đây!
Còn về thuốc men cô cấp phát thì anh em cũng phiền trách dữ lắm :
- Cảm sốt ư ? Cô gói cho ba viên “xuyên tâm liên”!
- Đau bụng ư ? Cũng ba viên xuyên tâm liên !
- Ngộ độc ói mửa vì cải thiện bậy bạ ư ? Cũng xuyên tâm liên !
Điều này cũng không thể kết án cô được vì cấp trên chỉ cấp cho cô một thứ thuốc độc nhất là xuyên tâm liên để trị bệnh cho cải tạo viên.



Tôi còn nhớ một đêm tôi bị cảm sốt không ngủ được nên sáng sớm tôi xin khám bệnh. Cùng khám bệnh với tôi hôm đó là Bác sĩ Thiếu tá Long. Anh bị đau bụng tiêu chảy cả chục lần trong đêm. Tôi nhường anh khám trước vì anh bệnh nặng hơn tôi. Anh đứng nghiêm cách ba bước theo qui định và lên tiếng :” Tôi bị tiêu chảy cả đêm nên mất sức lắm!”



“Tiêu chảy là cái gì ? Cô y tá hỏi vì cô không hiểu tiếng miền Nam. Tôi vội lên tiếng thông dịch :” Tiêu chảy là ‘đi tháo dạ ‘đó cô !”
Cô gói cho anh Long ba viên xuyên tâm liên. Anh cầm lấy rồi phàn nàn rằng :” Tôi đã học Y khoa ở Sài-gòn bảy năm, lại đi tu nghiệp một năm ở Hoa-kỳ, thêm kinh nghiệm sáu năm chữa bệnh trong các bệnh viện dã chiến, tôi chưa thấy thuốc nào chữa được bách bệnh như xuyên tâm liên của cô!”



Phản ứng tức thời của cô Nữ là giật phắt gói thuốc trên tay anh Long lại và nói :” Không lấy thì thôi, còn lý sự nữa!”
Anh Long bèn xuống nước nói :” Nếu không cho thuốc thì xin cô cho phép tôi nghỉ lao động hôm nay vì tiêu chảy suốt đêm nên sức yếu lắm !”

Cô đáp :” Còn lý luận được là còn đủ sức lao động ! Đi làm !!!”
Anh buồn bã đi ra sân tập họp với các bạn để sửa soạn đi lao động.


Đến phiên tôi khai bệnh, tôi nói vắn tắt là bị cảm sốt. Cô gói cho tôi ba viên xuyên tâm liên. Tôi cầm lấy và để tỏ thái độ bất bình của tôi đối với cử chỉ vừa rồi của cô với Bác sĩ Long, tôi quay ngoắt đi thẳng ra sân tập họp đi lao động !
Cô gọi tôi lại và hỏi rằng :”Sao anh không xin phép nghỉ ?” Tôi đáp :”Anh Long bị bệnh nặng hơn tôi nhiều, thế mà cô còn không cho nghỉ, thì tôi xin làm gì cho mất thời giờ !”



Có lẽ hối hận vì cử chỉ sống sượng với anh Long nên cô nói :”Thôi được, tôi cho anh nghỉ hôm nay, nhưng khi bớt sốt thì anh giúp dọn dẹp phòng khám bệnh này nhé !”
Tôi không ngờ sự “hờn mát” của tôi mà lại có hiệu quả tốt như thế, nên nhận lời ngay !
Cô rót cho tôi một cốc nước vối để uống thuốc, rồi chỉ vào cái chõng (giường nhỏ bằng tre) ở góc phòng và nói :” Uống thuốc rồi nằm nghỉ ở đó, khi nào đỡ sốt thì hãy dọn dẹp”.



Thuốc xuyên tâm liên là loại thuốc tễ, làm bằng thảo mộc, viên đen xì, chỉ có công hiệu về cảm sốt thôi, nên đúng bệnh của tôi. Uống thuốc vào, tôi ngủ một giấc cho đến 2 giờ chiều mới thức dậy!
Thấy cô Nữ đang ngồi ở bàn, tôi hỏi :” Sao cô không đánh thức tôi dậy?”
“Thấy anh ngủ ngon nên tôi để yên cho anh lấy lại sức.” Cô đáp.



Tôi lấy chổi quét dọn phòng khám bệnh, rồi sắp xếp các vật dụng cho có ngăn nắp. Thấy hôm nay cô dễ dãi nên tôi bạo miệng chất vấn cô rằng :” Tại sao mỗi lúc khám bệnh, cô đều bắt anh em cải tạo chúng tôi đứng nghiêm chỉnh cách cô ba bước, như thế nghĩa là thế nào?”.



Cô đáp ngay :”Vì ngụy quân các anh là các thành phần nguy hiểm!”
“Nguy hiểm ra sao? Xin cô cho biết?” Tôi hỏi tiếp.
Cô nói dằn từng tiếng :”Nghĩa là ngụy quân các anh đã ăn gan uống máu các chiến sĩ Cách mạng mỗi khi họ bị bắt, anh đã rõ chưa?”
“Nhưng chính mắt cô có được thấy như thế không?” Tôi thắc mắc.



Cô đáp :”Tuy tôi không được chính mắt nhìn thấy cảnh này, nhưng tôi được học tập và trong buổi học tập có nhân chứng là một chiến sĩ Cách mạng đã vượt Trường-sơn vào giải phóng miền Nam. Anh chiến sĩ đã kể lại rằng trong một trận chiến thắng được một đồn của ngụy quân ở vùng Vàm Cỏ Đông, anh vội vàng vào giải cứu các chiến sĩ Cách mạng đã bị bắt mấy tuần trước và bị giam ở đồn này. Nhưng đến lúc tìm gặp được thì hỡi ơi, họ chỉ còn là những xác chết và xác nào cũng giống nhau, nghĩa là bị mổ bụng lấy mất lá gan, và cổ còn in những vết răng, chứng tỏ các anh ấy bị hút máu trước khi chết. Như thế ngụy quân các anh còn chối nữa sao?”



Tôi nói với giọng chua xót :” Đấy chỉ là luận điệu tuyên truyền. Nếu đúng như vậy thì tại sao trong lúc học tập cải tạo đói khổ như thế này, chúng tôi không “ăn thịt” lẫn nhau mà còn, như cô thấy đấy, nhường nhau từng miếng sắn, chặt giúp cho nhau từng cây giang để đỡ cho những người đau yếu!
Cô yên lặng không trả lời vì những lời tôi nói, cô đã được mục kích tận mắt!!! Từ đó trở đi, cô đã đổi hẳn thái độ, không còn bắt anh em cải tạo mỗi khi khám bệnh phải đứng nghiêm cách cô ba bước nữa, mà cô còn sờ trán, bắt mạch để định bệnh. Chính bản thân cô còn vào sâu trong rừng để tìm một số lá cây, rễ cây có tính chất dược thảo theo kinh nghiệm của cô, để phụ với xuyên tâm liên trong việc trị bệnh cho cải tạo viên.



Những loại lá rừng này nhiều khi rất hiệu nghiệm trong việc chữa trị như trường hợp bị “vắt” cắn. Vắt là một loại đỉa rừng sống trên cây, chỉ bằng phân nửa đỉa ruộng. Mỗi khi ngửi thấy hơi người đi qua là nó buông mình rơi xuống bám vào thân thể người ta, nhưng không hút máu ngay, mà chui vào chỗ nào ấm nhất như háng, nách hay bụng rồi mới hút máu. Đặc điểm của vắt rừng khác với đỉa ruộng là khi hút máu xong, vết thương vẫn tiếp tục rỉ máu.



Cô Nữ đã biểu diễn việc chữa trị các vết thương rỉ máu này bằng cách cô lấy một nắm lá mà cô gọi là “lá tầu bay”, cô nhai nát rồi “nhổ toẹt” vào lòng bàn tay cô, rồi cô nhón lấy từng chút một, chia cho các cải tạo viên và chỉ cho họ đắp vào các vết bị vắt cắn. Thật là thần diệu, máu cầm lại tức thì!



Cô còn lấy một số “lá tầu bay” còn tươi giơ ra cho mọi người nhận biết và nói rằng :”Chỗ nào có xuất hiện vắt, thì chỉ trong vòng 10 thước, thế nào cũng có loại “lá tầu bay” này. Các anh cứ việc tự hái lấy, nhai nát rồi đắp vào chỗ vắt cắn là cầm máu ngay, đừng có đợi đến chiều tối về Trại xin khám bệnh, thì máu chảy quá nhiều, mất sức lắm!”. Thật đúng là “Trời sinh, Trời dưỡng”. Khi Trời đã để một tai biến xảy đến với con người, thì thế nào Trời cũng sinh ra cách trị liệu, chỉ tiếc rằng con người không biết đến mà thôi!



Cô còn nhờ những cán bộ đi phép mua giùm cô củ gừng, củ nghệ, cây lá lốt, tía tô, kinh giới… để cô trồng thành một vườn thuốc nhỏ do chính cô chăm sóc. Chẳng bao lâu cô tạo được cả một tủ thuốc thảo mộc. Ngoài thuốc xuyên tâm liên được cấp phát để trị cảm sốt, còn các bệnh khác như đau bụng, tiêu chảy, ho, nhức đầu, ghẻ lở, đau mình… cô đều có thuốc tự chế để điều trị cả!



Đúng là cô vừa đóng vai một người thầy thuốc (physician), vừa đóng vai một nhà bào chế thuốc (pharmacist) để lo chữa trị cho hơn 600 cải tạo viên chúng tôi! Đáng lẽ công tác này phải có chừng cả chục người : Bác sĩ, dược sĩ, y tá mới đảm đương nổi, mà nay chỉ có một mình cô đơn độc gánh vác !!! Chúng tôi phục cô quá và đổi hẳn thái độ đối với cô. Ai nấy đều tỏ ra kính cẩn và biết ơn cô.
Gặp cô ở đâu, mọi người đều chào hỏi lễ phép:” Chào cô Nữ, cô vẫn được mạnh giỏi chứ!”
Cô niềm nở đáp lại :” Vẫn được bình thường, còn các anh thì sao?”
Đó là một niềm an ủi lớn lao đối với chúng tôi trong suốt thời gian cải tạo, thiếu thốn đủ mọi điều!



Ngoài những thiếu thốn về vật chất như đói kém, chẳng bao giờ được ăn đủ no, mà khẩu phần chỉ có sắn với mắm chược ( một loại mắm cá thối), chỉ có ngày mồng một Tết Nguyên Đán mới được ăn cơm; chúng tôi còn có những thiếu thốn về tinh thần như xa gia đình, xa những người thân thích. Sống ở nơi “thâm sơn cùng cốc”, hàng ngày chỉ làm bạn với rừng già và Quản giáo, chỉ nghe được những tiếng “khỉ ho, cò gáy”, mà không hề nhận được tin tức gì về xã hội bên ngoài. Chúng tôi trở nên đói khát cả tin tức nữa, thèm khát tin đến nỗi hàng đêm chúng tôi phải đem những giấy gói thuốc “xuyên tâm liên” của cô y tá đến chỗ ngọn đèn dầu lạc lờ mờ ở cuối lán, cố ghép lại với nhau với hy vọng là thấy được tin tức gì ở bên ngoài.

 Nhưng những mảnh giấy gói thuốc này vốn cắt ra từ tờ báo, chỉ to bằng nửa bàn tay, lại “đầu Ngô, mình Sở” chẳng ăn nhập gì với nhau cả, vì cô y tá phụ trách khám bệnh cho tới 10 đội, nên mỗi đội chỉ nhận được vài ba gói thuốc mà thôi, may lắm thì được vài tin tức như quảng cáo, thi đua, anh hùng lao động, chẳng liên quan gì đến mình cả, nhưng vẫn ráng đọc để cho đỡ nhớ mặt chữ! Mang tiếng là Học tập cải tạo mà có bao giờ thấy được sách báo gì đâu, chỉ toàn là lao động chân tay thôi! Nghĩ lại ngày xưa, thời còn Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam, sách báo tràn ngập, mình chỉ chọn những sách báo hay mới đọc, còn không thì liệng đi. Bây giờ cảnh ấy chỉ còn thấy trong giấc mơ thôi!



Một hôm tôi bị đau răng. Số là chiếc răng khôn (wisdom tooth) ở hàm dưới của tôi lại mọc trong thời gian tôi cải tạo, mà nó lại mọc bất thường, nghĩa là mọc vào chỗ chiếc răng hàm kế bên và đội chiếc răng hàm này lên, khiến mặt tôi sưng húp! Tôi cầu cứu đến cô y tá Nữ. Cô không có kinh nghiệm về việc làm của nha sĩ, nên cô đề nghị nhổ. Tôi đành phải chấp nhận giải pháp này vì đau quá không chịu nổi!



Cô lấy sợi chỉ chập đôi lại, rồi cột vào chân chiếc răng khôn đang mọc nửa chừng của tôi. Cô bảo tôi nhắm mắt lại, rồi cô giật mạnh. Sức cô quá mạnh, nên không những làm chiếc răng khôn tung ra, mà còn kéo theo cả chiếc răng hàm kế cận ra khỏi miệng, đồng thời máu cũng tuôn vọt ra đầy miệng. Cô vội vàng lấy chiếc khăn tay trắng của cô đưa cho tôi để đắp vào vết răng vừa nhổ và cấp tốc đi tìm phương tiện cầm máu. Một lát sau cô mang lại một mớ thuốc lào và đắp vào vết thương của tôi. Chừng 10 phút thì máu cầm lại. Tôi đem chiếc khăn tay đầy máu ra ngoài chum nước mưa để giặt. Nhưng vì không có xà bông nên giặt không sao sạch được! Tôi đem trao lại chiếc khăn còn vết máu và nói :”Xin lỗi cô, vì thiếu xà bông nên không sạch được!” Cô cười đáp :” Xà phòng là một thứ xa xỉ phẩm nên ở đây không có, ở quê tôi họ dùng quả “bồ hòn” thay cho xà phòng cũng tốt lắm! Thôi giữ nguyên cái khăn này để làm kỷ niệm lần đầu tiên tôi đóng vai trò nha sĩ đấy!”



Một buổi chiều khi chặt giang về, Quản giáo ra lệnh tập họp điểm danh thì thấy thiếu anh Bác sĩ Long. Anh Long có tính thích lao động một mình. Nhóm gồm ba Bác sĩ Phát, Tâm và Lộc có mời anh gia nhập nhưng anh từ chối. Nhóm tôi cũng mời anh, nhưng anh cũng không nhận lời. Tôi có nói với anh rằng :”Lao động chặt giang trong rừng già này cần phải gia nhập nhóm vì ngộ lỡ có tai nạn xảy ra thì còn có người giúp đỡ”. Nhưng anh đáp :” Sống chết đều có số Trời, nếu đến ngày tận số thì có gia nhập đến ba nhóm cũng thế thôi!



Anh Đại uý Khương báo cáo :” Buổi trưa tôi còn thấy anh Long chặt giang ở sườn núi phía trái suối nước.”
Quản giáo ra lệnh cho anh Khương và tôi trở lại tìm kiếm. Sau chừng nửa giờ xục xạo ở sườn núi phía trái, chúng tôi kiếm được anh Long. Anh đã ngất đi, mặt tái xanh. Kiểm soát thì thấy chân phải anh bị sưng lên vì một vết rắn cắn. Chúng tôi cấp tốc khiêng anh về Trại. Quản giáo chỉ thị chúng tôi khiêng anh lên phòng cô y tá Nữ. Bắt mạch thấy nhịp tim rất yếu, cô biết tình trạng nguy kịch, nên nói với anh bộ đội bảo vệ :” Anh mang súng theo tôi vào rừng để kiếm “lá kỵ rắn” thì mới có thể cứu được!” Anh bộ đội từ chối phắt ngay :” Buổi tối mà vào rừng già thì chỉ làm mồi cho thú dữ thôi! Nếu là chiến sĩ Cách mạng thì tôi sẵn sàng đi với cô. Đằng này là một tên tù ngụy quân mà cô lại bảo tôi hy sinh tính mạng cho nó sao!”



Thấy nhờ không được, túng thế, cô bèn nói với tôi :” Anh đi với tôi được không?” Tôi đáp :” Sẵn sàng, nhưng cô phải xin phép chú Quản giáo của tôi trước đã.” Cô nói với Quản giáo, lúc đầu chú còn ngần ngừ nhưng vì thấy tình trạng nguy kịch của anh Long nên chú đồng ý. Cô bèn thắp sáng chiếc “đèn bão” và đưa cho tôi cầm, còn cô thì xách con “dao quắm” chặt giang của tôi. Tôi vội nói :” Cô cầm đèn đi, để tôi cầm dao quắm cho, lỡ có gì nguy hiểm xảy ra thì tôi còn bảo vệ cô chứ!” Cô đáp :” Anh yếu đuối như thế này thì bảo vệ bản thân anh cũng không xong, còn nói bảo vệ ai nữa!” Nhìn thân hình vạm vỡ của cô, tôi thấy cô nói đúng.



Chúng tôi đi thẳng vào trong rừng. Cô không đi theo đường mòn mà đi vào những bụi rậm với lý do là nơi nào có rắn sinh sống thì nơi ấy hay có “lá kỵ rắn”. Lùng sục chừng một tiếng đồng hồ mà cô không tìm ra lá kỵ rắn. Bỗng nhiên có tiếng động ở phía trước, dưới ánh đèn bão, tôi thấy xuất hiện một con lợn rừng đồ sộ chừng hơn 200 ký xông thẳng đến phía chúng tôi. Tôi hoảng sợ định bỏ chạy, nhưng lúc đầu lỡ nói cứng là bảo vệ cô, mà nay lại chạy thì còn ra thể thống nào nữa! Đang lúc tôi còn đang lưỡng lự, thì bỗng thấy cô Nữ lao thẳng về phía trước, tay vung dao quắm, miệng thì hét lên. Trong đêm khuya thanh vắng, tiếng hét của cô vang dậy cả núi rừng, khiến cho con lợn rừng chưa giao chiến mà đã chạy rồi! Cô quay lại nhìn tôi, thấy tay tôi cầm đèn còn run, khiến ánh sáng chao đảo. Cô trấn an :” Nó chạy rồi, đừng sợ nữa!” Tôi đáp :” Tôi sợ cả tiếng hét của cô nữa!”. Đi chừng nửa giờ nữa, cô kiếm được lá kỵ rắn. Cô hái một mớ lá, rồi chúng tôi cấp tốc trở về trại. Về đến nơi, một phần lá kỵ rắn cô bỏ vào miệng nhai nát, rồi đắp lên chỗ rắn cắn của anh Long; phần còn lại, cô cho vào nồi sắc lấy nước. Chừng nửa giờ sau, thuốc nấu xong, tôi cậy miệng anh Long để cô đổ từ từ từng chút một vào miệng ảnh.



Nhờ trong uống ngoài thoa, nên chỉ chừng một giờ sau, tôi thấy tay Bác sĩ Long cử động, rồi mắt từ từ mở ra. Tôi nói nhỏ vào tai anh :” Cô Nữ đã cứu sống anh đó!” Anh chưa nói được, nhưng gật đầu tỏ vẻ cảm động lắm!



Ngay sáng sớm, tôi vội đi báo với Quản giáo là chúng tôi đã cứu sống được Bác sĩ Long. Chú Quản giáo khen ngợi tài chữa bệnh của cô Nữ, nhưng đối với tôi thì chú ra lệnh xếp hàng vào đội của tôi để sửa soạn đi lao động. Cô Nữ vội vàng can thiệp :” Cả đêm anh ấy với tôi, lúc thì đi tìm lá kỵ rắn, lúc thì lo chữa trị cho anh Long, có chợp mắt được chút nào đâu, nhờ đồng chí cho anh ấy được nghỉ lao động hôm nay.” Nhưng Quản giáo nhất định giữ nguyên lập trường :” Đây là anh ấy tự nguyện giúp anh Long, chứ tôi có ép buộc gì đâu! Phải đi làm vì không có ai chặt giang thế cho anh ấy cả!”. Thế là tôi vẫn phải đi lao động, mặc dầu cô Nữ đã hết lòng xin.



Mùa hè năm 1978, thời tiết rất nóng, một tai họa lại xảy đến với trại cải tạo của chúng tôi. Đó là một số anh em cải tạo viên bị mắc bệnh sốt rét rừng. Đây là một loại sốt rét cấp tính, mỗi ngày lên ba cữ sốt nóng rồi rét run, và chỉ chừng ba tuần lễ sau là “lên đồi”, tiếng riêng của chúng tôi để chỉ việc đem đi chôn. Có một thủ tục ở trại cải tạo là không bao giờ để xác chết ở trong trại qúa một ngày. Nếu chết ban ngày thì ngay nửa đêm hôm đó là phải đem đi chôn. Đám tang tù cải tạo thật là thiểu não. Thi thể người chết chỉ có một cái quần đùi và một cái áo mong manh. Không có quan tài, đến chiếu để bó xác chết cũng không có nữa. Dưới ánh đèn bão chập chờn, thi thể được cho vào một cái võng để khiêng đi. 
 Theo lệnh cán bộ chỉ huy đám tang thì không được chôn ở dưới thung lũng mà phải lên trên sườn núi mà đào huyệt. Vì đất ở sườn núi lẫn với đá nên rất khó đào. Huyệt mới đào chưa đầy một thước thì cán bộ đã ra lệnh cho vùi thi thể xuống và lấp đất lại. Chúng tôi có đóng một cái cọc để đánh dấu mộ phần, nhưng chỉ vài ngày sau đi lao động ngang qua thì thấy vung vãi chung quanh vài mảnh quần áo của người quá cố. Thì ra đêm đến, heo rừng đã đánh hơi được xác chết nên đã đào lên để ăn. Thế cũng xong một kiếp người!



Cô y tá có trình với Trưởng Trại để xin thuốc ký ninh (quinine) trị bệnh sốt rét. Mặc dù Trưởng Trại có làm văn thư xin, nhưng không được cấp phát vì thời gian năm 1978 xảy ra cuộc chiến tranh với nước Cộng sản láng giềng Campuchia ở miền Nam nên mọi việc đều phải ưu tiên cho cuộc chiến này.
Bệnh sốt rét là một bệnh có thể trị được, nhưng vì không có thuốc ký ninh, nên cải tạo viên nào mắc phải là coi như lãnh án tử hình.



Thật không may cho tôi, chính tôi lại bị bệnh sốt rét rừng này! Một ngày lên ba cữ sốt nóng rồi sau đó lại rét run, nên chỉ chừng một tuần sau là tôi chỉ còn da bọc xương. Tôi không buồn về việc mắc bệnh nan y này, mà coi đây là một sự giải thoát khỏi kiếp tù đầy! Tôi dặn dò ba anh bạn thân cùng tổ gồm Đại uý Khương, Thiếu tá Thiệt và Trung tá Bách là khi tôi chết thì chỉ cần mặc cho tôi cái quần đùi và chiếc áo may-ô, còn quần áo còn lại thì chia cho ba người. Ba anh chỉ nhìn tôi mà ngậm ngùi gạt nước mắt vì các anh đều bất lực trước bệnh sốt rét! Các anh chỉ biết đỡ tôi lên phòng y tế và khẩn khoản xin cô y tá chữa giùm. Nhưng không có thuốc ký ninh thì cô cũng bó tay chịu thua, như cô đã bó tay đối với hơn 30 cải tạo viên trong trại đã ra đi vì bệnh sốt rét này! Cô cho biết ở Khu Tư ( Thanh-hóa), là nơi cô sinh trưởng, có loại ớt rừng đặc biệt, tuy rất hiếm, có thể chữa trị được bệnh sốt rét, nhưng ở đây, cô đã khổ công đi tìm mà không thấy! Nhưng cô cũng an ủi tôi là cô sẽ cố công đi sâu vào những nơi hiểm hóc trong rừng già, may ra kiếm được chăng?



Cô Nữ săn sóc tôi rất tận tâm, hàng ngày cô lấy nửa phần cơm của cô hòa với nước, và nấu cháo cho tôi ăn. Ngửi mùi cháo, tôi thèm lắm, nhưng chỉ ăn được vài muỗng là tôi lại ói ra. Hàng ngày sau khi đi lao động về, ba anh bạn thân cùng tổ lại lên thăm tôi. Nhìn sắc diện tôi ngày một kiệt lực, các anh không ngăn được nước mắt!



Chừng một tuần lễ sau, một buổi tối, vào khoảng 9 giờ, tôi lên cơn sốt nặng chừng hơn 40 độ C, cô Nữ cuống lên, chỉ biết lấy khăn ướt mà lau mặt cho tôi để hạ nhiệt. Bỗng cô đứng lên và nói lớn :” Tôi phải cố công ngay bây giờ, tìm cho được cây ớt rừng mới thôi!” Tôi vội vàng ngăn lại :” Ban ngày cả mấy tuần nay, cô đã đi tìm mà có thấy đâu! Nay đang đêm mà cô đi một mình vào rừng sâu thì nguy hiểm lắm!” Cô đáp :” Tôi nghĩ rằng, Trời thấy tôi hết lòng, chắc chẳng nỡ phụ tôi đâu!” Thế là cô thắp sáng cây đèn bão và một tay cầm dao quắm, một tay cầm đèn rời khỏi phòng khám bệnh. Tôi vội vã la lớn lên :” Đừng đi, cô Nữ ơi! Nguy hiểm lắm!”. Nhưng ý cô đã quyết nên đi thẳng luôn. Tôi vội vã ngồi dậy, định chạy giữ cô lại, nhưng mới đi được một bước thì tôi quỵ xuống vì kiệt lực, không còn đi nổi nữa! Tôi đành phải bò lại cái chõng tre, rồi nằm chờ đợi cô về.



Rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi qua. Tôi nhìn chiếc đồng hồ nhỏ ở trên bàn, đã mười hai giờ đêm mà không thấy cô trở về, một giờ sáng cũng không thấy nữa. Tôi tự nhủ thầm :” Nếu cô có mệnh hệ gì thì thật là ân hận cho tôi! Mạng tôi đã an bài rồi, sao cô lại phải liều lĩnh như thế!”. Ba giờ sáng cũng không thấy cô trở về nữa, khiến tôi càng lo sợ thêm cho số phận cô. Đến bốn giờ sáng thì thấy tiếng động ở cửa và cô Nữ hiện ra!



” Ối Giời ơi! Cô đã trở về!” Tôi kêu lên mừng rỡ!
Nhìn cô quần áo rách tả tơi, đầu tóc rối bù, mặt và hai tay bị gai rừng đâm làm rướm máu.
“ Cô không bị thương chứ!” Tôi hỏi.
Cô giơ cao một bó rễ cây và nói :” Không sao! Đúng là Trời không phụ tôi nên tôi đã kiếm được một bụi ớt rừng rồi và đào lấy một mớ rễ. Cả một bụi ớt lớn, ở trong hang đá cách đây chừng hơn 10 cây số. Tôi đã ghi dấu để sau này đi lấy tiếp”.



Cô chẳng nghỉ ngơi gì cả, đi thẳng ra chum nước mưa để rửa rễ ớt và cho vào nồi để sắc thuốc. Chừng hơn một giờ sau, cô đem bát thuốc rễ ớt rừng cho tôi uống.



Cô nói :” Cố uống thật nóng và uống thật từ từ để tránh bị mửa ra!”. Uống xong bát thuốc, mồ hôi tôi vã ra như tắm.
Tiếp đó, cứ một ngày tôi uống bốn bát thuốc sắc rễ ớt rừng. Cơn bệnh sốt rét rừng của tôi từ từ bớt. Đang một ngày lên ba cữ sốt nóng rồi rét run, nay rút xuống hai cữ một ngày, rồi một cữ một ngày. Nhưng phải hơn một tháng, tôi mới dứt được căn bệnh sốt rét, vì rễ ớt rừng không công hiệu mạnh như thuốc ký ninh. Cô Nữ mừng lắm, vì không những cô cứu được mạng sống cho tôi, mà từ đó các cải tạo viên nào bị sốt rét, cô cũng đều cứu được cả.
Nhưng riêng tôi thì tôi cứ nghĩ mạng sống con người là do số Trời đã định, dù có muốn chết cũng không được và lúc này tôi cảm thấy thấm thía câu thơ trong truyện Kiều :



- ”Người dù muốn chết, Trời nào đã cho.”
Ngay khi được tin tôi đỡ được bệnh sốt rét, thì một buổi sáng đẹp trời, chú Quản giáo đến gặp tôi ở phòng khám bệnh. Chú nói với cô Nữ :” Tên này gần hai tháng nay vẫn ngày hai bữa sắn mà chẳng lao động sản xuất được gì cả! Đúng là tên “ăn hại đái nát”, ngày mai hắn phải trở lại đội của tôi để đi lao động chặt giang”.



Cô Nữ ngăn lại :” Anh ta bị bệnh sốt rét, chứ có phải lười biếng gì đâu! Nay mới dứt bệnh, nhưng còn yếu lắm, chưa có thể lao động nặng được đâu!”
- ” Tôi đã quyết định, hắn phải đi lao động sản xuất ngay ngày mai!”. Chú quản giáo ra lệnh.
Cô Nữ đáp :”Nếu làm theo ý đồng chí thì chỉ vài tuần sau, đồng chí lại mất công đi chôn anh ấy thôi!”.

- ”Thế thì cô tính sao?” Chú Quản giáo hỏi.
Cô Nữ đề nghị :” Nếu đồng chí đồng ý, tôi sẽ lên nói với Thủ trưởng cho anh ta tạm thời làm việc ở đội rau xanh. Chừng một tháng khi bình phục hẳn thì sẽ trở lại đội của đồng chí”.
Chú Quản giáo hằn học nói :” Thôi thế cũng được!”.



Thế là sau đó tôi được gia nhập đội rau xanh. Đội này gồm có 15 người gồm 9 ông Đại tá già và 6 người còn lại cũng đều ốm yếu cả. Nhiệm vụ của đội này là chăm sóc vườn rau xanh của trại. Trông coi đội này là một chú Quản giáo “non choẹt”, khoảng chừng 20 tuổi, nhưng rất lắm điều!


Mỗi buổi sáng, chúng tôi phải gánh phân và nước tiểu từ 10 lán cải tạo viên và 2 lán cán bộ đem ra suối để pha chế. Phân này được chú Quản giáo gọi là “phân bắc”, phải được pha chế đều với nước suối để đem đi tưới rau. Tôi gánh hai thùng phân ra tới suối, múc nước đổ vào rồi dùng chiếc gáo dừa để khuấy cho đều. Sau đó gánh phân đến vườn rau trong trại để tưới. Tưới rau xong thì phải xới đất và nhổ cỏ cho đến trưa. “Phân bắc” rất tốt cho rau xanh. Nhìn những luống rau muống xanh biếc, những luống rau dền đỏ tía, những giàn mồng tơi xanh rờn, những giàn mướp nặng chĩu quả, chúng tôi thèm lắm, nhưng đâu có được ăn vì tất cả phải dành cho Cán bộ. Tôi còn nhớ một hôm giàn mồng tơi bị hái đi vài đọt do ai đó “cải thiện”, chú Quản giáo giận lắm, họp cả đội rau xanh lại để tìm thủ phạm. Sau cả tiếng đồng hồ kiểm thảo mà không kiếm ra thủ phạm, chú Quản giáo đi đến kết luận :” Một con sâu làm rầu nồi canh” và chú dùng biện pháp trừng phạt cả đội bằng cách bắt chúng tôi nhịn ăn bữa sắn buổi chiều. Đêm đó cả đội đói meo, chúng tôi cằn nhằn lẫn nhau và quyết định từ đây về sau tất cả phải khắc phục sự thèm muốn để tránh tai hoạ cho cả đội.

Mỗi buổi trưa, cả đội được dừng tay nghỉ chừng nửa giờ để ăn sắn. Tôi xin phép chú Quản giáo cho ra suối rửa tay. Chú từ chối ngay :” Không được! Phải tranh thủ thời gian!” Tôi thấy một bác Đại tá già ra hiệu cho tôi, bác lấy tay chùi vào đám cỏ để chỉ cho tôi đó là cách làm vệ sinh trước khi ăn trưa. Tôi làm theo, đúng là “ nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc”. Khác với đội chặt giang của tôi, tuy có nặng nhọc thật, làm việc “ chảy mồ hôi, sôi nước mắt”, nhưng được cái tự do. Chỉ khi nào chặt đủ chỉ tiêu 40 cây giang một ngày mới phải về trình Quản giáo để được “nhiệm thu”. Đằng này ở đội rau xanh, chú Quản giáo “non choẹt” này luôn luôn ở kè kè bên cạnh, chửi mắng hạch sách đủ điều. Tôi thấy các bác Đại tá đều giữ thái độ im lặng và đôi khi thở dài về hành động của chú Quản giáo quái ác này! 
Tôi biết các bác Đại tá này, bác thì từng làm Trung đoàn trưởng, điều hành cả ngàn binh sĩ trong tay, “ hét ra lửa, mửa ra khói” một thời; bác thì làm Đại tá Tỉnh trưởng, trông coi cả trăm ngàn dân chúng, “tiền hô , hậu ủng”. Thế mà nay lại bị một anh chàng “non choẹt”, chỉ đáng anh binh nhì làm “tà lọt” cho mình, mà lại la mắng, hành hạ đủ điều! Đúng là các bác đã lâm vào hoàn cảnh “lên voi xuống chó”! Tại sao lại có tình trạng như vậy? 
 Chú Quản giáo trẻ này không phải thuộc thế hệ cha anh đã phải vượt Trường-sơn vào Nam chiến đấu, tức là không phải chịu gian khổ trong việc “ giải phóng miền Nam” mà tại sao chú lại đối xử với những tù binh cải tạo như có một “mối thù truyền kiếp” như vậy? Tôi chợt nhớ đến lời cô y tá Nữ cho biết là cô phải học tập chính trị hàng tuần. Thì ra đây là một chính sách của các lãnh tụ Đảng và Nhà nước Cách mạng bắt các bộ đội chiến đấu, cán bộ hành chánh, cán bộ chuyên môn và cả người dân tại những thôn xóm ở thôn quê cũng như các tổ khu phố ở thành thị, đều phải học tập để quán triệt chính sách của Đảng và Nhà nước Cách mạng. Chính sách này cốt yếu tạo ra lòng căm thù của đồng bào miền Bắc đối với cái gọi là “ngụy quân, ngụy quyền” ở miền Nam. Hơn thế nữa, Đảng còn khơi dậy lòng căm thù giữa những nông dân miền Bắc với nhau qua phong trào “Cải cách ruộng đất”. Phong trào này đã biến những nông dân vốn dĩ hiền lành chất phác, trở nên hung hãn trong những cuộc “đấu tố” ở miền quê, đầy máu và nước mắt.



Những chính sách sắt máu này đã được Đảng đưa vào sách giáo khoa để đầu độc cả những tâm hồn ngây thơ trong trắng của học sinh. Như thi sĩ Tố Hữu đã cổ động phong trào Cải cách ruộng đất, làm dấy lên lòng căm thù giữa các nông dân trong “Bài ca tháng Mười”:



Giết! Giết! Giết! Bàn tay không ngừng nghỉ,
Để ruộng đồng thêm tốt, lúa thêm xanh,
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao Chủ tịch,thờ Xít-ta-lin bất diệt!



Chính sách căm thù này có đặc điểm là dân tộc Việt được học tập để căm thù chính dân tộc mình! Chính sách căm thù này đã được, trong một thời gian, đưa vào sách giáo khoa, vào trường học, vào nền giáo dục ở miền Bắc, để thay đổi cả một nền Văn hoá, biến một số đồng bào miền Bắc, đang từ một dân tộc hiếu hòa, trọng đạo đức, trở thành một dân tộc hiếu chiến, giả dối và coi bất cứ phương tiện nào đưa đến thành công, đều là phương tiện tốt cả! Mẹ Âu-Cơ luôn luôn dạy dỗ đàn con Lạc Hồng là phải yêu thương lẫn nhau:



Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Nếu có hiềm khích lẫn nhau, thì tìm cách hóa giải mối bất hòa và dành tài sức để đoàn kết mà chống giặc ngoại xâm:
Khôn ngoan đối đáp người ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau!



Cũng với nhà thơ Tố-Hữu, người đã làm tới Phó Thủ tướng trong chính quyền Cách mạng và Uỷ viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt-Nam, còn khơi động phong trào tôn thờ lãnh tụ ngoại bang, mà quên đi cội nguồn dân tộc. Nhà thơ đã khóc trước cái chết của Stalin, lãnh tụ Cộng sản Liên-xô, trong bài thơ “Đời đời nhớ Ông” :



“Ới Ông Xít-ta-lin ơi!
Nghe tin Ông mất, Đất Trời còn không?
Thương Cha, thương Mẹ, thương Chồng,
Thương Mình thương một, thương Ông thương mười!”



Nhà thơ còn đưa Stalin lên hàng thần tượng để tôn thờ:



“Yêu biết mấy, nghe con tập nói,
Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin!”



Và thật sự ra Stalin là ai? Đó là một tên đồ tể của Liên-xô, người đã ra lệnh giết cả triệu người trên toàn thế gìới, cũng như đã ra lệnh tập trung cả triệu người trong các “Gulag”, một loại trại lao động khổ sai, ở vùng Tây-bá-lợi-á (Siberia), một vùng hoang vu lạnh lẽo ở nước Nga. Chính Đảng và Nhà nước Cách mạng đã sao chép lại cái gọi là Gulag này và đặt cho một cái tên văn hoa là trại Học tập Cải tạo ở Việt-Nam.



Trong khi các vị Anh hùng Liệt nữ giống nòi Việt như Hai Bà Trưng, Trần-Hưng-Đạo, Lê-Lợi, Nguyễn-Huệ…sao không tôn thờ, mà lại chọn những người ngoại bang sắt máu như Stalin, Mao-trạch-Đông, những người mà cả Thế giới đều lên án, thì ở Việt-Nam, trong hai thập niên 1960 và 1970 lại có đất dung thân, được tôn thờ và hình ảnh được treo khắp nơi trên đất nước Việt!



Khi Đảng và Nhà nước Cách mạng tạo ra những chính sách hận thù dân tộc đối với đồng bào cùng trong một nước, họ có biết đâu rằng hận thù sẽ chồng chất, sau này khó giải quyết được. Họ tưởng rằng họ đặt ra vài trại tù binh kiểu mẫu như trại Phú-sơn, rồi mời các phóng viên ngoại quốc đến chứng kiến cảnh chính quyền Cách mạng đối xử nhân đạo với tù binh đúng theo qui ước quốc tế Genève về tù binh thì mọi việc đều ổn thỏa cả. Còn những trại ở trong rừng sâu núi thẳm như những trại ở tỉnh Hoàng-liên-sơn, vắt sức lao động của tù binh để làm nên của cải vật chất cho Cách mạng, coi mỗi trại tù binh cải tạo như một đơn vị phát triển kinh tế, bắt tù binh làm việc chặt giang 7 ngày một tuần, mỗi ngày từ 6 giờ sáng tới 5 giờ chiều, với chỉ tiêu là 40 cây giang một ngày, mỗi cây giang trị giá 4 hào, tổng cộng là 16 đồng, mà khẩu phần sắn của mỗi cải tạo viên chỉ đáng 2 hào một ngày, lại còn đối xử tồi tệ với tù binh để trả thù, thì nào ai biết được! Nhưng ở đời chẳng có gì có thể dấu được vĩnh viễn. Rồi ra con cháu và hậu duệ của những người tù binh cải tạo biết được, thì tự động lại dấy lên một mối hận thù chống lại Đảng và Nhà nước Cách mạng.



Mới ở đội rau xanh được chừng ba tuần, tôi đã xin với cô Nữ cho tôi được trở lại đội cũ chặt giang. Cô ngạc nhiên hỏi :” Sao anh không ở đội rau xanh đủ một tháng để hồi phục sức khỏe”. Tôi nói dối rằng:” Tôi nhớ các bạn cũ nên muốn trở về”.
Nghe tin tôi trở về đội chặt giang, các bác Đại tá buồn lắm. Lý do là vì trong ba tuần lễ ở đội rau xanh, cứ mỗi buổi tối nghỉ ngơi ở trong lán, tôi lại kể chuyện mua vui cho các bác nghe. Chuyện tôi kể là truyện “Tam Quốc Chí” rất hợp với sở thích của các bác. Nay đang đến hồi gây cấn mà tôi lại bỏ đi! Một bác đề nghị :” Thỉnh thoảng cậu nhớ trở lại đây thăm chúng tôi và kể tiếp tục nhé!”. Một bác khác tiếp lời :” Truyện đang kể đến hồi :



‘Khổng-Minh cao đoán đường Hoa-dung,
Vân-Trường vì nghĩa, tha Tào-Tháo.’

Cậu nhớ lấy để mà kể tiếp tục”. Tôi nói cho các bác an tâm :” Thế nào có dịp, tôi cũng trở lại thăm và hầu chuyện các bác”. Nhưng tôi biết điều đó không thể thực hiện được, vì nội qui của Trại cấm các cải tạo viên không được liên hệ với đội khác, nếu vi phạm sẽ bị “tù kỷ luật”.



Về Đội cũ, các anh em đều vui mừng chào đón tôi. Các anh đều nói tôi là người “ trở về từ Địa ngục” vì bị bệnh sốt rét rừng, không có thuốc ký ninh mà vẫn sống sót! Anh Đại uý Thạch-Sơn nói :” Hàng đêm nhớ anh quá! Anh đang kể truyện “Đông Châu Liệt Quốc” rồi mắc bệnh, làm gián đoạn đã gần hai tháng nay rồi, mời anh tiếp tục kể mua vui cho chúng tôi đi!”. Anh bạn tôi, Đại uý Khương phản đối :” Anh ấy bị bệnh nan y, mới bình phục trở về, chưa giúp đỡ được gì, đã bắt phải hầu chuyện rồi!”. Anh Sơn hăng hái đáp :” Tôi sẽ chặt ủng hộ anh hai cây giang!”. Một số anh khác cũng hứa chặt giúp tôi một cây giang. Thế là không thể đừng được, tôi lại tiếp tục kể chuyện hàng đêm. Đúng là “Mồm miệng đỡ chân tay”.



Thời gian lại lặng lẽ trôi qua, nhưng cái hạn của tôi chưa hết, đúng là “Họa vô đơn chí”. Mới chừng chưa đầy một tháng sau, một buổi đi chặt giang, tôi bị con gì chích ở mắt cá chân phải. Mới đầu chỉ thấy ngứa, nhưng qua hai ngày sau, chân tôi sưng phù lên như chân voi, phải chống gậy mới lết đi được! Chú Quản giáo tôi giận lắm, chú nói :” Tên này đúng là ‘phường ăn hại đái nát’, mới lao động trở lại chưa đầy một tháng lại giở chứng rồi!”.



Các bạn tôi lại dìu tôi lên phòng khám bệnh để làm phiền cô y tá. Sau khi khám sơ qua, cô Nữ kêu lên : “ Con vật cắn anh thuộc loài ‘nhện kịch độc’. Nó làm chân anh không những sưng, mất cảm giác, mà còn trở nên bầm tím từ mắt cá chân lên đến quá đầu gối rồi. Nếu vết bầm tím lên đến bụng thì hết thuốc chữa. Phải chở đi bệnh viện để cắt ngay chân phải đi, thì mới có thể cứu sống được!”. Tôi chưa kịp có phản ứng gì thì cô đã vội vàng đi trình Thủ trưởng.



Một lát sau cô trở về, mặt có vẻ buồn. Cô nói :” Ngày mai tôi sẽ nhờ xe trâu chở anh ra quốc lộ rồi anh và tôi sẽ quá giang xe nhà binh đến bệnh viện Việt-trì, ở đó bác sĩ sẽ cắt phần chân làm độc của anh. Phải làm gấp, không chất độc sẽ lan lên đùi. Tôi trả lời làm cô vô cùng sửng sốt :” Cám ơn cô, nhưng tôi sẽ không đi đâu hết. Đây là một dịp để giải thoát thân tù tội của tôi!”. Cô giận dữ nói :” Anh có biết xin được cho anh đi bệnh viện cắt chân, tôi phải chịu những thiệt thòi nào không? Thủ trưởng cho rằng tôi đã phạm một lỗi qúa lớn lao là “không ý thức được tinh thần Cách mạng, không phân biệt đâu là bạn đâu là thù, nên tinh thần phục vụ tuy có, nhưng đặt không đúng chỗ”. Tôi cố gắng xin ông cho tôi được chở anh đi bệnh viện. 
 Ông cho biết ông sẽ đồng ý, nhưng đổi lại, tôi sẽ bị phạt kỷ luật là biết sai phạm mà cứ tiến hành, do đó sẽ bị ghi vào hồ sơ là suốt đời không thể trở thành Đảng viên được và cũng không được đề nghị lên cấp trong vòng 10 năm. Tôi đã chấp thuận ngay hình phạt kỷ luật này để cứu anh. Nay anh trả lời như thế, làm tôi cảm thấy thua thiệt cả đôi đàng. Một đàng bị kỷ luật nơi Thủ trưởng của tôi; một đàng bị chính anh từ chối nên không thể cứu anh được!”.



Tôi kêu lên :” Tôi có nhờ cô đâu mà sao cô lại hy sinh lớn lao như vậy? Thân tù tội đã không có ngày về, lại thêm cưa chân nữa thì sống để làm gì? Lại mang tiếng là “phường ăn hại đái nát”, thêm gánh nặng cho người khác!”. Tôi biết đối với các cán bộ miền Bắc, việc trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản là một mơ ước, vì đó là một thứ “siêu công dân”, được đi trên “chính lộ” để dẫn đến quyền cao chức trọng, còn các công dân khác chỉ là loại “phó thường dân”, đi bên lề đường, suốt đời chỉ là người thừa hành, sai phái của các Đảng viên. Do đó, tôi ngạc nhiên khi thấy cô hy sinh cả mơ ước này vì mạng sống của tôi.



Cô nói gằn từng tiếng :” Nhưng tôi không muốn anh chết!”. Giọng cô đượm đầy nước mắt, và cô không muốn tôi thấy cô khóc trước mặt tôi, nên cô bỏ đi.
Còn lại một mình, tôi ân hận vì đã to tiếng với một người tốt như cô, lại vừa ngậm ngùi cho số kiếp không may của mình!



Buổi chiều cô trở lại và nói :”Anh nhất quyết không đi cắt chân cũng được, nhưng còn nước còn tát. Tôi có một cô bạn y tá làm việc ở đồn biên giới Lạng sơn cách đây chừng hơn 30 cây số. Tôi định ngày mai lên đó để xin thuốc bê-ni (penicillin) để tiêm cho anh đây. Thuốc này rất hiếm, nhưng nếu anh chưa đến ngày tận số thì may ra họ có, và tôi có thể xin được!”
Ngày mai cô xin phép Thủ trưởng cho nghỉ hai ngày. Cô không đi ra quốc lộ để xin quá giang xe, vì xe chỉ đi về miền xuôi, chứ không đi ngược lên biên giới. Cô đã mạo hiểm, chỉ với một gói lương khô, một chai nước mưa và một con dao quắm để hộ thân, mà cô dám len lỏi đi tắt đường rừng một mình để tới đồn biên giới Lạng-sơn.



Vào buổi tối ngày thứ hai, tôi đang nằm thiếp đi trên chiếc chõng tre, thì cô trở về. Cô đánh thức tôi dậy và hân hoan nói :”Trời đã không phụ tôi nên cô bạn tôi đã có thuốc bê-ni, tôi đã hối lộ chút tiền nên đã xin được 8 hũ thuốc”. Nói xong cô đưa gói giấy đựng thuốc cho tôi xem. Tôi nhìn kỹ thì thấy đó là loại penicillin của Liên-xô, nhưng đã hết hạn (expired) từ tháng 6 năm 1975, mà nay đã là tháng 9 năm 1978, nghĩa là đã quá hạn hơn 3 năm rồi! Tôi không cho cô biết điều này và tôi cảm thấy mừng là nếu bị phản ứng vì thuốc quá hạn thì đó là điều mong ước được giải thoát thân kiếp đọa đầy của tôi!



Cô đi lấy ống chích và ra chum nước mưa để rửa vì có lẽ cả năm nay chưa dùng tới. Sau đó, cô dùng ống chích hút lấy chút nước mưa trong chum, rồi bơm vào một hũ penicillin, tiếp theo cô lắc mạnh cho tan hết bột penicillin. Cô nói :” Tôi tiêm cho anh đây, chịu khó đau một chút nhé!”. Tôi thản nhiên vén tay áo cho cô chích. Khi chích, tôi thấy mặt cô hơi tái, vì có lẽ hai ngày nay cô đi đường tắt len lỏi trong rừng già để đến đồn biên giới Lạng-sơn, chắc cực khổ lắm!
Tôi nói :” Cám ơn cô nhiều, giờ đây cô cần nghỉ ngơi, ăn uống cho lại sức để mai còn làm việc”. Cô nghe lời tôi và rời khỏi phòng khám bệnh.



Cô đi rồi, tôi nằm xuống chõng nghỉ ngơi. Chừng 10 phút sau thì thuốc ngấm, tôi cảm thấy sốt nóng dữ dội. Tôi biết bị phản ứng vì thuốc quá hạn, nhưng không thông báo cho ai biết, vì tôi coi đây là dịp cho tôi được giải thoát! Nhưng kỳ lạ thay, chừng một giờ sau cơn sốt lui dần và tôi ngủ thiếp đi. Đúng là số Trời chưa cho tôi chết!



Sáng sớm ngày mai, cô Nữ lại thăm tôi và hỏi về công hiệu của thuốc bê-ni. Tôi nói thuốc rất tốt. Thế là cứ mỗi ngày sau đó cô chích cho tôi một hũ penicillin . Thật là thần diệu, vết sưng biến chân phải của tôi thành chân voi, nay dần dần xẹp xuống, và đồng thời mầu tím bầm của chân đã chuyển sang mầu nâu. Bấm vào chân, tôi đã có cảm giác thấy đau. Hai tuần sau, tôi đã có thể đi lại được, không phải chống gậy nữa!
Cô Nữ lại định gửi tôi cho đội rau xanh một tháng để hồi sức, nhưng tôi xin trở lại đội chặt giang. Cô sợ tôi không đủ sức lao động nặng, nhưng tôi nói các bạn trong đội sẽ chặt giùm một phần lớn cho tôi trong thời gian tôi đau yếu.
Thế là tôi lại trở về đội cũ. Các bạn tôi đều nói tôi là người trở về từ địa ngục lần thứ hai.



Thời gian lại trôi qua, và chừng một tháng sau, đang nửa đêm, bỗng có tiếng còi thổi ré lên đánh thức các trại viên dậy và có lệnh ra sân tập họp để chuyển trại. Những trại cải tạo chặt giang như trại tôi thì thường chỉ 10 tháng hay tối đa là 1 năm, khi nguồn cung cấp giang đã cạn, đều phải chuyển sang một khu rừng khác, cách xa chừng 40 hay 50 cây số, để lập trại khác, ngõ hầu để có nguồn cung cấp giang mới. Mỗi lần chuyển trại như vậy thì thay đổi tất cả nhân sự, từ Trưởng trại, cán bộ Quản giáo, bộ đội bảo vệ và dĩ nhiên cả y tá. Mọi lần chuyển trại trước, tôi đều coi bình thường, vì thân tù tội đi đâu cũng được! Nhưng lần này tôi cảm thấy lo buồn quá đỗi, vì tôi phải xa ân nhân của tôi rồi! Vì đi đột ngột vào lúc nửa đêm như thế này thì làm sao tôi có thể chào từ biệt cũng như ngỏ lời cảm ơn cô Nữ!



Trong ánh sáng lờ mờ của bó đuốc cắm giữa sân, tôi thấy các bạn tôi đều vội vàng gói ghém quần áo và dụng cụ để sửa soạn lên đường. Tôi lại thấy Quản giáo cũ bàn giao đội tôi cho Quản giáo mới. Riêng tôi thì tôi cứ đứng thẫn thờ một mình, mặc cho các bạn tôi gói ghém giùm quần áo cho tôi. Bỗng nhiên tôi thấy một bóng người tiến nhanh lại phía tôi và khi tới xát gần thì một giọng nói quen thuộc :” Chúc anh đi được mạnh khỏe và bình an nhé!”. Thì ra là cô Nữ! Cô đặt vào tay tôi một cái gói, tôi sững sờ chưa kịp trả lời thì cô đã vội vã đi mất hút vào bóng đêm, vì sợ có người trông thấy! Tôi mở cái gói ra thì thấy đó là một nắm cơm được gói với cái khăn tay còn in vết máu mà cô đã nhổ răng cho tôi khi xưa! Như vậy là cô đã biết việc chuyển trại này vào chiều hôm trước, nên đã nhịn phần cơm của cô mà gói cho tôi đây! Tôi cảm động và ân hận quá vì đã không nói được một lời cám ơn đối với cô. Đúng lúc đó thì Quản giáo mới ra lệnh cho chúng tôi lên đường. Tôi loạng choạng bước theo các bạn cải tạo của tôi, cứ theo ánh đuốc mà đi vào rừng sâu.



Cuộc chuyển trại từ nửa đêm hôm trước, cho tới 2 giờ chiều hôm sau, khi tới một khu rừng mới, cũng bên bờ suối nước, thì được lệnh dừng lại. Trưởng trại mới xuất hiện, ông ra lệnh cho 10 đội gồm chừng 600 cải tạo viên :” Cho các anh nghỉ 2 tiếng đồng hồ rồi sửa soạn lập trại mới!”

Đây là một khu rừng già dường như chưa có chân người đặt tới, mà dụng cụ chỉ có dao quắm và mấy cái cưa, không có đến một cây đinh, mà phải xây dựng 12 lán, gồm 10 lán cho cải tạo viên và 2 lán cho cán bộ. Nhưng nhớ tới việc lập trại trước, nhờ có 6 anh cải tạo, nguyên là sĩ quan công binh, tốt nghiệp kỹ sư xây dựng ở Hoa-kỳ, các anh dùng cưa để làm mộng, ghép những cây rừng làm sườn nhà, không cần đến một cây đinh, mà đã tạo được những căn nhà tranh khá vững chắc, chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng!


Khi được lệnh ngừng chân và cho nghỉ 2 tiếng, các bạn tôi đều nằm lăn ra dưới gốc cây mà ngủ, vì đêm trước ra đi lúc nửa đêm nên có ngủ được đâu! Riêng tôi thì đầu óc suy nghĩ miên man nên không sao chợp mắt được! Tôi nghĩ đến mẹ tôi là người đã nuôi nấng, săn sóc tôi từng li từng tí, mà đến lúc tôi trưởng thành, có điều kiện để báo hiếu, thì người lại ra đi vĩnh viễn. Tôi nghĩ đến cô y tá Nữ là người đã cứu tử tôi, đã săn sóc tôi hết lòng, mà nay lâm vào cảnh cách biệt như thế này, thì làm sao tôi có thể trả ơn trời biển cho cô được! 
Tôi lại nghĩ đến hoàn cảnh của đất nước tôi, một đất nước đã bị tàn phá bởi chiến tranh cả mấy chục năm trường! Nay Hòa bình vừa trở lại, nhưng những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cách mạng lại thi hành một chính sách gây hận thù với cái mà họ gọi là ngụy quân và ngụy quyền ở miền Nam. Tôi nghĩ rằng sự căm thù chồng chất giữa những đồng bào cùng trong một nước như thế này thì bao giờ mới hóa giải được! Mấy người đã hành xử được như cô y tá Nữ “lấy Tình Thương xóa bỏ Hận Thù”. Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy đau lòng quá và tự nhủ một mình qua làn nước mắt :” Cám ơn cô Nữ đã dạy cho tôi một bài học, thế nào là lòng Thương Yêu của con người đối với con người, nhất là đối với đồng bào cùng trong một nước!!!”.

Ngày 04- Fevrier- 2013
TT Đại



HÀ LONG * TRUYỆN VƯỢT BIỂN




Hành Trình Vượt Biển Đông: Truyện Đứa Em Tội Nghiệp

Nguồn: http://vantuyen.net - Giới thiệu: Dã Thảo; Đọc bài: Ghenty., Nắng Xưa Một buổi chiều đầu tháng năm, chị em chúng tôi đang ở nhà, ba má đi vắng, xe công an tới đậu ngay trước cổng, bao vây quanh nhà và lục soát rất kỹ đồ đạc trong các phòng. Chúng tịch thu một số bản thảo do ba tôi viết, phần nhiều là hồi ký và những suy nghĩ của ba tôi về cuộc đời tù đày, về triết lý chính trị, về chế độ bắt ông ngồi tù hơn bảy năm.

Chúng hỏi chị em chúng tôi về những người khách hay đến nhà, những người và những nơi ba tôi thường lui tới. Nghi là chúng có thể bắt ba tôi như vẫn thường xảy ra, Quỳnh nhanh chân chạy ra cầu Kinh, chờ ba má tôi về, báo cho biết và dặn ba má tôi đừng về nhà nữa.

Ba má ở lại nhà một bà thầy bói mà má tôi quen thân, gần chợ Thị Nghè. Chỉ có tôi là chị cả được lên thăm. Ba má tôi quyết định trốn đi, chỉ còn một cách là vượt biên theo đường dây của người hàng xóm vừa đi lọt hôm tết. Ba má tôi định đem theo cả hai đứa út nhưng tôi cản lại, chỉ cho một đứa. Cuối cùng thì bé Hí được đi còn bé Bi ở lại với chị em chúng tôi. Khoảng cuối tháng 6, Diễm, em gái tôi, ở Mỹ gọi điện thoại về báo cho biết là ba má đã tới Bidong. Chúng tôi quá mừng. Thế là ba tôi thoát khỏi tù tội cộng sản một lần thứ hai nữa. Nhưng bây giờ tất cả gánh nặng đổ lên đầu tôi vì tôi là chị cả.

Khi Diễm gọi về, chúng tôi được gọi ra Bưu Điện Saigon để chờ nghe điện thoại. Nghĩ lại mà tức cười. Tôi chỉ vừa nghe: “Allô! Diễm đây!” là Diễm khóc nức nở. Tôi vội vàng la to lên “Hà đây! Hà đây Diễm ơi!” Rồi tôi cũng khóc, cả mấy em tôi, đứa nào cũng giành lấy ống nghe, gọi tên và khóc. Chúng tôi chỉ nghe được có mấy tiếng “Ba má đến Bidong rồi”, thế thôi! còn lại toàn là khóc. Chị em chúng tôi xa nhau thế mà đã năm năm, vắng tiếng, vắng hình mà chị em chúng tôi thì thương nhau lắm, đứa nào vắng nhà một ngày thôi cũng đã nhớ đã thương, huống gì năm năm trời đằng đẵng.

Niềm vui gặp gỡ qua thật nhanh. Ở nhà vắng ba má, nhà vắng vẻ lạ lùng. Nhìn cái gì cũng nhớ ba má cả. Ngoài sân, trong nhà, sau bếp, trên lầu, chỗ nào cũng nhớ, cũng thấy có ba má. Ba má ngồi chỗ này, ba má ăn chỗ này, ba má nằm chỗ này, ba má ở chỗ này...Chỗ nào cũng thấy ba má. Nhớ ba má và nhớ Hí không tưởng được.

Ba ngày sau ngày đầu tiên, xe công an lại đến. Lần này không xét nhà nhưng chúng hỏi kỹ ba má đi đâu, đi bao giờ, đi bao lâu về. Chị em chúng tôi nói liều là về Huế thăm ngoại bệnh. Ngoại già lắm rồi, hơn 90 tuổi. Nói vậy cho có lý. Tháng đầu thì sợ, sợ ba má vượt biên bị bắt, nhưng nhờ ơn trên...

Tháng 6 tháng 7, xe công an đến liền liền. Chúng hỏi đi hỏi lại là ba má đi sao lâu về, hỏi địa chỉ của ngoại ở Huế. Tôi nói dối là ngoại ở quê, chúng tôi xa Huế từ hồi nhỏ xíu, không rõ. Nghe nói các bạn của ba như chú V. Chú S. đều bị bắt cả, chú T. thì bị đánh chết trong tù. Cuối cùng, công an biểu tôi về Trung gọi ba má vào, chúng dụ là chỉ hỏi chuyện ba má thôi. Tôi nói là chị cả, không đi được, bỏ em không ai coi sóc, tụi nó toàn là con gái. Công an bèn bắt thằng em trai tôi, Bảo Long, biểu ra ngoài Trung gọi ba má về. Chúng tôi cũng chẳng lo vì bây giờ biết ba má ở Bidong rồi.

Mấy hôm trước cô tôi xuống thăm, không nói gì, chỉ khóc. Cô tôi rất mau nước mắt và rất thương ba tôi. Cô tôi dặn là coi chừng tụi nó sẽ xét nhà, tịch thu nhà, có gì quý thì lo cất. Tôi và thằng em trai cạy miếng gạch bông trong phòng ăn, lấy mấy lượng vàng lận vào lưng. Sau lần bị đánh tư sản và sau bao nhiêu lần vượt biên bị bắt, bị gạt, của cải ba má cất giấu chỉ còn lại chừng đó. Nghĩ mà thương ba má quá, một đời vất vả dành dụm, bỗng tài sản đi như nước chảy.

Công an phường lại đến tìm thằng em trai tôi, buộc phải đi Trung tìm ba má về. Tôi sợ thằng em trai tôi dám bị bắt lắm. Công an bắt nó để ba má tôi trốn ở đâu đó phải về. Nhân dịp chú Sáu, chú Mười ở Cà-Mau lên thăm, hai ông là người tổ chức cho ba má tôi đi, tôi lại biểu thằng em tôi đi. Sau mấy lần ngần ngại, nó nghĩ là ba má đã đi rồi, trong nhà chỉ có nó là trai, còn lại toàn là chị em gái nên nó không muốn đi. Nhưng sau lần công an gọi nó qua phường, đe dọa, biểu phải khai rõ ba má trốn ở đâu, còn không thì sẽ quy cho nó tội ngoan cố, bao che phản động làm thằng bé sợ quá. Hôm sau, 3 giờ sáng, tôi đưa nó ra bến xe Miền Tây, cho nó về Cà Mau theo đường dây cũ của ba má mà đi vượt biên.

Tội nghiệp thằng nhỏ ở cả tháng dưới ruộng mới đi được. Nó mà chịu ở ruộng lâu như thế là nó sợ công an lắm chứ cậu ta vốn dĩ là con trai độc nhứt của gia đình có tới sáu chị em gái, đẹp trai, con nhà giàu, cả nhà ai cũng cưng, ăn diện dữ lắm, chưa bao giờ phải khổ cả. Cũng tội nghiệp cho nó nữa: Ghe nó tấp vào đảo Redang, nghe nói chỉ cách Bidong có một hòn đảo vậy mà nó bị kéo ra khơi. Nó phá ghe để vào đất liền, lại bị kéo ra. Nó xin người ta cho nó vào Bidong, bập bẹ mấy tiếng Anh “My parents are on Bidong, let me come there” nhưng cũng bị đẩy ra. Ba lần như thế, nó cố đến với ba má mà không đến được. Cuối cùng nó bị đẩy qua Indo. Bây giờ thì nó thui thủi một mình ở trại tỵ nạn Galang.

Công an thấy vắng luôn thằng nhỏ, lại truy riết tới. Ngày nào công an phường cũng gọi tôi lên hạch hỏi, lấy cung, bắt làm tờ khai, kiểm điểm. Những thằng công an này thường đến uống cà-phê nơi quán tôi, để xã giao, tôi không tính tiền. Vậy mà bây giờ chúng làm mặt lạ. Tính tôi đã lì, lại ỷ mình là đàn bà con gái, tôi lại lì hơn. Ngày nào tôi cũng làm kiểm điểm giống ngày nào. Công an tức lắm. Vả lại, tôi cũng muốn chọc tức mấy thằng này. Ba má và Bảo đi rồi, còn lại năm chị em gái, chúng nó làm gì được? Chúng dọa tịch thu nhà vì nhà má tôi đứng tên. Tôi dọa lại tôi sẽ dẫn các em ra trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Thành phố khiếu nại. Chúng nó thách. Dù sao thì án chưa xử, chưa tịch thu nhà được, nhưng nếu khi xử, dù xử khiếm diện ba má, chúng cũng sẽ lấy nhà vì luật lệ ở trong tay chúng. Chúng viện cớ quán cà-phê má tôi đứng tên, tịch thu môn bài, đóng cửa. Thật xui, quán mở chưa được mười hôm thì ba má trốn đi. Nhưng chị em tôi cũng chưa đói. Bảo đi ngay gốc nên tốn chỉ hơn một cây, còn Diễm ở Mỹ, nghe chị em tôi ở nhà loe ngoe với nhau, gởi tiếp mấy thùng quà, đủ tiêu chán. Có điều chị em chúng tôi buồn lắm. Bỗng dưng gia đình ly tán, ba má một nơi, chị em mỗi đứa một nơi. Chúng tôi không tổ chức party mỗi kỳ sinh nhật nữa. Mấy năm sau khi ba ở tù về, ba má cho mở party nhảy đầm. Ba má nói “Để cho các con được vui!” Ba má chỉ cấm không được làm ồn ào quá lắm, công an lưu ý, còn ba má thì bắc ghế giả bộ ngồi chơi trước cổng, canh chừng công an để “các con được vui!”

*********
Tình hình thế này thì chị em chúng tôi cũng phải đi thôi, không thể ở được nữa. Chúng nó ghim nhà tôi kinh quá, “bao vây kinh tế” kỷ quá. Không cho bán cà phê là chị em chúng tôi ngồi không tối ngày. Công an cứ gọi tôi hoài, cảnh cáo là đi xa phải xin phép. “Không thì khó khăn đấy.” Đó là lời chúng đe dọa.

Chú Sáu, chú Mười lại lên. Sợ công an, tôi gởi họ bên nhà cậu mợ, bàn với họ cách cho chị em chúng tôi đi. Bi nhỏ không kể, bây giờ còn bốn chị em, không đủ tiền ghe tàu cho tất cả. Tuy nhiên, nếu đưa vàng trước cho chủ ghe tổ chức thì đủ, nhưng nếu không đi được thì coi như mất vàng. Tôi suy đi tính lại thật kỹ: Ba má đi đường này, Bảo cũng đi đường này, an toàn. Chú Sáu và chú Mười thật thà, đáng tin. Chỉ sợ gặp xui. Dù gì thì cũng phải liều thôi, như câu bà nội hay nói đùa mà nay thành ra thật: “Một liều ba bảy cũng liều, cầm như con trẻ chơi diều đứt dây.” Diều đứt dây là coi như... không dám nghĩ tiếp. Chị em chúng tôi tới đường cùng rồi, đi thì may ra thoát còn không đi thì coi như chết cứng ở đây.

Từ khi ba má đi rồi, Bi tội lắm. Nó không chơi với trẻ con hàng xóm nữa, chỉ chơi một mình. Đang ngồi, tự nhiên nó thừ ra, mắt nhìn vào đâu đâu, rồi Bi khóc. Hỏi, Bi nói: “Bi nhớ ba má và Hí lắm.”

Đúng ra Tân Long là út. Tân sinh năm 1972. Mười hai năm sau, khi ba tôi đi ở tù về, vừa đúng 49 tuổi. Má nói đàn ông 49 tuổi xui lắm, nếu má sinh một đứa nữa thì sẽ xả xui cho ba. Vì vậy, năm đó, để xả xui cho ba, má tôi sinh liền hai đứa. Cả nhà, và cả bà con nữa, ai cũng cười. Hai đứa nhỏ này cách chị nó, đứa áp út những 12 năm, trong khi chị em chúng tôi cách nhau đều đều chỉ có 2 năm.

Hai đứa bé sinh đôi, lớn lên, ăn, chơi, ngủ với nhau nên thương nhau lắm. Vậy mà bây giờ Hí thì đã đi, chỉ còn lại thui thủi một mình Bi. Nó rất người lớn, không nhỏng nhẻo như trước, mỗi ngày đôi ba lần nó thờ thẫn nhìn đâu đâu, nghĩ đâu đâu, rồi khóc, cũng khóc một mình, không quấy rầy các chị. Tôi nghiệp, nó không còn cái vui hồn nhiên của trẻ thơ nữa. Năm tuổi đầu, Bi đã biết buồn đau vì những ly tán, xa cách, nhớ nhung và âm thầm chịu đựng. Bi không còn bắt chước các chị gọi đùa tôi là “Hà che (ke)” nữa (vì tôi gầy lắm), không gọi “Bảo sún” (vì Bảo sún răng). Bi gọi đúng tên, nghiêm chỉnh. Nó mất đi cái tính vui vẻ, đùa nghịch. Có khi nghe một bài hát quen, nó bỗng gọi tôi: “Hí biết hát bài này, nó có hát đấy”. Tôi nhớ hai đứa nhỏ rất thích bài Ali Baba. Mỗi khi quán cà phê mở bản nhạc nầy ra, tôi thấy Bi thờ thẫn, nhớ nhung. Nó thường nhớ những kỷ niệm khi hai đứa nhỏ sống với nhau. Bi chỉ còn một thú vui duy nhất, chơi trò chơi điện tử. Đôi khi đưa Bi đi chợ, qua chỗ có trò chơi điện tử, nó nằng nặc xin hai trăm đồng để vào chơi. Tôi đứng ngoài chờ. Nhìn cái lưng nhỏ bé của nó đang ngồi chung với đám con trai trên dưới hai mươi tuổi mà tức cười. Vậy mà chơi lúc nào nó cũng ăn. Mấy đứa trong phường mỗi lần thấy Bi, nói với nhau: “Con bé đó, nhỏ vậy mà chơi điện tử hay vô cùng”. Bi giống chị em chúng tôi, đứa nào cũng thông minh.

Mấy đêm trú nơi cửa biển chờ vượt biên, nó đã khôn lại khéo. Nó bảo là đi gặp ba má phải mặc quần áo đẹp cho ba má thương, lại còn chuẩn bị đem quần áo sang cho Hí. Nó nói là gặp Hí sẽ không gọi “mày tao” nữa, gọi là em Hí, xưng là chị Bi, để khỏi bị người ta mắng là “mất dạy”. Buổi chiều hôm trước khi ra biển, tôi nhờ bà chủ nhà mua cua về luộc ăn. Đòi ăn cái càng cua, Bi nói: “Đưa cái miệng cua cho Bi” khiến mấy chị em tôi cười. Đêm ra đi, Bi tắm rửa, soi gương, chải tóc, lấy ráy tai, thay quần áo đẹp. Bi chuẩn bị đi thăm ba má kỹ đến thế.

Khi xuống ghe, ghe có mui, Vũ Long bồng Bi ngồi trong cùng. Chúng tôi ngồi ở ngoài. Vì vậy, khi ghe lật, Vũ và Bi kẹt trong mui, không văng ra khỏi ghe như mấy chị em. Mọi người bám vào ghe. Tôi đứng trên lưng ghe, lạy lục, van xin, người ta chui vào ghe cứu các em tôi. Quỳnh, Tân lên được trên lưng ghe, còn tỉnh. Khi lôi được Vũ ra ngoài thì nó bất tỉnh rồi, bụng đã phình lên vì uống nhiều nước. Vì bất tỉnh nên Vũ không giữ được Bi, Bi chết trong tay Vũ.

*********
Người ta vớt mấy chị em chúng tôi đưa lên ghe lớn. Vũ được hút nước, làm hô hấp nhân tạo, cả tiếng đồng hồ sau mới tỉnh lại. Mấy chị em ôm nhau mà khóc sướt mướt, thương Bi quá, và thương thân nữa. Thương Bi nhiều nhất. Vượt biên dễ sợ quá, kinh hoàng quá, ghê gớm quá! Chúng tôi ở trên ghe chờ suốt đêm hôm đó, qua hết ngày hôm sau để người ta tìm xác Bi. Nếu tìm được, tôi sẽ nhờ chủ tàu đem Bi về chôn, chúng tôi tiếp tục đi. Đến Bidong không có Bi biết ăn nói với ba má ra làm sao?! Nếu không tìm được xác Bi, chúng tôi sẽ quay về, cố tìm xác em để chôn em vào đất cho được ấm áp. Tội nghiệp cho đứa em bé nhỏ của tôi, âm thầm chịu đau đớn vì ly tán, vì thương nhớ, âm thầm đi vào cõi chết, không một tiếng khóc đau đớn, không một tiếng than cho số mệnh, không một lời nhỏng nhẻo, một cái chào tay giã từ, nhớ lời Vũ Long nói, Bi chỉ kêu lên mấy tiếng “Ba ơi, má ơi” trước khi nước tràn vào ngập cả mui ghe.

Chiều hôm đó, không tìm được xác Bi, người chủ tàu đem ghe ra đón mấy chị em chúng tôi về. Ngày ra đi vui tươi, hy vọng bao nhiêu thì ngày về buồn bã và đau đớn bấy nhiêu! Năm chi em gái đã thiếu một đứa nhỏ nhất, bé bỏng nhất, dễ thương nhất.

Ba giờ sáng, người chủ ghe đón tàu đò cho chúng tôi về Cà-Mau. Chúng tôi sẽ ở lại đó chờ tìm xác Bi, chôn cất xong, chúng tôi mới về Saigon. Nhà chắc không còn. Chúng tôi khóa nhà đi đã hơn mười ngày. Công an đang “ghim” nhà tôi, thấy vắng, chắc chúng sẽ niêm phong. Nhà không còn, tiền bạc cũng không còn, chúng tôi sống bằng gì bây giờ. Nhưng vì thương em, thế nào chúng tôi cũng phải về.

Người ta bọc xác Bi trong một cái áo mưa nylon, đóng vội cái quan tài bằng sáu miếng ván thuyền, chôn ở một khu rừng nào đó, tại một cửa sông nào đó... Bi nhỏ bé của tôi, Bi dễ thương của tôi, Bi “sinh sau đẻ muộn”, Bi đến muộn màng trong gia đình mấy chị em chúng tôi, Bi ra đi vội vàng trong gia đình mấy chị em chúng tôi, và rồi Bi đã nằm lại đó, ở một cửa sông, giữa một khu rừng đước hoang dại, cô đơn, lẻ loi, lạnh lẽo. Ôi, Bi yêu dấu; tội nghiệp cho Bi của tôi biết bao nhiêu!

Sáu tháng sau, tôi nhắn người chủ tàu lên, đưa tôi về bốc mộ cho em. Ngày đi, có Vũ Long đi theo, phòng khi tôi bị ngất xỉu vì đau đớn. Tôi về ở lại nhà người chủ tàu. Bốn giờ sáng, tôi, Vũ Long, người chủ tàu và hai người làm công chèo thuyền ra cửa sông. Tôi ngồi trên ghe, nghĩ đến đứa em bé nhỏ tội nghiệp mà nước mắt cứ tuôn ra ròng ròng. Tôi thấy Vũ Long cũng lau nước mắt. Hai chị em âm thầm khóc. Gần tới cửa sông, ghe rẻ vào một con rạch. Đi càng xa, rạch càng nhỏ dần, hai bên là rừng hoang. Sợ công an, người ta đã đưa em tôi vào đây, chôn giấu một cách lén lút, vội vàng. Ngôi mộ được đánh dấu bằng hai cọc cây: Một cao đằng đầu, một thấp đằng chân. Đầu em tôi quay về hướng nam, hướng đảo Bidong, nơi ba má tôi đang sống trong trại tỵ nạn. Không biết vô tình hay cố ý, người ta đã chôn em tôi hướng về phía ba má tôi. Đất mềm và ướt, chỉ cuốc một chốc, tiếng cuốc đụng nhẹ vào nắp hòm một tiếng cộp nhẹ, tiếng dội nhẹ đập thẳng vào tim tôi. Tôi kêu lên hai tiếng “Bi ơi” và khóc nức nở. Vũ cũng khóc. Tôi cố chồm tới để cố nhìn vào quan tài nhưng người chủ ghe giữ tôi lại, bảo tôi khóc nhỏ, sợ công an, du kích nghe thấy, tìm tới thì bị bắt cả đám. Một lúc sau, quan tài được đưa lên mặt đất, ván còn nguyên, chưa mục. Tôi lại nhoài người tới để xem em tôi nằm trong hòm nhưng người ta lại không cho. Tôi ngoan ngoãn ngồi yên. Tôi nghĩ tới nỗi đau đớn khi nắp hòm cạy ra và Bi nằm yên lặng trong đó. Tôi nhắm mắt và cố nghĩ tới ba má. Nghĩ tới ba má sẽ vơi đi những nỗi khổ đau...



*********
Ba má ơi! Nếu con đưa được em về thì coi như con đã làm tròn phần nào bổn phận đối với ba má. Con tưởng là con đem em đi cho ba má được gặp em, cho ba má đỡ nhớ, đỡ thương, cho ba má được gần gũi đứa con “ănsau chạy dọi” bé nhỏ tội nghiệp mà ba má thương lắm, cho hai chị em sinh sau muộn màng được gặp nhau, được ăn uống vui đùa cùng nhau. Ngờ đâu hôm nay con lại đưa em về, cũng lén lút như khi đưa em đi. Người ta đang sắp những lóng xương, đốt xương nhỏ bé tội nghiệp của Bi vào cái rương thiếc con đã mua sẵn. Khuôn mặt dễ thương ấy, bàn tay bàn chân nhỏ nhắn ấy, giờ đây chỉ còn lại những cái xương vô tình, còn đâu da dẻ hồng hào trắng muốt của em.

Ba má kính yêu,

Hí phiêu bạt của chị Hà,

Con đã lén lút đưa em về, và lại một lần nữa lén lút đem chôn em bên mộ bà nội. Con đã khấn trước mộ: “Nội ơi! Bây giờ ba má đi xa mà em thì côi cút. Con đưa em về ở với nội, gởi cho nội gần gũi hôm sớm để nội chăm sóc cho em, để em vui đùa với nội. Tối tối, nội sẽ hiện lên ngồi trên mộ, em sẽ bắt chí cho nội như mẹ con Cúc Hoa ngày xưa. Đến khi gà gáy sáng, em và nội sẽ về lại cõi âm. Có lẽ em sẽ hỏi bao giờ thì ba má về thăm nội, thăm em. Nội cứ liệu mà trả lời cho em khỏi buồn!”

Sau khi chúng con về, nhà đã bị tịch thu nên chị em chúng con không về nhà cũ nữa. Nhà không còn mà chị em cũng không muốn trở về lại căn nhà dấu yêu và quá nhiều kỷ niệm ấy! Để sống, chúng con phải chạy trốn kỷ niệm. Ba má tha lỗi cho chúng con.

Tết vừa qua, chỉ có bốn chị em chúng con ở với nhau, nhớ ba má, nhớ Hí, nhớ Bảo, nhớ Diễm vô cùng. Nhiều đêm bốn chị em nằm ôm nhau mà khóc. Con khóc ít nhất vì con là chị cả, nhưng con cũng ngủ sau cùng khi các em khóc nhiều, mệt và ngủ thiếp đi, cũng vì con là chị cả.

*********
Một năm sau ngày ba má đi, nhiều sóng gió quá mà chị em chúng con thì cô quạnh quá. Ba bị ở tù Cọng Sản 7 năm, vắng ba còn có má. Bây giờ thì vắng cả ba lẫn má.

Một năm qua, một năm kinh hoàng, đau khổ và cô đơn. Kinh hoàng, con không sợ vì chị em chúng con sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong chiến tranh, đã quá quen với bao nỗi kinh hoàng. Kinh hoàng vì năm ngàn người bị giết ở Huế hồi tết Mậu Thân, lúc gia đình mình còn ở ngoài ấy, con mới 5 tuổi; kinh hoàng vì ngày 30 tháng Tư, con mới mười ba tuổi. Đau khổ, con cũng không sợ, vì con chấp nhận triết lý Phật giáo, “Đời là bể khổ”, nhưng chị em chúng con rất sợ cô đơn. Xa ba má, chúng con rất cô đơn. Tất cả chị em chúng con đều sợ cô đơn. Ba má nhớ thư Diễm viết về khi nó ở Bidong năm 1984 không: “Tối qua, lúc ba giờ, giật mình thức dậy, cảm thấy bơ vơ và nhận thấy một cách rõ rệt và đau đớn rằng giờ ba má đã xa rồi, các em đã xa lắm rồi. Mai đây và dài lâu nữa, con một mình sống cuộc đời của kẻ tha hương, biết bao giờ con mới gặp lại ba má và các em... “

Giờ thì “ba má đã xa lắm rồi!”, đang lạc loài nơi đất khách, lưu đày nơi xứ lạ, sống đời vong quốc. Bốn chị em chúng con ở đây, ngay trên quê hương mình, cũng đang chịu kiếp lưu đày. Lưu đày ngay chính trên quê hương mình, đó là câu của Saint Exupery mà ba thường nói khi còn ở nhà. Bây giờ mấy chị em sống côi cút với nhau lại càng thấm thía lời ba nói, đau xót cho ai bị lưu đày ngay chính trên quê hương mình.

Hôn ba má và Hí ngàn vạn cái.

Hà Long
(Bidong, năm 1990, tuệ chương viết lại theo thư của con)

DƯ THỊ DIỄM BUỒN * CON BA ĐỒNG THÁP



CON BA ĐỒNG THÁP
DTDB

Cái lạnh của mùa xuân ở miền Nam nước Mỹ không đến nỗi nào, chỉ cần mặc áo dầy hơn ngày thường và khoác lên chiếc áo nỉ là được rồi. Không phải trùm đầu chừa mũi để thở và hai mắt để nhìn như ở các miền Bắc Mỹ, miền Trung Tây Hoa Kỳ: Chicago, Michigan, Minnesota…


Dưới bầu trời bao la tối đen như nhuộm mực, trên cao có chi chít những vì sao. Mới nhìn thì tối thui, nhưng định thần nhìn kỹ một hồi thì trên nền trời đen nhấp nánh hằng hà sa số vạn ngàn vì sao CON BA ĐỒNG THÁP (dư Thị Diểm Buôn].

Nhà tôi trở nên yên lặng, sau bữa cơm chiều vì thức quá nửa đêm trừ tịch. Cả nhà ai cũng thấm mệt nên vào ngủ hết sau khi cúng Giao Thừa.


Tôi vẫn không sao ngủ và quên được những gì trên quê hương nơi tôi sanh ra và lớn… Biết bao nhiêu thăng trầm dâu bể của dòng đời, và phế hưng của đất nước dấu yêu! Kể từ sau ngày Cộng sản chiếm miền Nam, gia đình tôi không còn chuẩn bị mừng xuân, đón Tết, ăn Tết Nguyên Đán nữa.

Vui sao được khi gia vong quốc biến: Cha tôi chết, chồng tôi chết trong tù cải tạo, nhà cửa giặc cướp, anh em ly tán mỗi người một nơi! Cho dù chúng tôi có muốn cúng quải vào ngày giỗ, Tết như xưa cũng không đủ điều kiện để sắm sửa những món ăn, bánh trái đặc biệt trong những ngày giỗ, ba ngày Tết...

Chiều Ba Mươi nhìn khói hương lởn vởn trên bàn thờ có bình hoa, tách nước, gói thèo lèo thay mọi quà lễ khác để cúng rước ông bà về ăn Tết mà nghe lòng buồn vời vợi, và tẻ lạnh vô cùng! Chúng tôi luôn cầu nguyện Ơn Trên hộ độ cho gia đình được thoát khỏi đất nước thương đau, khốn khổ trùng trùng! Nhưng đã cùn đường! Bởi tôi không có lấy một tia mỏng manh nào để hy vọng vượt thoát khỏi đất nước Cộng sản đang cai trị nầy!

Ba má tôi sanh trước sau năm người con, kể tôi là đứa con út, nhưng giờ ông bà chỉ còn lại còn bốn đứa. Anh cả tôi ra đời có mấy hôm thì chết, nên giờ anh em chúng tôi chỉ có: anh Ba Hiếu, anh Tư Hiền, chị Năm Hạnh, Hương đứa con chót bẹt đích thị chính là tôi đây!


Dù đứa con đầu ra đời không bao lâu đã không tồn tại trên thế gian, nhưng dấu ấn đau thương vẫn còn khắc ghi trong lòng mẹ, nên mỗi lần nhắc đến đứa con vắn số đó, má tôi đều rướm nước mắt xót đau “con cá sẩy là con cá lớn” Mặc dù tính đến nay thời gian cũng khá dài, đã qua mấy mươi năm rồi. Má tôi vẫn thường nhắc kỷ niệm xưa về mấy đứa con của bà.
Lúc giặc chưa tràn vào miền Nam. Mỗi khi gia đình đủ mặt trong bữa giỗ, Tết nhứt, hoặc những bữa ăn bất ngờ mẹ nấu đãi con, cháu, rể, dâu… thì má tôi có nhiều đề tài để nhắc, để kể cho con cháu nghe...


Tôi vẫn còn nhớ rất rõ, hôm đám giỗ bà nội trong lúc ăn uống, anh Tiến chồng chị Hạnh mặt mày sáng rỡ, cười tích toác như vừa trúng số không bằng, anh vui vẻ bảo với mọi người:
- Năm tới khi họp mặt gia đình, nhà mình phải có thêm một chỗ ngồi nữa đó ba má và quý vị…


Má tôi chưng hửng ngạc nhiên nhìn ba rồi nhìn các con như thầm hỏi? Còn anh Tư và chị dâu tôi thì đổ dồn nhìn đứa em gái chưa chồng nầy? Tôi nhột nhạt lớn tiếng:
- Tại sao ai cũng nhìn em hết vậy? Nè anh Tiến muốn thố lộ “tầm tinh” (tâm tình), hay nói gì thì nói hết ra một lượt đi, đừng để mọi người đoán mò nghĩ bậy tưởng em sắp sửa lấy chồng, và nhìn em như vậy thì mích lòng lắm đó nghe…


Bây giờ thì những cặp mắt dò hỏi, thắc mắc đổ dồn về chồng chị Hạnh… Còn cái bà Hạnh chị tôi không qua mặt được đứa em út nầy đâu. Bởi hàng ngày chị ta lanh chanh tía lia cái miệng, cái mặt luôn vắt hất nhìn trời hiu quanh bằng hột tiêu thấy mắc ghét.


Đó là chị Năm Hạnh tôi, bà nầy thường “kênh xì bo” nhưng cũng phải, và cũng xứng đáng lắm! Vì chồng chị con nhà đàng hoàng giàu có, đẹp giai, học giỏi ra trường đang làm Đốc sự ngoài quận ba. Chị tôi là dược sĩ, cưới nhau không lâu bên chồng mở cho nhà thuốc tây ở chợ Bà Chiểu.
Hôm nay trên mâm cơm nghe chồng nói! Bà ta bỗng dưng tẽn tò ngó xuống cười mỉm chi, e thẹn như các cô gái mới về nhà chồng! Chị làm vẻ mặt mày lơ mơ, nhỏ nhẹ dịu dàng như con mèo đang nũng nịu với chủ thấy mà ứa gan, mà mắc ghét quá chừng!


Anh rể tôi âu yếm nhìn vợ vui vẻ bảo:
- Thưa ba má, các anh chị, và dì út Hương năm tới sẽ có cháu bồng vì em Hạnh đã có thai…
Cả nhà vỗ tay lốp bốp, đúng là một tin mừng, vì nhà chồng chị đây là đứa cháu nội đầu tiên, và bên ba má tôi cũng là đứa cháu ngoại đầu.
Anh chị cưới nhau hai năm rồi, ai cũng chờ mong có cháu… cho mãi đến nay mới có tin vui thì cả nhà không vui mừng sao được nè!


Bữa giỗ đã có nhiều món ăn má tôi nấu ngon, nhưng tin chị Hạnh có bầu, trong gia đình ai cũng vui vẻ nên cảm thấy càng ngon miệng hơn…
Tôi thấy trên bàn có nhiều món ăn, nào là: Sườn non xào chua ngọt với cà tô-mách, dưa leo, cần tàu, hành củ xắt miếng lớn trộn giấm đường. Trên dĩa chim bồ câu ra-ràng rô-ti ngũ vị hương nước dừa. Ngó sen trộn gỏi với tôm càng xanh nướng xé tơi, thịt ba chỉ xắt mỏng ăn kèm với bánh phồng tôm Sa Giang chiên giòn.


Chị Ba vợ anh Hiếu mới học nấu nồi cơm nị (kiểu Ấn Độ) và ca-ri bò. Còn món giò heo hầm với măng của má tôi thì tuyệt đỉnh anh hùng rồi… Nhưng món bắt mắt, ngon miệng nhứt để cha con chúng tôi ăn sạch nồi sạch ơ, phải nói là món cá cơm chiên giòn, ăn kèm rau càng cua xanh dờn, non nhẫn bóp xổi với chanh, muối, đường trộn thêm tiêu cà và muỗng dầu ăn.
Trong những món ăn thượng hảo hạng hôm nay, xen vào món cá cơm chiên giòn với rau càng cua là món bình dân của Nam Kỳ Lục Tỉnh thiệt là trật chìa. Tôi thấy cần phải có lý do chớ, vì thế bèn lên tiếng hỏi mẹ mình:


- Má à, con lấy làm lạ, giỗ nội má cho nấu toàn là những món ăn thượng đẳng, ăn ngon quá chừng chừng, ăn không hết, sao lại lọt món cá cơm chiên dòn ăn kèm với rau càng cua vậy má?
Ba tôi là cột trụ của gia đình, lệnh ông với con cái như núi, đứa nào cũng nghe và làm theo răm rắp. Ba cũng luôn được má chiều chuộng như ông vua không bằng! Bởi ba tôi con của gia đình phú hộ ở miệt Cần Giờ, còn rất trẻ ra thành thị đi học đỗ đạt và đi làm cho cơ sở thương mại của Tây. Khi Tây rút về nước có ý mời ba tôi theo, nhưng ông không bằng lòng vì ba là con một của ông bà nội. Tài sản ruộng nương của ông bà để lại, ba tôi ở không cả đời tiêu xài cũng không hết... Sau đó ba tôi qua làm cho Chánh phủ ở một Bộ nọ, rồi nghe lời ông bà nội cưới má tôi là con gái lớn của ông Cả cũng thuộc hàng giàu có, tiếng tăm ở làng thôn.


Ba tôi ngồi giữa, vui vẻ cười khì khì rạng rỡ cái miệng, chiếu sáng đôi mắt, trên gương mặt người đàn ông trung niên trầm tĩnh, hả hê, niềm hạnh phúc gia đình bên vợ và sự thành công của các con.
Anh Tư Hiền tôi là giáo sư Đệ nhị cấp, ra trường không bao lâu thì cưới cô học sinh Đệ nhứt thi rớt tú tài đôi, vì lỡ yêu nhầm ông anh nhát gái và dại khờ của tôi!
Ba gắp miếng cá cơm để vào miệng nhai rào rạo. Ông vui vẻ bởi tin chị Hạnh có thai, và má nấu ăn hợp khẩu vị ba nhứt.


Ông ôn tồn nhìn cô con gái út trả lời thế vợ:
- Nhiều món ăn ngon trong ngày cúng giỗ nội nhưng lúc nào má con cũng làm món cá cơm chiên giòn, vì lúc sanh thời bà thường bảo: “Khi tao chết, ngày cúng giỗ đừng nấu nướng chi cho mệt. Chỉ mua cá cơm về chiên giòn ăn với càng cua, hay bông súng bóp xổi được rồi…” Theo lời bà dặn, nên má con năm nào cúng giỗ bà cũng làm món cá cơm…
Hoàng Yến chị dâu thứ tư, vợ của anh Hiền nịnh bợ:
- Con biết, tại má thương ba và hiếu thảo với bà. Cá cơm rẻ tiền, dở nhưng qua tay khéo léo của má, thì cá dở, cá không ngon cũng thành món ngon hợp khẩu vị với tất cả mọi người …


Ối giời ơi! Bà nầy dân Bắc Kỳ năm mươi tư di cư, miệng lưỡi ngọt ngào đến đỗi bả nói kiến trong lỗ cũng bò ra… Đúng thế, bà chị dâu vợ anh Hiền khôn ngoan nên được lòng cha mẹ chồng và anh em họ nhà chồng… Nhưng chị cũng ớn cái miệng cô út nầy lắm! Bởi con bé hay chọc ghẹo bả, cho nên luôn được bả rộng rãi trám họng bằng nhiều quà cáp trong ngày sinh nhựt, Giáng sinh, Tết Nguyên Đán… thỉnh thoảng còn dúi vào tay cho mấy chục ăn bánh nữa! Nhưng tôi thiệt là đứa không biết ơn, luôn “kê tủ đứng” chị, ấy vậy mà chị chỉ cười trừ chớ không nhỏ mọn, giận, ghét, cô em chồng út được cưng nhứt gia đình nầy.


Chị vừa dứt lời bằng cái cười hài lòng của má, còn ba gật gù tỏ ý đồng quan điểm với con dâu. Coi kìa, anh Tư tôi đang cười híp mắt, phình hai cánh mũi thầm khen vợ mình hiểu và biết làm vui lòng người…
Cha chả, thiệt là cái anh nhát gái nhưng lại “thờ bà hết chỗ chê” khiến tui nhịn không được liền chẩu mỏ nói mát:


- Mèn ơi, trong gia đình mình, em có hai bà chị dâu, nhưng chị Tư là số một, có cái miệng lúc nào cũng “ngọt như đường cát, mát như đường phèn” hết á! Nầy chị Hoàng Yến, má muốn mọi bữa cơm có món ngon như hôm nay, vậy chị thử có hiếu với má ngày nào cũng nấu cho má ăn như vậy đi, chớ khi chết rồi đâu có ăn được… Theo em còn sống lễ nghĩa hiếu thảo mới thực tế, chết rồi thì hết… có ai mà biết “chi, mô, răng, rứa…”
Tôi cười ngất ngất khi trở giọng điệu nói tiếng Huế dở ẹt, trật lất của mình. Còn chị dâu tôi như bị mắc nghẹn bởi cô em chồng tấn công!


Má tôi liền đỡ lời giải vây cho con dâu, bà liếc xéo tôi rồi bảo:
- Ăn đi, cứ hay nói ngang, nói bướng… hiếu thảo cần gì lộ liễu như con bày sao? Bộ muốn ăn ngon rồi xúi chị Yến nấu chớ gì? Cử chỉ, lời ăn tiếng nói lễ phép kính trọng là đủ, con hãy cố gắng sau nầy có một tấm chồng hiền lành biết thương gia đình là được. Má có phước trời cho hai con dâu, Hoàng Yến vợ thằng Tư thì bặt thiệp giỏi về buôn bán, có cái miệng ai nghe thấy cũng thương cũng mến… Ăn nên làm ra có nhà cửa xe cộ đề huề, chớ cái nghề dạy học của anh bây có sướng, nhàn hạ nhưng lương ba cọc ba đồng thôi… Không nhờ con Yến thì gia đình nó làm sao sung túc như bây giờ … Nè ông thấy tui nói có đúng không vậy ông?


Ba tôi gật gù bảo đồng tình với con dâu. Má tôi dừng lại uống nước, dĩ nhiên là chúng tôi ai mà không biết anh Tư giàu nhứt rồi. Vì ba má chị Yến là thầu xe hơi và xe gắn máy, như Vespa, vélo-solex, Honda…. Sau khi cưới với anh tôi, ba má chị cho hẳn anh chị cái tiệm bán xe Honda ở ngã ba Ông Tạ. Vì chị có hai anh em, ông anh du học ở Đức, ra trường không chịu về, sang Pháp làm việc và đã cưới vợ đầm. Chị ủm của gọn hơ trọn gói, thiệt cái anh Tư Hiền của tôi “lù đù có ông Cù độ mạng” là người sanh bọc điều cho nên anh đúng là chuột sa hũ nếp của vợ!


Trong nhà còn có anh chị Ba Hiếu của chúng tôi nữa chớ. Mà má không nể nang chút nào, thường gọi trước mặt vợ anh là “Con Đồng Tháp” Hoặc là “Con Ba Đồng Tháp”. Còn bọn em chồng và họ hàng nhà chồng cũng hùa với má gọi là chị Ba Đồng Tháp, thím Ba Đồng Tháp, em Ba Đồmg Tháp… Có người gọi thẳng, cũng có người gọi lén lúc nào không có chị Hiếu ở đâu đó gần họ.
Nhớ lúc đầu mới biết chị Thu Hồng quen với anh Ba, má tôi giận con tức lây đến chị, nên gọi chị là con “Ba Đồng Tháp” cho bõ ghét! Vì trong lòng má tôi chị Thu Hồng không xứng đáng làm vợ con trai đích tôn và làm con dâu nhà bà. Chỉ có vậy thôi, tội nghiệp anh Ba tôi lúc đó cũng thất điên bát đảo vì phản ứng của gia đình nhứt là má tôi và đám em chồng sanh ra lớn lên ở thành thị, được nuông chiều và hay quậy phá… Nhưng thật ra anh chị em chúng tôi thương nhau và ngầm giúp đỡ cho nhau…


Số là bên nội cũng như bên ngoại của chúng tôi ít con cháu, bởi “đặng hào của” chớ “không đặng hào con” nên khi ba má tôi cưới nhau rồi, thì hai bên đợi mong cháu bồng dài cả cổ. Nội ngoại tôi ngày lành tháng tốt không đi chùa miễu được, thì ở nhà cũng nhang đăng, trà, quả tươm tất cúng lạy cầu nguyện cho má tôi sớm có con, mà còn tham lam đòi Ơn Trên phải cho bà sanh con trai nữa kia!


Ông Trời có đức háo sanh và “Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân” Nửa năm sau má tôi mang thai. Ngoại lật đật đem bà Bảy Mận xồn xồn, chồng chết không con ở xóm trong, kiếm sống bằng nghề làm mướn việc rẫy nương, hoặc ai gọi bơi xuồng chèo ghe, nuôi bịnh gì bà cũng làm…
Khi nghe ngoại nhờ giúp, bà Bảy vui vẻ mừng lắm bảo với ngoại tôi:
- Cảm ơn bác Cả cho cháu đi làm giúp cô Hai. Thưa bác, có ăn có chỗ ở đủ rồi, lương tháng bao nhiêu cũng được, cháu không họ hàng con cái cũng không có, nên không cần phải nhiều tiền để tiêu xài…

Ngoại tôi có vẻ hài lòng về cách ăn nói lễ phép, và thiệt tình của bà Bảy Mận. Ngoại cười bảo:
- Bây nói vậy chớ, ít nhiều gì cũng có để mua sắm … Bây cứ siêng năng chăm sóc cô Hai tốt thì vợ chồng nó không bạc đãi bây đâu… Nếu thiếu thốn cần gì trước khi đi thì cho tao biết. Sáng sớm mai bơi xuồng đưa tao ra lộ đá, xuống chợ quận mua ít đồ khô về đám giỗ… Bây cũng đi theo, tao sẽ mua vải may cho hai bộ đồ mới, chiều về lại chị Sáu Cứ thợ may trong xóm đo may xong, tiền công tao sẽ trả cho. Áo quần của bây cái nào cũ quá thì bỏ hoặc cho người ta đi, đừng có tiếc mà đem theo lủ khủ lên đó sẽ không mặc…
Nội, ngoại tôi thi nhau tễ thuốc (thuốc tễ viên tròn bằng ngón cái, gồm có các vị thuốc và mật ong) ngoài ra còn hốt thêm thuốc nam, thuốc Bắc an thai, bổ dưỡng cho má tôi uống để mẹ tươi tốt, thằng bé ra đời sẽ thông minh… Hai bà nườm nượp đem thuốc cho con, cho dâu chứa ở nhà bếp như tiệm thuốc Bắc. Chắc lúc đó má tôi uống thuốc cũng đủ no, khỏi cần phải ăn cơm! Đến ngày nở nhụy khai hoa, má tôi đã sanh được quý tử, làm đẹp lòng chồng và đem niềm vui lớn và không phụ lòng cha mẹ hai bên. Nhưng không bao lâu thì đứa bé qua đời! Còn nỗi đau khổ thảm sầu nào hơn cho kẻ làm cha mẹ, và nội ngoại hai bên mất con, mất cháu...


Đau buồn mất con, mất cháu của đại gia đình rồi cũng nguôi ngoai theo thời gian năm tháng. Vào mùa thu năm sau má tôi mang thai đứa con thứ hai. Lần nầy hai bà nội ngoại chăm sóc hết sức kỹ lưỡng gấp bội lần mang thai đầu lòng… Ngoài thuốc thang, hai bà còn xin bùa, niệt ở các miễu, các am nghe đồn có thầy bà cốt đồng giỏi, ngừa bịnh hay, tâm linh thần thông quảng đại, biết cả quá khứ vị lai… Thế là trước sau gì hai bà cũng tìm tới với quà lễ hậu hĩ, và được đồng bóng đáp lại nào nước thánh, bùa lỗ ban vẽ lăng quăng trên giấy hồng đơn đỏ, mực tàu đen…


Anh Ba Hiếu tôi khóc tiếng chào đời, và má nằm cữ ở nhà thương sanh mười ngày có hai bà nội ngoại túc trực chăm sóc. Khi nhờ thầy coi được giờ lành, ngày tốt… thì ngoại bao xe đưa má tôi về thẳng dưới nhà để hai bà tự tay chăm sóc! Anh Ba lớn dần trong sự nuông chiều yêu thương hết mức của gia đình. Anh là tâm can bửu bối của ba má và nội ngoại chúng tôi đó. Cứ mỗi lần trở gió, trái trời hay sắp lật, dợm ngồi, bò… bị nóng một chút là cả nhà lính quýnh, lăng xăng… Ẵm đi trị thuốc tây, thuốc ta tưới hột sen… Thiệt “nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột” là đây!


Anh Ba Hiếu tôi giống ba ở tướng tá cao ráo, nước da trắng, mặt mày sáng sủa. Anh tôi hiền lành ăn nói nhỏ nhẹ dễ thương, nhưng đầu óc ảnh tối hù (các anh chị tôi lén nói như vậy!) bởi anh thi hai lần mới được vào Đệ thất Trung học trường công. Đến khi thi lấy bằng trung học Đệ nhất cấp bốn lần ạch đụi lắm mới đậu thứ. Tú Tài một liền tù tì ba năm (6 lần) trợt vỏ chuối. Rồi tới tuổi, anh phải nhập ngũ tùng chinh đi Hạ Sĩ quan…
Đó cũng là nỗi buồn của ba má tôi, nhứt là má hay so sánh với con bà nầy cùng tuổi anh kẻ sĩ quan Đà Lạt, con bà kia Sĩ quan Hải quân, ra trường sĩ quan Thủ Đức…
Má tôi càng bực tức càm ràm anh Ba tôi nhiều hơn. Bỏi khi nghe con bà Hai bán bánh bò xóm trong nghèo rớt mồng tơi cũng thi đậu tú tài đôi, đậu luôn vào trường sĩ quan Không quân, rồi được đi thụ huấn ở Mỹ!


Má tôi ở thành thị, con cái học hành đã tiến bộ nhiều nhưng vẫn còn thiển cận quá đi! Bà luôn có ý nghĩ: “Con vua thì nối dòng vua/ Con sãi ở chùa thì quét lá da” Nồi ơi, bộ con nhà nghèo không được quyền học giỏi, thi đậu và làm quan cao chức trọng sao? Nhưng không trách má kính yêu của chúng tôi được! Vì đó là nỗi lòng của người mẹ, bởi lúc nào mẹ cũng muốn con mình cái gì cũng tốt, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng hơn thiên hạ!
Anh Ba Hiếu tôi ra trường Hạ sĩ quan, về làm Truyền tin ở Mỹ Tho và anh gặp chị Thu Hồng nhân viên làm ở Ty Điền Địa cũng Mỹ Tho, và hai người họ đi đến kết tóc se tơ sau nầy!


Lúc đó, thấy anh Ba đã đến tuổi lập gia đình, nội, ngoại tôi tìm các cô giới thiệu cho anh nhưng cũng khó khăn lắm, vì thuở đó các cô có bằng Trung học trở lên thì ngó cao lắm! Mặc dù gia cảnh anh tốt, anh tốt nhiều thứ tốt… nhưng cũng chưa đủ tốt với những đối tượng má tôi đôn đáo tìm kiếm cho anh và sẽ là dâu bà như y tá, giáo viên… những cô có nghề nghiệp bậc trung. Nhưng tội nghiệp, chẳng cô nào thèm anh Ba Hiếu hiền lành hiếu thảo của tui. Bởi các cô luôn mang ý nghĩ: “Thà rằng chết ở rừng mai/ Còn hơn chết ở trên tay cánh gà” hay “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/ Còn hơn là le lói suốt năm canh”.


Năm đó tôi học lớp Đệ tứ, cuối năm trung học Đệ nhất cấp, anh Ba về thăm nhà vào ngày lễ Quân Lực 19 tháng 6. Anh tốt lắm lần nầy rủ em đi xem hát, sau đó đi ăn và còn dúi tiền vào tay cho nữa? Tôi là con bé nổi tiếng trong gia đình nhạy bén và đa nghi hơn Tào Tháo! Lấy làm lạ, thừa lúc nhà không có ai, tôi khều hỏi nhỏ anh mình:
- Nè ông anh thân mến của tui ơi, muốn gì thì cứ nói con nhỏ nầy sẽ giúp cho, đừng để trong bụng ấm ách đó. Nói đi anh Ba, em biết anh có chuyện mà, em nghe đây anh cứ nói đi…


Ông anh tôi vẫn bình tâm như vại, cười khì khì chớ không chịu nói. Tôi bèn trở giọng cải lương sang Hồ quảng… Ra bộ cười cười liếc liếc rồi ẹo mình, múa tay: “Như ta đây mùa lạnh lấy chồng, mùa đông cưới vợ… Ải ải cà lùng tùng xèng, xèng… cắt, cắt…”
Không nhịn được hai anh em tôi cười ngất ngất. Anh Tư đang bưng tách trà uống, chợt cười văng nước tùm lum. Tui thì cười đến ngã gập người xuống, tóc bị sút ra khỏi kẹp thiệt giống y như mụ điên! Còn hụt hẫng trong tiếng cười tôi đoán mò:


- À, bộ anh quen với cô nào bị cổ đá đít cho mọc sừng rồi hả anh Ba? Đừng lo có con em vừa chằng vừa cà chớn nầy sẽ đi xin cổ tí huyết, bởi cái tội dám bỏ anh Ba con nhà giàu đẹp trai, hiền lành của em… Vậy hãy nói cổ ở đâu đi, cứ nói đi anh Ba…
Anh Ba tôi cười mỉm chi cọp trông thật có duyên, và đôi gò má anh lại ửng hồng nữa kia. Anh mấp máy đôi môi rồi thật thà tâm tình:


- Ở Mỹ Tho anh có quen với cô Thu Hồng lớn hơn em bốn tuổi. Cô hiền lành, dễ thương, bình dân và không ngó cao như mấy cô gái khác. Gia đình cô tốt, là con út trong có ba người anh. Ba má cô có nhiều ruộng và đang sinh sống ở vùng Đồng Tháp Mười. Lúc nhỏ cô ở nhà ông cậu đi học ở Trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, và là cháu ruột của đương kim Phó Ty Điền Địa. Ba má cô không muốn cho con gái học cao, nhưng muốn cô có nếp sống ở thị thành chớ không muốn con lam lũ chân lấm tay bùn ở ruộng đồng như mấy anh, nên mới cho cổ đi học ở thị thành và đi làm…


Tôi lắng nghe và mỉm cười nhìn anh:
- Vậy là cô ta đã lọt vào giếng mắt đen thui như mực Tàu của anh rồi phải không? Anh đã đêm không ăn, ngày không ngủ thao thao, thức thức, nhớ nhớ, thương hình bóng cô ta chớ gì nữa? Nhưng mà cô ta có đáp lại tình anh không cái đã? Chớ yêu đơn phương thì mệt lắm anh Ba ơi…
Anh tôi chưng hửng, chớp mắt rồi lanh miệng:


- Sao em rành chuyện tình yêu nam nữ quá vậy? Bộ em yêu ai rồi hả…? Không được, còn nhỏ phải cố gắng học hành xong rồi mới tính. Đừng như anh rớt lên, rớt xuống ba má sẽ buồn…
Tôi nhăn mặt:
- Thôi lo chuyện của anh đi, đừng có nói hay để ý đến em. Bởi em xem phim và đọc tiểu thuyết biết chớ yêu quỉ quái gì đâu…


Anh Ba tôi tươi nét mặt, tiếp:
- Dĩ nhiên là cô ta cũng thương anh lắm chớ… Anh định sẽ cưới cô ta mà chưa dám nói với ba má… Để qua lễ anh đi rồi thì em nói với má và dò coi má nghĩ sao dùm anh nghe Hương…
- Vậy thì anh phải trả công sức cho con nhỏ nầy mới phải chớ. Vì em sẽ phải dùng miệng lưỡi Tô Tần khuyến dụ má chịu cưới cô ta cho anh!


- Ờ được được, cái gì anh cũng chịu, em muốn gì thì cứ nói đi…
- Vậy thì mua cho em mấy cuốn tiểu thuyết của Quỳnh Dao, sửa chiếc xe Velo dùm em khi chạy nổ lớn quá hình như có kẹt gì trong máy… Mỗi tháng cho em them tiền ăn quà đến khi nào cưới vợ thì thôi…
Anh Ba tôi cười ngất:
- Con nhỏ tham lam quá, có tháng nào anh không cho tiền quà em đâu… Tiền ăn hàng bánh mỗi tháng lớp ba má, anh, chị… cho anh nghĩ em keo kiết không dám xài, cứ để dành nay chắc chất thành núi rồi…


Tôi cười hì hì nheo mắt:
- Anh nghĩ xem, trên thế gian nầy có ai chê tiền, hoặc nói mình có đủ tiền đâu anh Ba của em…
Trong bữa cơm chiều hôm đó của gia đình có cả vợ chồng anh Tư Hiền, vợ chồng chị Hạnh sau giờ làm việc họ ghé qua ăn ké, vì biết má tôi nấu nhiều món ngon để tiễn anh Ba. Sáng ngày mai anh đi chuyến xe lô Minh Chánh sớm nhứt trở lại Mỹ Tho tiếp tục cuộc đời nhà binh của mình.


Bữa ăn tàn trong những món ăn ngon, những câu chuyện hào hứng của chị dâu HoàngYến, và chị Hạnh cái bụng đội áo rồi mà cũng nổ như bắp rang, như pháo đêm Giao Thừa. Tôi phụ hai chị dọn thức ăn thừa qua gần chỗ rửa chén, còn ba ông anh kẻ bưng bánh ngọt, nước trà, trái cây bà vú đã bày, cắt sẵn trong hai dĩa…


Tôi nhìn anh Ba Hiếu dò xét. Mặt anh vẫn vô tư lự, hiền lành bưng tách nước trà thổi pho pho cho nguội để uống. Tôi quay sang má nheo mắt gợi ý ngầm bảo “đến thời điểm rồi đó, má phát pháo nổ về anh Ba Hiếu đi…” Má kéo ghế ngồi gần sát ba hơn, điệu đà nhìn thằng con yêu qúy đến giờ nầy vẫn còn phòng không gối chiếc! Trong khi hai em đứa đã có con, đứa đang mang bầu.


Bà mỉm cười, trìu mến nhìn anh Ba, khẽ tằng hắng rồi lên tiếng:
- Má nghe thiên hạ đồn rằng, anh Ba nhà mình có quen và yêu cô gái ở Mỹ Tho xinh lắm phải không? Bàng quan thì biết hết, chỉ có gia đình mình chưa ai biết, thôi thì tiện dịp nhà đông đủ hãy kể rõ đầu đuôi ra sao, để ba má còn bước tới cưới hỏi cho…
Anh Ba tôi đang hớp nước, nghe má phát ngôn giựt mình đánh độp thiếu điều phun nước ra ngoài. Không ai bảo ai, cả nhà từ ba đến tôi đều nhìn chằm chặp anh, đợi đương sự lên tiếng trả lời? Anh ném con mắt không chút thiện cảm nhìn cô em gái út mà anh đã hết lòng hết dạ gởi gắm tâm tình, không ngờ lại bị nó phản bội…


Nhìn anh tôi cười cầu tài, lên tiếng yếu xìu như kẻ phạm tội:
- Anh Ba đã dặn con đừng cho ai trong gia đình biết, đợi chừng nào anh đi rồi mới được nói với má. Nhưng anh Ba à, đây là tin vui mà nhà mình ai cũng mong đợi. Đừng để họ chờ nữa, nên em mới nói với má dùm anh ráo trọi ráo trơn rồi… Thôi thì anh cũng mở lòng cho mọi người biết đi chớ…


Thế là nhà chúng tôi chiều hôm đó mọi người vui như Tết. Kẻ nói nầy, người nói nọ chung quy cũng là nói, đôn đốc, bàn tính chuyện vui sắp tới của anh Ba. Riêng tôi đến ôm vai ông anh hiền lành dễ thương của mình cười tươi như hoa nở mùa xuân, hàm ý xin tha thứ:
- Anh Ba thấy chưa, đừng giận nghe, nhờ em mạnh dạn nói mà chắc là anh sẽ cưới cô ta sớm hơn dự định chậm như con rùa của anh. Vậy thì lần sau đưa cô ta về ra mắt gia đình cho ba má và các em biết mặt…


Anh Ba gỡ tay tôi ra mỉm cười rồi mắng át:
- Con nhỏ nầy không có gì giữ trong bụng lâu được! Đưa về ra mắt cái gì, người ta là con gái quê, đằm thắm nết na, ý tứ chớ có lét chét như em hoặc như cục đá muốn bưng đi đâu thì bưng sao. Người ta là con gái, còn gia đình cha mẹ cô ta nữa… Nhứt là chuyện trọng đại đến người lớn và cuộc đời của người ta…


- Đó, đó ba má nghe đó… chưa chi mà anh Ba đã binh chị ấy rồi… Thiệt là làm ơn mắc oán mà…
Ba tôi uống ngụm trà, cười bảo:
- Em Hương nói đúng đó con, vì ba má, vợ chồng thằng Hiền, vợ chồng con Hạnh cả con Hương nữa cũng muốn con đưa cô ấy về thăm, cho mọi người biết mặt…


- Hương nói đúng đó anh Ba, thời buổi nầy khác xưa như hồi ba má mình rồi. Cưới nhau đến rước dâu về vợ mới biết mặt chồng. Bây giờ tiến bộ, người ta đã lên đến cung trăng, phụ nữ các nước đã nắm nhiều chức vị quan trọng trong Chánh quyền như nam giới rồi. Đất nước ta cũng có trường nữ quân nhân, và học sinh nữ cũng tập bắn súng… “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” nam nữ bình quyền rồi. Bộ chỉ có đàn ông con trai mới đánh giặc cứu nước thôi sao? Phụ nữ cũng được mà…


Lại cũng bà Hoàng Yến tài lanh, nhưng chí lý… Khổ nỗi ba má tui thì không nghĩ như chị đâu nghe, họ vẫn còn tồn cổ lắm! Mọi người trong gia đình hết sức vui vẻ, nói cười rộn rã nhứt là anh Ba tôi là nhân vật chánh, là đầu câu chuyện tối nay. Nhưng tôi thấy má có vẻ trầm ngâm, tư lự không vui vẻ trọn vẹn như mọi người!


Gió nhẹ đùa qua cửa sổ, tấm màn bằng voan mỏng bay lên rồi hạ xuống, bên ngoài bầu trời tối thui, phố xá đã lên đèn. Những cột đá hai bên đường lạnh lùng cao nghều nghệu, mắc những bóng đèn điện tỏa ánh sáng vàng võ. Đám côn trùng (con thiêu thần) nhỏ bay loanh quanh rồi chết lịm trên mặt đường lẫn vào cát bụi.


Bữa tiệc nào rồi cũng tàn, các anh chị tôi vui vẻ ra về, để qua đêm nay mọi người trên thế gian nầy sẽ đón thêm một ngày mới!
Hôm sau, vào chiều chỉ có ba má và tôi dùng cơm. Trên bàn ăn má đem chuyện anh Ba ra kể cho ba tôi nghe lần nữa, có lẽ bà muốn nhắc khéo và hỏi ý kiến xem ông nghĩ sao?
Ba tôi lắng nghe xong chuyện, rồi ung dung bảo:


- Chắc ăn nhứt là bà xuống dưới thăm con, tiện dịp thấy mặt người con mình thương muốn kết hôn. Thằng Hiếu đã có tuổi, bà ngoại, bà nội, và cả bà cũng đã tìm người giới thiệu cho nó nhiều cô rồi, nhưng có xong đâu? Duyên nợ trời ban mà, cứ kén chọn hoài sẽ không đi đến đâu … Thôi thì hôm nào bà xuống thăm nó đi, đừng dự phần tôi. Con nó thương, bà nhận xét thấy được thì được rồi. Tôi biết chung quy là bà cũng chỉ lo tốt cho con. Nhưng thời buổi nầy đã thay đổi, phải mở rộng tấm lòng một chút, đừng khắt khe để cho con mình được vui vẻ hạnh phúc bà à…


Không trả lời ba, quay qua tôi má lên tiếng:
- Vậy cuối tuần nầy con đi với má xuống thăm anh Ba nghe…
Tôi lén nhìn ba như dò ý gấp quá của má… Nhưng ông tỉnh bơ, và cơm vào miệng ăn uống một cách thống khoái.
Tôi khẽ gật đầu:
- Sáng đi sớm chiều về nghe má. Vì tuần tới con bù đầu vì phải học bài thi…


Má tôi cười:
- Ờ, thì sáng đi chiều về chớ ở dưới làm chi! Anh Ba bây ở nhà trọ, ăn cơm tháng thì mẹ con mình có chỗ đâu mà ngủ lại đêm… Vả lại để ba ở nhà một mình sẽ buồn tội nghiệp!
Tôi vỗ tay đôm đốp cười hô hố chọc ghẹo ông bà già:


- Thấy chưa! Xa ba chỉ một ngày mà má bảo sẽ buồn nhớ ba da diết, tha thiết, hết biết… Rồi má khóc hu hu không có sẵn lu để đựng nước mắt nữa đó ba…


Đôi mắt hiền nhìn đứa con gái út hay phá phách của mình, ba tôi cười lắc đầu chớ không nói gì. Còn má cười hạnh phúc, tiện tay quơ cái gối gần đó chọi tôi: “Con nhỏ nầy thiệt là lắm mồm mép…” rồi bỏ lên nhà trên.
Thứ bảy tuần đó, chuyến xe lô Minh Chánh chạy Sài Gòn- Mỹ Tho mới năm giờ sáng, đã có hai hành khách áo lạnh mỏng, ngồi co ro ở băng nhứt rồi. Lác đác cũng có người lên xe, rồi không lâu hành khách đầy chỗ, và chuyến xe sớm nhứt bắt đầu rời bến.


Ra khỏi thành phố thì tôi cảm thấy lạnh hơn, má cũng kéo khăn choàng bằng len, che kín qua đầu hai tai và quấn mấy vòng theo cổ. Thường mỗi lần ra khỏi nhà như đi chùa, thăm bạn bịnh, qua nhà gặp sui gia ăn uống thì má tôi thường mặc áo dài, thậm chí có khi đi chợ.


Hôm nay đi xa xem mắt con dâu tương lai, má tôi ăn mặc tươm tất hơn. Bà mặc chiếc áo dài màu cà-phê sữa nhạt có thêu hoa cúc nhỏ bằng ngón tay cái màu vàng và lá xanh, tóc má bới kiểu Lèo sau ót trên cao. Tôi chưa bao giờ thấy má dùng son phấn, nhưng nước da bà trắng mịn màng nổi bật đôi mắt tròn đen trong kiếng trắng có gọng ngời ánh vàng. Tạo cho bà thêm vẻ thông minh quý phái và không kém phần nghiêm khắc. Đó là phong thái của một phụ nữ trung niên, thuộc gia đình có miếng ăn miếng để thời bấy giờ ở thị thành. Mặc dù ba tôi không phải là người quan cao, chức lớn, nhưng tư cách, lời nói, dáng điệu của má tôi lúc nào cũng khiến cho đối phương vừa nể sợ, vừa quý mến! Nên trước mặt bà, thường không ai dám nói năng bừa bãi như: nói láo, nói trây, nói tiếu, nhiều chuyện… Nhưng không vì thế mà má tôi kênh kiệu, tỏ vẻ khinh khi người thất bại, yếu thế, mà bà lại thông cảm thường giúp đỡ khi họ gặp cơn ương yếu, túng quẫn…


Ngọn gió đồng thổi mát lạnh bởi còn đọng hơi sương. Trên những đám ruộng nối tiếp và chia ra của từng chủ, bởi những bờ mẫu ngắn dài ngoằn ngoèo chạy xa tít tận chân vườn… Xa xa lẫn lộn trong đám ruộng những bảng được dựng cao nghều nghệu quảng cáo của hãng xe lam-bết-ta, xe máy để gắn xuồng đuôi tôm, hãng gạch, giầy Bata, xăng Shell, vỏ xe hơi… Còn có nhà đun cơm sớm khói chờn vờn trên mái lá, mái tranh. Và những nông phu đã rải rác đắp bờ, nhổ cỏ, vô phân trên đồng ruộng…


Xe vẫn chạy vùn vụt, gió tuôn ào ạt vào cửa sổ. Thỉnh thoảng nghe chú lơ tay đánh thùng thùng vào hông xe, miệng gào thét “dô, dô” Khi thì lớn tiếng hỏi hành khách bên lề đường “đi đâu, đi đâu…?” Xe ngừng ai lên xuống mặc ai, khách đường xa có người ngủ gà ngủ gật. Hương thấy có động tác mà hình như mọi hành khách trên xe đều giống nhau, đó là hai tay họ luôn khoanh lại trước ngực như để giữ hơi ấm…


Ở phương đông vầng hồng lên phát chiếu ánh sáng rực rỡ ửng nhiều màu sắc thắm tươi. Xe qua cầu Long An, dòng nước sông Vàm Cỏ lững lờ xuôi chảy, và xuồng ghe qua lại lác đác nhẹ nhàng lướt đi trên sóng.


Các hàng quán bán thức ăn, nước uống hai bên đường bán cho xe đã mở cửa sẵn sàng đón khách ngừng lại ăn, hay mua đem theo... Xe đậu sát mái che chờm ra lộ bằng ni-long sọc lớn xanh trắng màu sắc sặc sỡ… bên trong có người bán lớn tiếng hỏi vọng ra: “Trên xe có ai cần chi, cà-phê, bánh mì, bánh tét, bánh ít còn nóng hổi vừa thổi vừa ăn đây…” Hành khách chồm qua cửa sổ gọi vói, kẻ mua xôi, người mua bánh mì thịt, bánh tét, hay bánh ú treo lủng lẳng trên sào ngang cửa sổ rộng… Hương khoái bánh ít ngọt nhưn đậu trộn nước cốt dừa, mẹ cô cũng biết món cô ưa nhưng bà không lên tiếng nên cô cũng nín khe…


Bỗng bà nhẹ giọng thì thầm đủ cho con nghe:
- Để xuống tới nơi bảo thằng Hiếu mời cô ta ra tiệm ăn sáng, rồi sau đó đến công viên Dân Chủ, hay đi dạo ngoài vườn hoa Lạc Hồng ở bến sông để có chỗ và thời giờ nói chuyện. Chớ không hẹn trước làm sao mà đến nhà người ta, và nghe đâu cổ đang ở chung với cậu mợ thì phải? Việc chưa đến đâu, nên má không muốn làm phiền người ta…
Hương nghĩ, mẹ mình thiệt hết sức tế nhị, hôm nay bà đi coi mắt lén con gái người ta. Chừng nào xong mới bước đến để người lớn nói chuyện quan trọng với nhau.


Mẹ con tôi đến trước nhà trọ anh Hiếu bằng xích lô. Xe vừa thắng trước nhà thì thấy anh ăn mặc tưom tất mở cửa bước ra. Giựt mình thấy mẹ và em gái chưa tới tám giờ sáng, không hẹn trước mà đã đến.
Má tôi cười tươi vui vẻ hỏi quý tử của mình:
- Thấy má xuống thăm bộ không mừng sao, mà con đứng tần ngần, chăm bẳm mà ngó vậy?
Anh Ba tôi qua phút ngạc nhiên, cười tươi bảo:


- Mấy khi má đi thăm con mừng lắm chớ, nhưng cũng bất ngờ và ngạc nhiên vì không có ba cùng đi, mà chỉ có Hương thôi.
Hương sợ anh mình trách về tại sao má xuống bất ngờ, cô phân bua:
- Đừng có tính em vô nghe, con nầy “ngây thơ vô số tội”, và chỉ là kẻ đồng hành bất đắc dĩ đưa đường dẫn lối thôi… Sáng sớm anh sửa soạn đi đâu mà ăn mặc bảnh tẻn quá vậy? Hôm nay má xuống thăm anh và muốn gặp người đẹp chưa cưới là chị Thu Hồng của anh đó…


Anh Ba tôi hơi khựng, nhưng bảo:
- Hương nói có đúng không má, vậy thì má và em vào nhà uống nước… Con sẽ đi đón Thu Hồng, phải má và em đến trể một chút là huốt rồi, vì con hứa đến đưa Thu Hồng về quê thăm gia đình cổ.
- Con lên nhà ba má nó à?
- Dạ không, con chỉ đưa cổ ra bến xe thôi.


Nhà anh Ba tôi ở trọ, bên hông ngôi nhà xưa vách tường mái ngói rêu phong. Nhà nằm trong vuông đất rộng có đôi ba cây ăn trái dễ trồng như: cam, chanh, mận, quít… và mấy bụi bông trang, bông bụp màu vàng nghệ chen lẫn trong các cành lá xanh um mượt mà. Nghe đâu ngôi nhà xưa nầy của ông Phán kho bạc, để lại cho đứa con trai lớn đang làm ở Ty Tiểu Học đã hưu trí… Con cái của họ lớn hết rồi, nên đi làm xa. Hai ông bà già ngăn cho những người độc thân mướn ở tắm rửa ngủ nghê chớ không cho nấu nướng, cho nên chỉ có nhà tắm, cầu tiêu chớ không bếp để nấu.


Phòng anh Ba tôi ở trọ hết sức đơn giản, cái giường nhỏ, cái bàn viết nhỏ đặt sát cửa sổ kế bên cửa lớn ra vào hai cái ghế chỗ máng mấy quần áo lính, và thường phục, khăn tắm... Má ngồi trên ghế kế bàn, còn tôi ngồi trên giường anh, mền chiếu gối cũ nhưng được xếp ngăn nắp sạch sẽ.


Chúng tôi chờ anh Ba chở “bóng hồng Đồng Tháp” của ảnh đến để mẹ con tôi được thấy dung nhan. Ngoài đường phố nhiều xe qua lại, cây mận trong hàng rào đã có nhiều chùm trái đã ra da (gần ăn được) và những chùm hoa nở trắng xóa quyến rũ, đám ong bầu ù ù ve ve bay quanh tìm mật.
Anh Ba chạy xe gắn máy vừa quẹo vào dựng trước cửa, thì chiếc xe xích lô trờ tới dừng lại, người phụ nữ xuống xe. Anh Ba đi ra, người đẹp của anh chậm chạp e ngại theo sau anh bước vào.


Trước mặt tôi là một phụ nữ cao vừa tầm, mình tròn triạ không ốm gầy cũng không lùn tẹt. Chị có khuôn mặt điềm đạm hình trái soan, nước da trắng, tóc dài xõa về phía sau. Đôi mắt to trong sáng với bờ mi cong, mũi thon cao miệng nhỏ. Chị mặc áo bà ba màu tím than, quần sa-teng tuyết nhung mướt rượt như vừa nhúng vào dầu dừa, và mang đôi dép thấp có hai quai tréo. Nếu anh Ba không nói trước thì tôi không thể nào biết chị sanh ra và lớn lên ở vùng Đồng Tháp Mười nơi nổi tiếng “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh”. Cái vùng trong sách vở thì ít mà bên ngoài tiếng đồn thì mười, thì trăm lần hơn. Nơi nổi tiếng đồng ruộng bao la nhiều đến nỗi “cò bay thẳng cánh/ Chó chạy cong đuôi” và bị ngập suốt mùa nước lên sáu bảy tháng trời...


Chị Thu Hồng hạ thấp đầu lễ phép lí nhí trong cổ họng chào má, rồi quay sang chào tôi, sau khi chúng tôi được anh Ba giới thiệu. Giọng nói chị nhẹ nhàng tươi mát và chân tình nhưng như người ta thường nói “mặt như lòng” hễ mặt mày sáng sủa thì lòng dạ ngay thẳng rộng rãi vui vẻ…


Nảy giờ ba tôi ngồi đó vừa ăn vừa gật gù có vẻ hài lòng khi nghe con gái út “thiệu” (kể, tả) về cô dâu cả trong tương lai của ông.
Hôm nay nhà đông đủ đang ngồi ăn cơm chiều, sau khi tôi với má đi xem mắt người đẹp của anh Ba về. Và tôi đang múa tay, đá chân, liếc mắt thật sống động diễn tả về chị Thu Hồng… Anh Ba tôi bên ngoài làm bộ tỉnh bơ vừa ăn uống, như không thèm để ý đến tôi kể về người đẹp của anh. Nhưng tôi biết trong bụng anh, thì thầm cảm ơn con nhỏ nầy và khoái chí thấy bà!


Chợt chị Hạnh ngừng ăn nhìn tôi cười cười:
- Ê, bộ chỉ hối lộ cho mầy chút ít tiền ăn quà rồi sao, mà tự nãy giờ mầy tả về bả y như mấy cô hoa khôi miền Tây vậy mậy?


Không mất phần, bà chị dâu Hoàng Yến lanh chanh cái miệng:
- Ồ, như vậy thì chị ấy đẹp quá rồi, anh Ba thiệt khéo chọn đó nghe. Nhưng tại sao má lại gọi chỉ là “Con Đồng Tháp”… Lúc chưa nghe Út Hương kể, tôi tưởng tượng chỉ là cô gái quê mùa, thô lỗ vì quanh năm chầm nghịch ở ruộng, ở đồng có “mình hạc xương cối đạp” đen đúa xấu xí lắm chớ, ai dẻ chị ấy đẹp quá chừng đi thôi! Bộ chỉ còn có cái tên cúng cơm là Con Đồng Tháp nữa sao cô Út?


Cả nhà cười rộ lên, anh Ba tôi cười sặc phun cơm ra ngoài. Ba ngưng cười, quay sang chị dâu tôi vui vẻ bảo:
- Con Tư không biết đâu, má chồng bây hay đặt cho người ta thêm cái tên lắm. Như lúc thằng Tư mới quen bây, bả cũng gọi bây là con “Con Rau Muống” vậy! Ba nghĩ bả đặt cho bạn gái của thằng Hiếu là “Con Đồng Tháp” là “Con Giá Sống” mới đúng, nhưng có lẽ Đồng Tháp nổi tiếng hơn nên bả đặt cho con nhỏ cái tên Đồng Tháp… Có phải vậy không bà? Nhưng theo tôi thì sao cũng được, đẹp hay không bây giờ là giữa hai đứa nó thôi. Mình chỉ chọn người nết na, hiền ngoan trong một gia đình đạo đức đàng hoàng là được. Bởi ông bà ta cũng đã nói: “Mua heo chọn nái/ Cưới gái chọn dòng” đó mà…


Má tôi cười lém lỉnh nhìn ba:
- Thiệt không ai hiểu má hơn ba bây. Nói tóm lại con Đồng Tháp trông lành gái, có tướng phúc hậu. Gia cảnh họ hàng cũng không tệ, mặc dù nó sanh ra nơi đồng khô cỏ cháy, làm ra tiền chớ không có chỗ để tiêu xài… Người ta nói “Nhà đất có ông Phật vàng” ba má nó khá lắm, còn có người cậu làm Phó Ty Điền Địa ở Mỹ Tho, mà nó đang ở đó đi làm. Ông chú ruột làm quận Trưởng ở quận Bình Minh thuộc tỉnh Cần Thơ. Con Đồng Tháp là con út, có ba anh lớn, nhà chỉ có nó là con gái nên gia đình cưng chiều hết mực. Bởi vì cha mẹ không muốn nó sống trong đồng ruộng, nên cho con ra thành học xong trung học Đệ nhất cấp thì đi làm… Gia đình ba má nó có mấy ghe chài do mấy thằng con lớn coi sóc thợ thầy, chở cá đồng, tôm… bỏ mối ở miệt Hậu Giang. Họ có tiền, nhưng không muốn con dầm sương dãi nắng, quần vo áo vận tối ngày như các cô thôn nữ, nên cho con ra thành mong sau nầy có được người chồng ở thành thị cho khỏe tấm thân…


Ba tôi cười hiền, xuề xòa:
- Mẹ con bà tính sao cũng được, miễn cưới được đứa con dâu biết lo thương chồng, có lễ nghĩa, tử tế biết người trên kẻ dưới lo cho gia đình… con mình sẽ hạnh phúc. Tôi mong nó được bằng phân nửa của bà lo cho cha con tôi và cái gia đình nầy là tôi mãn nguyện lắm rồi… Chớ tôi không mong ước nó giàu sang hoặc phú quý gì cả. Học rộng hiểu nhiều mà vô phép vô thiên coi chồng không ra gì thì chẳng tốt lành chi…


Má tôi nhìn ba cảm động chớp chớp mắt bùi ngùi biết ơn! Còn đám con “vô duyên không tiền thưởng” cười hô hố lấy đũa gõ vào ly, vào chén rồi vỗ tay đôm đốp chọc quê ba mẹ mình.
Anh Tư lớn họng:
- Ba nịnh đầm thiệt hay, nhưng con thật vô dụng không lãnh ngộ được chút nào điểm đó ở ba cả… nên vợ con thường hay chê con lù đù như củ khoai sùng!


Chồng chị Hạnh cũng xen vào:
- Ba khéo quá, thiệt tuyệt vời“gừng càng già càng cay” Vậy từ rày bọn mình sẽ có những bữa cơm gia đình ngon do má đãi dài dài… Và Hạnh khi giận lên nàng cũng thường chê bai và gọi em là trứng vịt thúi đó sao!
Chị Hạnh tôi cười ngất ngất, hấy yêu chồng:
- Giỏi tài ham ăn, chớ gì nữa từ hồi vợ chồng cưới nhau đến giờ tui có nghe ông nói câu nào bùi tai tui đâu nà…


Chị Hoàng Yến cười lớn:
- Trời ơi, sao giống quá vậy, tui cũng chẳng hơn gì cô đâu. Cha chả thiệt chịu hết nổi mà, cô biết không, bởi ông chồng mình dành lời ngon tiếng ngọt bùi tai thiên hạ để “dê” chớ không dành cho vợ…


Cả nhà chuyện trò vui vẻ cười như bắp rang. Tôi nghĩ chắc kiếp trước mình có tu, nên kiếp nầy được sanh ra và lớn lên trong gia đình đủ ăn, đủ mặc, vui vẻ, hạnh phúc tràn trề… Trong khi đó ở ngoại ô xa, ngoài biên trấn giặc giã ngày càng sôi động. Giặc lén về gây biết bao nhiêu khốn khổ thương tật cho dân lành… Trai đến tuổi thì đi quân dịch, Chánh phủ kêu gọi thanh niên nhập ngũ tùng chinh, tái ngũ… Rồi những bài hát do nhạc sĩ sáng tác ca ngợi chiến binh oai hùng, khơi động lòng yêu nước ào ạt được trình làng, như bài: “Bức Tâm Thư” với lời lẽ ngọt ngào thương mến “…Vài hàng gởi anh trìu mến/ Vừa rồi làng có truyền tin/ Bảo rằng nước non đang mong/ Đi quân dịch là thương nòi giống…” Rồi bài: “Trăng Rụng Xuống Cầu/ Chiều Mưa Biên Giới/ Tình Anh Lính Chiến…” Phái nữ tình nguyện vào các ngành nghề mà ngày xưa chỉ cho nam phái như là: Nữ quân nhân (có nhiều ngành), nữ Biên Tập Viên Cảnh Sát Quốc Gia. Trợ tá, Xã hội…


Năm đó ba má tôi cậy người mai mối đi cưới “Con Đồng Tháp” Thu Hồng cho anh Hiếu. Ba má của chị Đồng Tháp rất vui mừng có sui gia ở thành thị, và nhứt là có được thằng rể ngoan hiền như ý muốn. Họ không đòi hỏi gì nhiều, và cho nhà trai đến rước dâu ở Mỹ Tho (nhà cậu của chị) chiều đến hai họ được đãi ở nhà hàng Lê Lai ở đường Lê Lai gần chợ Bến Thành.
Sau ngày cưới hai tuần trăng mật của anh chị. Còn một tuần phép trước khi trở lại đi làm, thì nhà gái có nhã ý mời họ nhà trai đến nhà ba má ruột chị dâu tôi ở Đồng Tháp Mười cho biết nhà cửa…


Chuyến đi nhà sui gia nầy cũng chỉ có má và tôi thôi. Cái tên Con Đồng Tháp là do má tôi đặt cho chị, tôi nghĩ bà có một chút châm biếm, không vừa ý anh Ba tôi lấy con vợ ở vùng quê mùa dốt nát tận Đồng Tháp Mười! Nhưng đến thăm nhà gái má tôi mãn nhãn vì sự giàu có ăn chắc mặc dầy có lúa thiên, bạc vạn, tàu bè, ghen lớn ghe nhỏ… của đa số nông dân sống trong vùng Đồng Tháp Mười. Nhiều nhà cao cửa rộng, mỗi người có mấy trăm mẫu ruộng, tôm cá là của trời cho không vốn, chỉ siêng năng bắt chở đi bán, tiêu xài đã đời còn dư mua vàng lá để dành. Còn những người không tranh đua, có nếp sống an phận, tay làm hàm nhai thì no đủ quanh năm, sung sướng tâm hồn cả một đời…


Nhà của ba má chị Ba Đồng Tháp hai ngăn ba chái, cất trên vuông đất đấp cao rộng hơn hai mẫu… Chung quanh nhà họ trồng cam, quít, bưởi, mận, xoài cát đen, dừa… Các loại chuối nhứt là chuối sáp nấu ăn dẻo và ngọt lắm. Để ngăn cho phân biệt đất nhà và hàng xóm bằng hàng rào trồng toàn là tre gai, và mương đào chung quanh.


Chị Đồng Tháp sáng nào cũng hỏi:
- Cô Út thích ăn cá, hay tôm và muốn làm món gì? Để nhờ hai bà thím nấu, họ ở xóm trong, má tôi thường nhờ ra giúp khi nhà có tiệc tùng. Bởi hai bà đó nấu ăn ngon lắm, cô đừng ngại nghe…
Chúng tôi đến thăm nói là bốn ngày chớ thật ra có hai ngày thôi, vì phải mất hai ngày đi và về rồi. Ngày đầu ăn tôm càng xanh nướng lửa trâm bầu cuốn với rau sống bánh tráng nhúng nước và thịt ba chỉ xắt mỏng… Chiều ăn cháo ám cá lốc… Hôm sau ăn cá trê vàng cặp gấp tre nướng dầm nước mắm gừng, ăn kèm với đọt rau lang luộc. Cá thác lác nạo thịt bỏ xương vò viên nấu canh chua với bông điên điển, bông so đũa, bông súng, khóm, bạc hà, giá sống… Bầu xào với chim chầm nghịch thiệt là ngọt vô cùng kể! Toàn là những món ăn đồng quê, nhưng tôi ăn hoài, cái bụng no mà cái miệng vẫn muốn ăn thêm… Ăn đến nỗi, má khều nhẹ tôi bảo nhỏ: “Thôi đủ rồi, coi chừng con ăn nhiều quá cái bụng nổ tung bây giờ…” Tôi cười trừ mắc cỡ lỏn lẻn không trả lời.


Ngày về sui gia cho nào khô cá lốc, khô cá trạch, khô sặc và những đặc sản trong vùng… Hai mẹ con tôi mỗi người hai giỏ đầy nặng nề muốn chết, nhưng để lại thì tôi tiếc.
Năm sau chị Đồng Tháp sanh đứa con trai đầu lòng, là cháu Hiếu Kiệt. Kể từ đó chị không đi làm nữa, ở nhà trông con. Và ông bà ngoại cháu mua cho con rể ngôi nhà ngói khang trang, vách tường có sân trước, vườn sau rộng rãi bên bờ giếng nước, đường ra bến xe đò nằm dọc trên sông Bảo Định thành phố Mỹ Tho…


Khi cháu Hiếu Kiệt vừa bốn tuổi thì chị Hồng mang thai, sanh ra bé gái đặt tên Thu Hà. Cháu Thu Hà được thôi nôi thì ba cháu cũng ra trường sĩ quan khóa đặc biệt được bổ sung về Sư đoàn 7 bộ binh. Và anh tôi lính tác chiến nên rày đây, mai đó đi khắp các quận làng trong tỉnh và các nơi, thường ở miền đồng bằng sông Cửu Long, và biên giới Việt Miên.


Người ta bảo thợ may ăn vải, thợ mộc ăn cây, thợ hồ ăn cát, ăn xi-măng… Ba má tui có dâu và sui gia ở miệt Đồng Tháp Mười. Mỗi lần ba má chị có dịp đến thăm nhà chúng tôi, thì thường mang đến tặng thủy sản thượng hảo hạng khi thì cá lốc, cá trê vàng, cá sặc lò tho lớn bằng bàn tay xòe… Cá nầy mà kho mẳn vắt chanh thì ăn hết nồi hết ơ. Có khi các loại khô ngon ngoài chợ hiếm thấy bán, để dành ăn quanh năm. Tết nhứt má của chị Đồng Tháp còn gởi cho các loại bánh tráng, bánh phồng nếp bằng cái dĩa nhỏ, nướng xong bánh nở bằng cái mâm thau. Cá tôm tươi, gà trống thiến, các loại trái cây tươi, phơi khô ngon ngọt. “Có qua có lại mới toại lòng nhau” má tôi đáp lễ với những hộp trà Tàu ngon, bánh hộp, cà-phê, đường cát trắng thẻ vuông (loại nhập cảng) hồng khô, cam tàu, trái vải, nho tươi…


Thời gian lặng lẽ qua mau, ba má tôi giờ tóc đã hoa râm. Sau khi ra trường học nghề, tôi về nhận nhiệm sở ở Mỹ Tho, làm việc ngang Tổng Hành Dinh Sư Đoàn 7 ở bên kia đường, đối diện với công sở tôi làm việc. Và năm sau đó tôi lập gia đình với một quân nhân sinh trưởng ở Bến Tre, chàng là thượng cấp của anh Ba tôi.
Giáng Sinh năm 1974, chúng tôi có hai mặt con (trai 4 tuổi, gái 2 tuổi) Miền Nam bị Cộng sản và tay sai Việt cộng cưỡng chiếm vào cuối tháng tư “Ngày 30 tháng 4 năm 1975”. Cùng chịu chung cảnh với quân, dân, cán, chánh, chồng tôi, anh Hiếu, anh Hiền và vợ chồng chị Hạnh bị tập trung vào tù cải tạo mút chỉ cà tha, không biết bao giờ mới được thả? Bởi họ bị kết tội là “Những tên ngụy quyền, những tên lính Mỹ đánh thuê”. Họ là những người tù không bản án!


Ba đứa con chị Hạnh bên nội đem về nuôi dưỡng ở Bình Dương. Chị Tư Hiền lo cho ba đứa con, và luôn được sự bù đắp của ông bà ngoại, và mấy cậu... Ba má tôi lo buồn cho thời cuộc, và sự an nguy của các con tôi nên đau bịnh rề rề.
Con Đồng Tháp của má rước ông bà về ở chung với mẹ con chị, để hôm sớm có người lớn trong nhà, ông bà trông chừng mấy cháu, chị đi buôn bán kiếm sống cho gia đình, và thăm nuôi chồng…


Thiệt là một gánh nặng cho chị Ba Đồng Tháp! Vì ba tôi không đi tù cải tạo là may mắn lắm rồi, chớ đâu còn lương hưu trí! Anh Ba Hiếu, anh Tư Hiền và vợ chồng chị Hạnh vẫn còn kẹt trong tù! Còn tôi thì thỉnh thoảng chỉ cho cha mẹ gói trà, hộp bánh… Tôi đã mất việc vì liên hệ tội của chồng là “ngụy quân”, nên phải ra bươn chải đi bán chợ trời với chị Ba Đồng Tháp để nuôi con.
Mùa thu năm sau ngày giặc vào, ba tôi vĩnh viễn lìa bỏ cõi đời. Ông chết vì lo lắng, đau buồn, và tuổi già bịnh hoạn không đủ thuốc men, không làm ra tiền, lương chình hưu bổng gì cũng bị mất hết…


Thằng Hiếu Kiệt con lớn của anh chi Ba về ngoại phụ buôn bán với mấy cậu, để có tiền phụ mẹ nuôi em và ông bà nội!


Cả năm rồi không tin tức gì của thằng con, và ba đứa cháu gọi chị Ba Đồng Tháp bằng cô ruột… Gia đình ủ rũ, khổ sầu, chị dâu tôi ngậm đắng nuốt cay khóc thầm khóc lén, đớn đau như cắt ruột, khi biết con mất tích trong lần đó lên Biển Hồ mua cá tôm về bán. Chị không dám cho bà nội cháu biết, và cũng giấu nhẹm không cho chồng trong lúc thăm nuôi!
Tin chồng tôi bị chết trong tù! Nhìn ba đứa con nheo nhóc, mẹ và các chị dâu nghĩ tôi sẽ hóa điên! Chị Ba Đồng Tháp khuyên đem các cháu về sống với chị và má, sau khi chúng tịch thu nhà tôi, để làm văn phòng cho khu phố. Nỗi đau mất chồng, mất nhà cửa, mất người thân, mất quê hương tôi đã khóc… khóc tưởng chừng mình không còn nước mắt để khóc nữa!


Việt cộng theo đuôi Cộng sản tràn vào cướp miền Nam. Người từ Bến Hải đến Cà Mau,ba má chúng tôi cửa nát nhà tan, gia đình cháu con ly tán! Nỗi đau buồn hờn oán bọn Việt cộng phú cho trời cao!
Trong khi gia đình vất vả lo cơm áo, bớt đi nỗi bi thương về cháu Hiếu Kiệt… Hai năm sau mới có tin về, Kiệt và ba đứa cháu của chị Ba Đồng Tháp đã vào được nước Mỹ! Thiệt là một “tin mừng lớn” đến với đại gia đình chúng tôi!


Anh Ba Hiếu được thả về, năm đó có chương trình cựu tù nhân Chánh trị được đi Mỹ theo diện H.O. Anh chị Hiếu tôi bồng bế ba đứa con qua Mỹ, sanh sống ở tiểu bang Arizona. Đó là vùng sa mạc nắng cháy, mưa dầu suốt mùa hè cỏ cây xao xác trơ cành trụi lá!
Mẹ con chị Tư Hiền cùng gia đình bên ngoại mấy cháu vượt biên qua được nước Úc. Anh Tư bị tù cải tạo, khi được thả về, cũng đi qua Úc theo diện bảo lãnh của vợ.


Rồi anh chị Hạnh tôi cũng đi theo diện H.O ở Michigan. Trong hình gởi về, cái nơi gì mà tuyết phủ một năm gần sáu tháng. Lạnh thấu trời thấu đất ở gần biên giới sát nách nước Canada.
Má, và ba mẹ con tôi kẹt lại ở quê nhà! Nhưng cuộc sống của gia đình mẹ góa con côi của chúng tôi khấm khá hơn trước, nhờ vợ chồng chị Ba Đồng Tháp và các anh chị gởi tiền về phụng dưỡng má, và cho thêm đứa em bất hạnh nầy nên mẹ con tôi được nhờ…


Đôi lúc tôi thẫn thờ nhớ về thuở thanh xuân hạnh phúc, sung sướng vào thời Việt Nam Cộng Hòa! Rồi chợt nghĩ đến đang sống vật vã ở chế độ Cộng Sản, tôi cảm thấy lòng đớn đau và buồn thấm thía! Nhìn hai đứa con đã lớn đại, còn trong tuổi học hành và biết trước tương lai chúng mịt mờ, bởi lý lịch không tốt của cha là “ngụy quân” Chúng tôi muốn qua một nước tự do như những gia đình khác đối với mẹ con tôi là một việc khó hơn lên trời! Và đó chỉ là một giấc mơ không bao giờ thành tựu ở kiếp nầy cho mẹ con tôi! Chép miệng thở dài, nghĩ đến đâu tôi càng chán nản đến đó, và tuyệt vọng vô cùng! Nhưng tôi âm thầm hy vọng có một ngày! Phải, có một ngày việc gì đến sẽ đến, không ai có thể biết trước được! Tôi vẫn hy vọng, hy vọng để tiếp tục sống! Bởi trong cuộc đời phải có hy vọng! Có hy vọng mới kiên trì mà sống nổi!
Trên bàn ăn hôm nay, có đủ mặt anh chị ở tiểu bang khác như vợ chồng chị Hạnh Michigan, anh chị Tư Hiền ở tận phương trời nước Úc xa hơn nửa vòng trái đất cũng bay qua. Còn anh chị Ba Hiếu ở gần sát bên nách, khoảng mười lăm phút lái xe, nên đến lúc nào mà không được.


Má tôi lấy khăn lau nước mắt cảm động vì các con về thăm đầy đủ trong ngày cúng giỗ chồng bà, và ở lại ăn Tết Nguyên Đán mẹ con sum vầy ra giêng ai mới về nhà nấy. Nhìn các con, mới ngày nào còn giỡn chạy loanh quanh bên cha mẹ, mà nay đứa nào tóc cũng muối tiêu hết. Có đứa bây giờ cũng đã là ông bà ngoại, hoặc nội, và bà cũng đã lên chức bà cố rồi…
Không chịu nhuộm, nên tóc má tôi trắng như bông gòn. Cứ mỗi sáng đẹp trời má thường ra sân trước cắt tỉa những nhánh hồng nhung trồng bên cửa sổ, và cạnh ranh đất hai bên nhà hàng xóm. Những bụi hồng có hoa màu tím, trắng, đỏ, vàng nghệ… nhờ má chăm sóc nên bông nở quanh năm. Theo gió len qua cửa sổ hương hoa dìu dịu ngào ngạt loan tỏa khắp nhà.


Hàng ngày má tôi ra miếng vườn chó ngáp sau nhà, mà anh Ba đã bỏ công ra xới đất lên liếp, làm giàn, thay đất… Để má tôi có công việc làm như trồng trọt, nhổ cỏ, vô phân, tưới nước, cắt bầu, bí… Bà luôn săm soi bắt sâu, tỉa lá: đậu, cải, rau nấu canh mỗi thứ một ít. Trong chậu sành bà trồng các loại rau thơm như: dấp cá, húng cây, húng nhũi, quế, ranh giới, hẹ, hành hương… có ăn quanh năm, không phải mất công ra chợ và tốn tiền mua.
Có lẽ nhờ thường xuyên vận động, nên ở tuổi tám mươi rồi mà má chúng tôi sức khỏe vẫn còn tốt. Bà ăn ngủ bình thường, da dẻ hồng hào, mặt mày tươi tỉnh hơn những người cùng tuổi. Và nhứt là trí nhớ của má tôi rất là “bảo đảm”, chuyện gì mấy mươi năm trước, những tưởng theo dòng thời gian không còn tồn tại trong tâm nữa. Nhưng không đâu, bà vẫn nhớ, và nhớ rất rõ mọi thứ, mọi việc li chi…


Hôm nay các con về đủ mặt ăn cơm chiều, sau khi cúng rước ông trước ngày mùng một Tết, như lúc chồng còn sinh thời. Bởi mẹ con tôi và má đến Mỹ cả năm rồi, anh chị ở xa đến nay mới sắp xếp công việc gia đình để qua thăm trong dịp cúng giỗ ba và ở lại ăn Tết với má.
Ngồi vòng bàn bên mâm cơm, anh chị tôi nói cười vui vẻ, kẻ kể chuyện nọ, người kể chuyện kia… Mỗi lần má tôi lên tiếng góp chuyện, thì chúng tôi lắng nghe từng lời, theo dõi từng cử chỉ của bà.
Má tôi hớp ngụm nước trà, rồi ôn tồn bảo:


- Cái ngày được tin tụi bây đến xứ người an bình, rồi có công ăn việc làm, các cháu đi học, má thiệt vui mừng hết biết! Nhưng mỗi ngày như mọi ngày, đến giờ người phát thư đi qua thì má ra đứng, hoặc ngồi chờ sẵn xem có tin thư gì bây gởi về không? Trong lúc chờ má thường nghe bọn trẻ con hàng xóm đùa giỡn, chúng còn ca hát nghêu ngao những câu vè, những câu thơ, lời hát châm biếm trong dân gian, thật là thấm thía “Như có bác Hồ trong nhà thương Chợ Quán/ Vừa bước ra thì bị xe cán bể đầu/ Bao nhiêu năm cướp ruộng đất cướp trâu/ Xác xình thúi rụng tóc râu …” dù má không học nhưng nghe riết rồi cũng thuộc lòng…


Anh em tôi cười vui, kẻ ăn người uống ngon miệng, tâm hồn thoải mái, vui vẻ và chăm chú ngồi nghe má kể tiếp:
“……………..
Ngày đi đảng gọi Việt Gian
Trở về đảng lại chuyển sang Việt Kiều
Chưa đi “phản động” trăm chiều
Đi rồi thành “khúc ruột yêu ngàn trùng”
Trốn đi đảng bắt đến cùng
Trở về mời gọi săn lùng đô la

………………………”

Má tôi đọc đến đó bà có vẻ bùi ngùi buồn thương về thời son trẻ lúc chồng còn đi làm việc… Rồi bà thở dài:


- Thiệt Cộng sản, Việt cộng là bọn tráo trở mặt dầy không biết ngượng, không ra thể thống gì hết! Má thấy thương tiếc cái thời Cộng Hòa, lúc tụi bây đi học, rồi đi làm. Thật thuở đó người dân Việt ở miền Nam sống trong an vui, hạnh phúc vô cùng. Bây giờ cái bọn giặc ác ôn hết nói nổi, cho nên mấy đứa con nít cũng chưởi bới chúng. Ông cha thường bảo: “Trăm năm bia đá thì mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Ngoài đường nơi nào, lúc nào cũng nghe mấy đứa nhỏ hát vang rân:
“……………………..

Ngày xưa chửi Mỹ hơn người
Ngày nay nịnh Mỹ hơn mười lần xưa
Ngày xưa đánh Mỹ không chừa
Ngày nay con cái lại lùa sang đây
Ngày xưa Mỹ xấu, đảng hay
Ngày nay đảng ngửa hai tay xin tiền
……………………”

Anh chị em chúng tôi thương kính nhìn má và thán phục trí nhớ dai của bà! Chị Hoàng Yến lanh miệng lên tiếng:
- Mèn ơi, chúng con thiệt nể má vô cùng, cái gì má cũng nhớ… Bọn anh em mình phải cẩn thận nghe! Nếu lỡ dại nói sai, má nhớ mà buồn trong lòng thì không nên và phiền lắm đó.
Chị Hạnh bới chén cơm cho chồng, cười vui nhìn má:
- Chuyện xấu của ai, bàng quan thiên hạ sự cái gì má cũng nhớ ráo trọi trơn. Vậy còn chuyện tốt của người ta, má có nhớ không nè?


Anh em tui nhao nhao lên khen má mình lên tận mây xanh! Tui gắp để vào chén má miếng thịt cá đã lấy hết xương ra rồi. Muốn chọc quê bà cho nhà cửa thêm vui nhộn, tôi bèn nở nụ cười lí lắc liếc liếc má, rồi trề môi dài cả thước.
Để gây sự chú ý của mọi người, tôi bèn lớn họng:
- Đó là cái chắc, má nhớ dai thầy chạy luôn! Nhưng má cũng hay quên lắm chớ, nhưng nhớ hay quên gì má mình cũng khôn lắm! Các anh chị không biết đâu, hễ đứa nào thiếu tiền má từ mấy mươi năm trước thì má cũng nhớ, đòi trèo trẹo và không quên một xu! Nhưng thiệt là ngộ lắm, nếu má thiếu tiền đứa nào thì má quên sạch sẽ, quên mất tiêu luôn hà…


Cả nhà cười rộ lên, đứa chạy đến ôm hôn má, đứa bóp vai, đứa bẹo má, đứa nựng càm má… tỏ lòng thương kính yêu quý má vô cùng!
Rồi chúng tôi trở lại ăn uống nói cười vui vẻ… Anh chị em tôi không ai nói ra, nhưng chúng tôi đều cảm thấy chưa bao giờ có buổi họp mặt gia đình lần nào vui vẻ như buổi họp mặt hôm nay, kể cả lúc có mặt ba tôi và chồng tôi như thuở còn sanh thời.
Tính đến nay ba mẹ con tôi cùng má bất ngờ được định cư ở Mỹ cũng hơn một năm rồi! Đôi lúc trong giấc ngủ chập chờn tôi tưởng mình chiêm bao. Nhưng không, chúng tôi hiện sống trong một căn nhà nhỏ, gần gia đình anh chị Ba Hiếu ở nước Mỹ đây mà!


Tại sao chúng tôi đến được Mỹ? Sự việc xảy ra nầy như trong phim thần thoại, ngoài sức tưởng tượng của má và anh chị em tôi cùng những người thân quen. Chúng tôi đến Mỹ trong trường hợp hết sức đặc biệt mà tôi nghĩ rằng từ cổ chí kim chắc chưa từng có xẩy ra trên nước Mỹ? Và có lẽ cả trên cõi đời nầy nữa(?).


Bỗng má tôi nhìn chị Ba Hiếu đôi mắt dịu dàng với lòng đầy mến thương. Mặt bà trầm xuống, trang nghiêm chậm rãi, nhẹ giọng ôn tồn, bảo:
- Má và anh em bây phải luôn luôn biết ơn vợ thằng Hiếu, chị Ba bây là “Con Đồng Tháp” của má…
Nghe má nói đến đó chúng tôi cười ngã qua ngã lại cười bò lăn bò lộn. Má tôi cũng bật cười thành tiếng.


Còn tôi nhăn mặt:
- Đã mấy chục năm, biết bao nhiêu vật đổi sao dời chạy sang đến xứ người ta, mà má vẫn không tiến bộ chút nào hết… Không quên mà vẫn nhớ cứ gọi chị Ba là “Con Đồng Tháp” hoài hà. Thôi bỏ đi má ơi, người ta nghe thì cười và tưởng má là bà già cố chấp, là khó khăn, là: “bà mẹ chồng ít ai có/ Làm con gà để đó ngó dâu…” để cho con dâu thầm than: “Vì tằm em phải chạy dâu/ Vì chồng em phải qua cầu đắng cay…” đó nghe má!


Chị Ba tôi vốn dĩ hiền lành ít hay nói, nhưng cũng cười ngất đến ôm vai má chồng, đỡ lời:
- Không đâu, con chẳng những không ngại, mà còn thích má gọi là “Con Đồng Tháp” nữa kìa. Cái tên đó vừa thân thương, vừa êm đềm khiến cho tôi nhớ về cha mẹ, anh em… Gợi cho con thêm thương mến vùng đất quê hương mộc mạc hiền lương, nơi chôn nhau cắt rúng của mình...


Má tôi mắt đăm chiêu mơ màng nhìn ra cửa sổ, như cố nhớ lại thời đã qua. Bà thở dài rồi thật tình đều giọng kể:


- Thật sự má cố tình gọi vợ thằng Hiếu là “Con Đồng Tháp” không phải là có ý tốt đâu. Các con cũng biết thuở đó gia đình mình rân rác đến đâu, bên nội bên ngoại cùng giàu nức tiếng một vùng… Thằng Hiếu nhà mình lại là cháu đích tôn, đàng hoàng, lễ độ, hiếu thảo ai cũng thương mến… Má thấy con Thu Hồng cũng lành gái, xứng đôi với anh Ba các con. Nhưng thật ra vì thương con thương thằng Hiếu nên má mới cầm trầu cau đi cưới nó cho anh Ba bây. Nhưng má không cam lòng đi cưới một đứa con gái ở vùng quê mùa, cày sâu cuốc bẫm cho con trai trưởng của mình. Cho nên má mới gọi cho nó cái tên là “Con Đồng Tháp” để tỏ trong thâm tâm má đầy vẻ không ưa, kỳ thị… cho bõ ghét! Nhưng khi về sống chung đụng, mới biết tánh tình nó chân chất thật thà, hiếu đạo, biết lo cho chồng con và yêu thương gia đình chồng như gia đình mình… Lúc đó “Con Đồng Tháp” với má có ý nghĩa khác, thân thương, yêu mến như con gái chớ không còn là con dâu ghét của mẹ chồng nữa…


Nói đến đây má tôi kéo khăn trên vai chậm nước mắt cảm động. Anh Ba tôi lấy tay xoa lưng má, còn chị “Ba Đồng Tháp” thì vui vẻ, trả lời:


- Con chưa hề nghĩ đến ý không tốt, mà con nghĩ má muốn ghẹo con ở chỗ nào đó phát xuất từ Đồng Tháp Mười, một nơi quê mùa trong lòng mọi người thuở đó chớ không riêng ai. Nên con vui thích chớ không có buồn khi nghe má gọi mình là “Con Đồng Tháp” các cô chú gọi là: “Chị Ba Đồng Tháp”.


Tôi cũng thành khẩn nhìn “Chị Ba Đồng Tháp” đầy lòng biết ơn, nghẹn ngào lên tiếng:


- Cháu Hiếu Kiệt con anh chị Ba qua Mỹ khi có quốc tịch thì vào quân đội, đã đi lính hơn hai mươi năm. Và nay cháu cũng đã bị thương vong trong chiến trường Trung Đông! Cháu và mấy đồng đội khác không chết trong trận chiến, mà chết vì quân ta (quân đội Mỹ) bắn lầm! Chánh phủ Mỹ đã trợ cấp cho vợ con cháu, và anh chị Ba được mọi quyền lợi của một quân nhân Mỹ mà gia đình người quá cố được hưởng. Họ còn xin lỗi anh chị Ba và hỏi: “…Ông bà có yêu cầu gì để đền bù về lỗi lầm chúng tôi đã gây ra thì xin cho biết…? Nếu được, chúng tôi sẽ đáp ứng lời yêu cầu của ông bà….” Anh chị Ba lúc đó bấn loạn tinh thần vì người tóc bạc khóc người tóc xanh, và lo tang lễ của cháu. Anh chị đã hẹn, sau khi xong đám tang sẽ trả lời cho họ biết…


Bữa cơm đã tàn, dĩa, bát, mọi thứ dọn qua chỗ rửa chén. Không ai bảo ai mỗi người ngồi vào chỗ của mình, yên lặng chờ nghe, và anh chị Ba tôi cũng trầm ngâm ngồi đó.


Ngoài anh chị Ba, mấy anh chị tôi hồi nào đến giờ biết mẹ con tôi và má qua Mỹ được là nhờ anh chị Ba bảo lãnh thôi, chớ không ai biết rõ cặn kẽ sự tình như thế nào! Sau khi ai nấy trở lại chỗ của mình, tôi tằng hắng lấy giọng, buồn buồn rồi kể tiếp:


- Chị Ba yêu cầu thẳng với đại diện Chánh Phủ Mỹ: “Đại gia đình chồng tôi kẻ vượt biên trốn chạy, người đi theo diện H.O bỏ nước Cộng sản Việt Nam. Chúng tôi còn bà mẹ già, và ba mẹ cô em gái bị kẹt lại bên đó. Chồng cô em tôi là sĩ quan trong quân lực Việt Nam Công Hoà bị đày đọa cho đến chết trong tù cải tạo của Việt cộng… Chúng tôi mong quý ông giúp đỡ cho mẹ, và gia đình cô em qua đây đoàn tựu với chúng tôi…” Nhờ chị Ba mà má và ba mẹ con em chưa tròn năm thì được vào Mỹ. Nhưng các anh chị không ai biết rõ ngọn ngành như em vừa kể… Các anh chị thì sao không biết, nhưng riêng mẹ con em không bao giờ quên ơn chị “Ba Đồng Tháp” Ơn chị nếu không trả hết ở kiếp nầy, thì mẹ con em nguyện kết cỏ ngậm vành trả ở kiếp mai sau…


Bên ngoài trời tối đen như mực, luồng gió xuân man mác theo cửa sổ tràn vào phòng. Chị em chúng tôi, mỗi người một tay: trà, mứt, kẹo, chà là, chuối khô, bánh tét, bánh ít, bánh phồng, hoa tươi, trái cây, dưa hấu, và mâm ngũ quả “cầu, dừa, đủ, xoài, dâu, thơm” đã chuẩn bị sẵn sàng cho hai anh và anh rể để chút nữa đây gọi má thức dậy cùng cúng đón Giao thừa.


Đêm Ba Mươi Tết, mùi khói hương, trà quả tỏa bay khắp nhà. Cái yên lặng của đất trời, khiến trong lòng chúng tôi cảm nhận được sự thiêng liêng ấm áp cùa đêm Giao thừa. Trong không gian tiếng pháo đì đẹt nổ, tiếng đại hồng chung, tiếng trống, mõ… từ các chùa, cùng tiếng chuông từ các nhà thờ của người Việt đinh đon rền vọng… Người Việt tha hương đang cùng nhau đón mừng năm mới ở xứ người. Không khí thanh bình an vui hạnh phúc sẽ đến với mọi gia đình, trong đó có gia đình anh em chúng tôi và những người Việt không Cộng sản tha phương trên thế gian nầy…

Trong tuyển tập truyện ngắn “Phượng Tím” 2014

DƯ THỊ DIỄM BUỒN
ĐT (530) 822 5922

Email: dtdbuon@hotmail.com

DƯ THỊ DIỄM BUỒN * TÔI YÊU NƯỚC MỸ




TÔI YÊU NƯỚC MỸ

DƯ THỊ DIỄM BUỒN

                    
 
                   
Cứ mỗi năm xứ người mừng “Độc Lập”
Pháo tưng bừng... gợi nhớ quá cố hương
Chồng cải tạo, gia cảnh lắm đoạn trường 
Hãi hùng, âu lo, dật dờ, ngao ngán...

 
Sau miền Nam rơi vào tay Cộng sản
Từng lớp lớp người hớt hãi bôn đào
Vượt biển khơi, trời thịnh nộ thét gào
Sấm gầm gừ, sóng ầm ầm giận dữ!

 
Kể từ đó chúng tôi đời lữ thứ
Tạm dừng chân hoang đảo, nước tự do
Thuyền nhân thoát nạn, đỡ sợ, bớt lo
Liên Hiệp Quốc với tấm lòng hoan hỉ

 
Chín tháng sau, gia đình tôi vào Mỹ
Nhà bốn người, chồng vợ cùng hai con
Xứ lạ quê người, buồn tủi héo hon…
Thương nhớ cha mẹ, họ hàng, chòm xóm…

 
Nhớ bờ sông cây bần nhiều đom đóm
Xuồng câu tôm le lói bóng đèn chông
Giọng hò lơ cô lái thả xuôi dòng
Trẫy chợ Tết, trời nửa đêm về sáng

 
Thời Cộng Hòa không ai buồn cấm cản
Sĩ, nông, công, thương… tự chọn cho mình
Có người vào trường đào tạo chiến binh
Công, tư chức, kẻ bán buôn, ruộng rẫy…

 
Dân miền Nam sống ấm no thoải mái
Trường dạy nghề, thầy lớp học sẵn sàng
Đường tiến thân lớp trẻ, rộng thênh thang
Vì tương lai, tiền đồ dân tộc Việt…

 
Khi đến phi trường Mỹ, rồi mới biết
Vợ, chồng, con ốm đói như thây ma
Đôi dép mòn, bộ đồ cũ dính da
Hải đảo bịnh đau, héo hon sức kiệt

 
Nước Mỹ với tôi vạn điều khác biệt
Phong tục, tập quán, tiếng nói… ngu ngơ
Trong bao giấy, vỏn vẹn bốn hồ sơ
Không của cải, không đồng xu dằn túi!

 
Xứ người giàu sang… chạnh lòng buồn tủi!
Thương kẻ quyết tâm trốn bỏ quê hương
Với Cộng nô không cùng lối, chung đường
Đổi tự do, sống còn trong cõi chết...

 
Tháng lại năm qua… cày không biết mệt!
Việc bộn bề đỡ phiền não… băn khoăn
Nếp sống hài hòa, vượt những khó khăn
Con trẻ vô tư, đến trường chăm học…

 
Tâm hồn chúng thảnh thơi hồng tuổi ngọc
Sống vững vàng, với bằng cấp chuyên môn
Gia đình an vui, thoải mái tâm hồn…
Lòng ngay thẳng, không nghĩ suy tạp nhạp

 
Có như thế thân tâm luôn an lạc
Gẫm cuộc đời như gió thoảng mây bay
Ngày đến đây chỉ có trắng đôi tay!
Siêng năng, mới hòa đồng dân bản xứ!

 
Nước Mỹ trợ giúp người nghèo mọi thứ
Có tự do, có bình đẳng, nhân quyền…
Được mở hãng xưởng, những việc tư, riêng…
Miễn đừng phạm pháp, hoặc phiền người khác

 
Mỹ trong tôi, là bầu trời ấm mát
Là tấm lòng của biển độ thế nhân
An ổn tâm linh, sức khỏe, tinh thần…
Vì như thế… nên tôi yêu nước Mỹ!

 
Dư Thị Diễm Buồn

 

VOA * NUỚC MỸ MỪNG NGÀY ĐỘC LẬP

Nước Mỹ mừng Ngày Ðộc Lập

Quốc kỳ Mỹ treo tại Tòa thị chính Brooklyn.
Quốc kỳ Mỹ treo tại Tòa thị chính Brooklyn.
Trên khắp nước Mỹ hôm nay người Mỹ mừng kỷ niệm lần thứ 238 ngày đất nước độc lập khỏi Anh với các cuộc diễu hành, dã ngoại, bắn pháo hoa, đua ngựa và các buổi hòa nhạc.
Các lễ hội ngày 4/7 tại thủ đô Washington gồm có những người đóng vai các nhân vật lịch sử như Thomas Jefferson, Benjamin Franklin và John Adams, là những người sẽ đọc Tuyên ngôn độc lập.
Sẽ có một buổi hòa nhạc và bắn pháo bông ở Quảng trường quốc gia vào tối thứ Sáu.
Buổi hòa nhạc có sự tham gia của những tên tuổi như Frankie Valli, Patti Labelle, Michael McDonald, nhóm Muppets và dàn nhạc giao hưởng quốc gia.
Tuy nhiên, thời tiết có thể làm mất vui kế hoạch của hàng triệu người Mỹ khi cơn bão Arthur đang tiến về bờ Ðông nước Mỹ.
Ðiều trớ trêu là Tuyên ngôn độc lập được soạn thảo bởi một người chủ nô lệ, ông Thomas Jefferson, 32 tuổi, người sau này trở thành tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ.
Ông Jefferson viết: “Chúng ta coi những sự thật này là hiển nhiên, là tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, được tạo hóa ban cho một số quyền bất khả xâm phạm, trong số đó có quyền được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc”.
Ông Jefferson không phải là người chủ nô lệ duy nhất ký vào văn kiện vừa kể.
Khoảng 1/3 những người ký vào Tuyên ngôn độc lập, từ cả miền Bắc và miền Nam, đều sở hữu hoặc từng sở hữu nô lệ. Ông George Washington, tổng thống đầu tiên của nước Mỹ, đã sở hữu trên 100 nô lệ. Ông Adams, tổng thống thứ nhì và là phó tổng thống của ông Washington, đã kịch liệt phản đối chế độ nô lệ. Mãi đến khi nội chiến kết thúc gần 80 năm sau khi ký Tuyên ngôn độc lập năm 1776, vấn đề này mới được giải quyết.
 http://www.voatiengviet.com/content/nuoc-my-mung-le-doc-lap/1950931.html

 
 

Friday, July 4, 2014


BÙI TÍN * TRẦN ĐỨC THẢO

Blog / Bùi Tín

Một cuốn sách rất cần tìm đọc




Cuốn Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối của Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, một nhà báo sống Pháp được Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ phát hành hơn 1 tháng nay. Sách in đẹp, dày 428 trang, gồm16 phần, thêm phụ lục.
Tôi đã đọc cuốn sách này một mạch trong 2 ngày. Rồi đọc lại 1 lần nữa, để rồi suốt 1 tuần lễ ngẫm nghĩ về nội dung của nó.
Trần Đức Thảo (1917 – 1993), con một nhà tư sản Phố Cổ đất Hà Thành, là một trí thức được đào tạo tại Pháp và cũng là một triết gia trẻ uyên bác khá nổi tiếng, từng tranh luận tay đôi với nhà triết học Jean Paul Sartre.
Năm 1951, khi 34 tuổi, Trần Đức Thảo tự nguyện về nước qua con đường Moscow với thiện chí “mang hiểu biết của mình về góp phần xây dựng đất nước”. Nhưng tai họa đã sớm đến với ông. Lãnh đạo VN, từ Hồ Chí Minh đến Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng lúc bấy giờ) đều tỏ ý không cần đến “một anh trí thức mọt sách do đế quốc đào tạo”, còn coi ông là một kẻ reo rắc tư tưởng phản động nguy hiểm. 
Ông suýt chết 2 lần, một lần khi tham gia đội cải cách ruộng đất ở Chiêm Hóa đã nói lên nhận xét là tòa án nhân dân trong xét xử địa chủ là không ổn, mang tính cưỡng bức phi pháp, làm cho cố vấn Trung Quốc phật lòng và ông suýt toi mạng về chuyện này; hai là khi Hà Nội được giải phóng, ông tham gia bằng 2 bài viết trên báo Nhân Văn cùng Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang, bị coi là “tên đầu sỏ nguy hiểm”. Từ đó ông bị giám sát, bỏ rơi trong cuộc sống, mất việc, mất vợ, sống lay lắt, lập dị, đi đôi guốc mộc, nói, khóc và cười một mình, cưỡi chiếc xe đạp trẻ con mang nhãn hiệu nước Nga giữa phố phường Hà Nội.
Đến nay, khi cuốn sách ra rồi, mọi bí ẩn, đồn đoán nhiều khi sai lạc về con người ông mới được giải mã khá là đầy đủ.
Thì ra sau khi bị đe dọa, trù úm, cô lập, đầy ải về cả tinh thần và vật chất, triết gia sinh bất phùng thời này quyết sống một cuộc sống 2 mặt, một mình mình biết một mình mình hay, cảnh giác cao, và nhiều khi phải đóng kịch với mọi người để tồn tại. Cái con người mà thiên hạ cho là lẩn thẩn, có khi như mất trí ấy thật ra vẫn cực kỳ minh mẫn, ghi nhớ, nghiền ngẫm, suy tư, với chủ tâm sẽ có ngày được phơi bày mọi sự ra ánh sáng, khi bản thân được tự do.
Và cái ngày tự do ấy đã đến, khi người ta muốn đuổi ông già 74 tuổi vô tích sự - và có thể là vô hại cho họ - ấy đi xa cho khỏi vướng víu. Tháng 3 năm 1991, ông được cấp một vé máy bay một đi không trở lại để sống nốt những ngày cuối đời trên đất Pháp.
Năm đầu trên đất Pháp, ông sống trong cơ sở của sứ quán đầy công an, an ninh, mật vụ CS, nên vẫn phải mang “mặt nạ”, cả khi họ cho phép ông nói chuyện về triết học, về phép biện chứng duy vật, về chủ nghĩa Mác. Để giữ mạng sống, ông vẫn phải đóng kịch, như một anh trí thức sơ cấp mụ mị, dở hơi, làm cho những anh chị em trí thức chờ đợi ở ông những phản biện sâu sắc đều ngỡ ngàng thất vọng, trong đó có chính người viết bài này (vào tháng 6/1992).
Một điều may mắn là anh Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, một người Hà Nội du học ở Pháp, vốn có cảm tình với triết gia Trần Đức Thảo, đã cùng giáo sư toán học Bùi Doãn Khanh thăm dò được mong muốn thầm kín của ông, và được ông cho biết ý định viết một cuốn sách trong vòng 6 tháng nhằm trình bày tất cả những suy nghĩ chân thực của ông suốt 40 năm qua để cống hiến cho nhân dân VN đau khổ, lầm than. Khi ông đột ngột qua đời ngày 23 tháng 4 năm 1993 trong nhà khách sứ quán CS, cuốn sách tâm huyết ông chưa viết xong, mới chỉ là những ghi chép, phác thảo, dàn bài, ý vụt đến… đã bị an ninh sứ quán thu lượm sạch. Nhưng họ đã bỏ sót một kho tư liệu quan trọng: những cuốn băng ghi âm của ông Thảo.
Suốt trong gần 6 tháng, cứ đến cuối tuần, khi an ninh và viên chức sứ quán lo vui gia đình, hai ông Tri Vũ và Bùi Doãn Khanh lại lặng lẽ đón ông Thảo đến một quán cà phê kín đáo, đặt ra những câu hỏi và ghi âm những câu trả lời của ông. Ngay sau khi ông Thảo đột ngột từ trần - một cái chết vẫn còn nhiều nghi vấn – hai ông Tri Vũ và Bùi Doãn Khanh đã bỏ công ghi lại thành 16 đoạn trên máy điện toán, rồi biên soạn lại thành cuốn sách Trần Đức Thảo - Những lời trăng trối.
Cuốn sách đã giải mã đầy đủ con người và nhân cách Trần Đức Thảo. Cho đến khi gần vĩnh biệt chúng ta ông đã dùng tư duy bén nhạy của một học giả và triết gia để soi sáng một đoạn hệ trọng của lịch sử dân tộc, thay thế cho những trang lịch sử chính thống trong đó con người và sự kiện đã bị xuyên tạc, bóp méo.
Trong sách, Trần Đức Thảo có nhắc đến ông Hồ vài chục lần, kể từ cuộc gặp ở Pháp, đến cuộc gặp ở chiến khu Việt Bắc, khi quy định phải đứng xa Bác 3 mét, khi được hỏi mới được nói, phải gọi ông Hồ là Bác và nhiều lần gặp sau ở Hà Nội, khi ông chỉ còn là một bóng người vật vờ, tồn tại mà như không tồn tại.
Xin mời bạn đọc thưởng thức vài đoạn ngắn trong cuốn sách nói đến “ông Cụ”, để thấy nhà triết học vẫn minh mẫn sâu sắc tinh anh đến mức nào.
… “ Đáng chú ý là từ khi tự đổi tên là Tất Thành(1911) (với khát vọng khiêm tốn là sẽ là kẻ thành đạt…) rồi cho đến sau này bỏ hẳn họ Nguyễn, lấy lại họ gốc là họ Hồ, và chọn cái tên cực kỳ kiêu sa, coi mình là bậc CHÍ MINH (1945)… Nói chung tên giả thường là rất tiêu biểu tâm thức như thế đã phản ánh chân thực những bước chuyển biến trong đầu óc của ‘ông Cụ’. Mỗi lần thay tên đổi họ là một bước có ý nghĩa trong hành trình vươn lên, đi tới để trở thành lãnh tụ.

 Đây là quá trình diễn biến của sự hình thành một cuồng vọng. Phải phân tích cặn kẽ từng cái biệt danh ấy như là một dấu hiệu tâm lý chính trị, từ lúc chi mong có cơ hội thành đạt, cho tới lúc quyết tâm, bằng mọi giá, mọi cách để đạt tới tột đỉnh của quyền lực như là một ông vua (Vương), là một người yêu nước chân chính (‘Ái Quốc’), là một lãnh tụ thông minh bậc nhất trong thiên hạ (CHÍ MINH)! Một nhà túc nho, một người trí thức có đầu óc tỉnh táo, có liêm sỷ, một bộ não minh triết không bao giờ tự ý xưng mình là ‘Vương’, là ‘Ái Quốc’, là ‘CHÍ MINH’ như thế…”.
Và đây là một đọan trích nữa nhận định tổng hợp về “ông Cụ” của triết gia họ Trần:
“Cụ Hồ là một nhân vật vô cùng phức tạp, vô cùng thông minh, rất mưu trí, một con người sắt đá đến mức vô cảm, vô tình, sẵn sàng chụp bắt mọi cơ hội để thành đạt. Một ý chí thành đạt không gì lay chuyển. Đấy là một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời, một con người không có tình bạn, không có tình yêu gia đình, tình yêu con cái, một bộ óc nung đúc một cuồng vọng, với một ưu tư duy nhất là phải leo lên đến tột đỉnh quyền lực đê đạt tới mục tiêu của mình…

 Vì thế ông Cụ không chấp nhận một ai trong đám chung quanh là ngang mình. Vì thế mà không cần trợ lý, cố vấn, vì thế không lắng nghe một ai. Bởi lãnh tụ chỉ chăm chú tìm chiến thắng vinh quang, của giấc mơ thế giới đại đồng, chứ không cảm nhận được nỗi đau đầy máu và nước mắt của dân trong thực tại. Một con người chỉ nghĩ và sống với khát vọng chiến thắng, chứ không muốn sống bình thường như mọi người. Riêng đối với tôi, cái nhìn đầu tiên của lãnh tụ là để đánh giá tôi trong tương quan chiến thắng ấy, và cách đánh giá ấy là một bản án không nơi kháng cáo. Vì thế tôi đã suy nghĩ nhiều về nhân vật lịch sử này! Bởi Người là một cái bóng ma quyền lực đã đè nặng lên thân phận tôi.
“Những điều tôi nói đây không phải để oán trách ‘ông Cụ’, bởi tôi biết đây là một nhân vật bi thảm, luôn bị chi phối bởi nhiều thế lực trong và ngoài. Nào là cuồng vọng của một lãnh tụ chính trị, nào là sức ép của Mao, nào là những ý đồ phức tạp trong Bộ Chính trị với nhiều phe phái kình chống nhau. Những sức ép ấy đã tiêu diệt hết tình cảm của con người bình thường nơi ‘ông Cụ’ và ‘ông Cụ’ bị đưa vào thế phải chấp nhận sống cô đơn, phải thủ vai ông thánh, ông thần, giữa bao thế lực quỷ quái, quá khích, lúc tả khuynh, lúc hữu khuynh… để đạt tới, để nắm vững đỉnh cao quyền lực…”. 
Còn có rất nhiều đoạn lý thú độc đáo khác nói về “Hà Nội giải phóng” năm 1955 và “Miền Nam giải phóng” năm 1975, về những buổi dự “hát cô đầu” cùng nhà văn Nguyễn Tuân, nhận xét về lực lượng Công an là bạn dân ra sao dưới một chế độ CS cảnh sát trị.Trong đọan kết, triết gia Trần Đức Thảo bộc bạch rằng vào lúc cuối đời ông đã nhận rõ chủ nghĩa Mác là một học thuyết sai lầm từ gốc, chứ không phải là nó đúng nhưng đã bị vận dụng sai, và nó sai cả về vũ trụ quan lẫn nhân sinh quan do cổ vũ đấu tranh giai cấp, bạo lực, chiến tranh, sai cả về phương pháp luận lô gích biện chứng duy vật - hiện tượng học. Theo ông, Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên đều là nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa Mác. Rất tiếc là ông đang say mê lý giải thì tai họa ập đến. Người ta thoáng biết ý định thâm sâu của ông cùng bè bạn thân thiết, và ông đã bị họ bịt mồm khi đang thổ lộ tâm tình thầm kín nhất. Dù sao ông đã mãn nguyện phần lớn khi đã trút gần hết bầu tâm sự giữ kín 40 năm ròng.
Chính do những lẽ ấy mà cuốn Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối là cuốn sách quý, rất nên tìm đọc, phổ biến rộng và bàn luận để tăng thêm hiểu biết về lịch sử và những nhân vật nước ta. Tuy tác phẩm này đã ra đời chậm hơn 20 năm, nhưng dù sao nó vẫn là một cuốn sách rất có giá trị với thời cuộc hiện tại.
* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Bùi Tín

Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.

 http://www.voatiengviet.com/content/blog/1949529.html

VŨ ĐỨC KHANH * HOA KỲ PHẢI CỨNG RẮN

04-07-2014


Đã Đến Lúc Hoa Kỳ Phải Cứng Rắn với Việt Nam

CHIA SẺ BÀI VIẾT NÀY:
Khanh Vu Duc
Liêm Nguyễn lược dịch theo Asia Sentinel 
Bắt tay cũng đủ rồi, giờ là lúc hành động.
Tối Hậu Thư Cho Những Thay Đổi Cần Thiết

Quan h của Hoa Kỳ với Việt Nam nhìn chung là một thất bại. Hà Nội tiếp tục lợi dụng mối quan hệ với Hoa Kỳ, nhưng lại không làm gì để đáp lại. Đây là lúc Hoa Kỳ cần làm rõ xem Hà Nội muốn quan hệ kiểu nào với Washington.
Trước hết cần nói rõ là bài này nhằm vào chính quyền cộng sản hiện nay ở Hà Nội chứ không phải là đất nước Việt Nam. Sẽ là sai lầm nghiêm trọng nếu đánh đồng hai khái niệm này.
 
Tuy nhiên, đi vào cụ thể thì không hề đơn giản. Nói gì thì nói, chính quyền cộng sản vẫn nắm quyền lực ở Việt Nam, và nếu Hoa Kỳ muốn thiết lập bất kỳ hình thức quan hệ đối tác chiến lược nào với Việt Nam, trước tiên Washington phải nói chuyện với Hà Nội. Thật không may cho Hoa Kỳ, Hà Nội là một chính quyền tham nhũng và thường xuyên vi phạm nhân quyền.
 
Thực ra thì Hoa Kỳ cũng đã từng phải quan hệ với nhiều chính phủ tham nhũng và độc tài trước đây, ví dụ như chế độ Shah ở Iran, chế độ Saddam Hussein trong cuộc chiến Iran-Iraq, hay chính phủ Pinochet của Chile. Nhưng ít nhất là các chính phủ đó còn có lợi cho Hoa Kỳ. Những người cộng sản ở Việt Nam hiện chẳng mang lại lợi ích gì cho Hoa Kỳ cả.
 
Khuyến nghị này không nhằm kêu gọi sự thay thế cái chính thể tham nhũng, độc tài hiện nay ở Việt Nam bằng một chính quyền khác thích hợp hơn với quyền lợi của Hoa Kỳ . Thay vào đó, dựa trên những hiểu biết và sự tôn trọng những nguyện vọng của người dân Việt Nam, khuyến nghị này kêu gọi Washington hãy ngừng chơi ván cờ của Hà Nội, và phải đòi hỏi mạnh mẽ hơn, không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà còn cho chính lợi ích của Washington.
 
 Hà Nội không phải là một đối tác của Bắc Kinh và không có nhiều ảnh hưởng với Trung Quốc. Tuy nhiên, với mong muốn quay trở lại vùng châu Á-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, Washington đã bắt đầu xem Hà Nội không chỉ là một đối tác kinh tế mà còn là một đối tác chiến lược trong khu vực.
 
Sự làm mới và cải thiện trong quan hệ giữa hai nước đã được khẳng định qua việc công bố mối quan hệ đối tác toàn diện của tổng thống Barack Obama và chủ tịch Trương Tấn Sang vào 07/2013. Sự hợp tác toàn diện này được mong đợi sẽ làm gia tăng đầu tư của Hoa Kỳ trong việc hỗ trợ hàng hải, kinh tế, môi trường, giáo dục và nhân quyền. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng được mong đợi là sẽ giúp mở đường cho Việt Nam gia nhập một hiệp định tự do thương mại đầy tham vọng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tức quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
 
Mặc cho những nỗ lực của Hoa Kỳ trong việc hỗ trợ Việt Nam, Washington đã có được những gì từ Việt Nam? Nhiều người đã hy vọng rằng qua việc giúp Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, Hà Nội sẽ tôn trọng các yêu cầu của Washington trong việc nới lỏng quyền tự do ngôn luận. Còn lâu, Hà Nội vẫn tiếp tục đàn áp một cách có hệ thống các nhà bất đồng chính kiến ​​và những người hoạt động cho nhân quyền.
 
Hoặc Phải Thay Đổi, hoặc Không Có Gì Hết
 
Washington đang nắm trong tay các quân bài, chứ không phải Hà Nội. Sẽ là cường điệu về khả năng của Hà Nội khi nói rằng các nhà lãnh đạo của Việt Nam có thể chơi ngang hàng và bình đẳng với Bắc Kinh. Washington cần hiểu rằng chế độ hiện hành tại Hà Nội là một trở ngại không cần thiết cho các mục tiêu chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở châu Á-Thái Bình Dương. Đi cùng một con đường với chính quyền cộng sản Việt Nam sẽ mang lại ít hiệu quả thực tế nhất.
 
Mặc cho sự đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam và việc ủng hộ nước này gia nhập WTO, chưa nói đến sự hỗ trợ đang được mong đợi của Hoa Kỳ để Việt Nam gia nhập TPP, Việt Nam đã cho thấy họ thờ ơ với các mối quan tâm của Hoa Kỳ. Hà Nội đã được hưởng lợi từ mối quan hệ gần gũi hơn với Washington, nhưng lại không cho lại bất cứ điều gì. Một mối quan hệ như vậy cần phải được chấm dứt.
 
Hoa Kỳ cần phải yêu cầu Việt Nam làm rõ một lần ý định của mình. Tất nhiên, một quyết định như vậy không phải là điều dễ dàng cho Việt Nam. Theo đúng nghĩa đen, Trung Quốc luôn phủ bóng trong các quyết định như vậy ở Việt Nam.
 
Mặc dù Hoa Kỳ và Việt Nam thống nhất quan điểm trong mối quan ngại với sự quyết đoán ngày càng gia tăng của Trung Quốc, Hà Nội dường như thoả mãn trong mối quan hệ như hiện nay với hai tay chơi lớn. Không muốn ngả hẳn v Hoa Kỳ hay Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã chọn cách đi dây trong hai mối quan hệ này. Hà Nội đã luôn cẩn thận trong việc chọn các mặt trận, và cũng không vội vã gì để chọn theo bên nào.
 
Tuy nhiên, bây giờ là lúc mà chính quyền Việt Nam phải chọn một bên. Chứ không phải cứ đứng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc và làm cho cả hai đều khó chịu, Hà Nội phải quyết định nhanh chóng là sẽ ngả theo phe nào. Tất nhiên, Hà Nội có thể chọn đi một mình, nhưng ngay cả trong trường hợp đó Hoa Kỳ sẽ không có lý do gì để tiếp tục hỗ trợ cho Việt Nam, điều có thể ảnh hưởng đến việc gia nhập TPP của nước này.
 
Cũng có những lo lắng là một tối hậu thư như vậy sẽ làm các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam lo sợ và ngả hẳn về phe của Trung Quốc. Tuy nhiên, cần nhớ là nếu Hà Nội tìm cách làm vừa lòng Bắc Kinh như vậy, họ sẽ lộ ra trong con mắt của người dân Việt Nam như những kẻ phản bội bán nước. Một chế độ như vậy sẽ không tồn tại lâu ở Việt Nam.
 
Hoa Kỳ sẽ mất rất ít khi đưa ra một tối hậu thư như vậy. Những thiệt hại về kinh tế hay chiến lược nếu có trong trường hợp Hà Nội quay lưng lại với Hoa Kỳ có thể được thay thế bằng Indonesia, Singapore, Malaysia, Philippines và/hoặc Thái Lan. Trong trường hợp đó, Hoa Kỳ sẽ mất một đối tác nằm ngay sát Trung Quốc, nhưng duy trì nguyên trạng mối qua hệ như hiện nay với một chính quyền Việt Nam không dám ngả theo Hoa Kỳ thì cũng chẳng có lợi gì cho Hoa Kỳ cả.
 
Nếu Việt Nam về phe Hoa Kỳ thì các điều khoản với Hà Nội phải được đặt ra một cách rõ ràng: Việt Nam phải trải qua cải cách chính trị và dân chủ, và Washington sẽ chỉ tiếp tục mối quan hệ khi Hà Nội cho thấy các nỗ lực mạnh mẽ để cải cách thể chế. Đây có thể chỉ là một giả định cực đoan, nhưng giờ là lúc Washington nên chấm dứt sự nhầm lẫn là Hà Nội đang nắm trong tay tất cả các quân bài.

 Theo blog Liem Nguyen

GS. NGUYỄN VĂN TUẤN * VIỆT CỘNG ĐẦU HÀNG

04-07-2014


Để lại gì cho mai sau?

CHIA SẺ BÀI VIẾT NÀY:
Gs Nguyễn Văn Tuấn 
Liên quan đến vấn đề lấy lại Hòang Sa – Trường Sa từ Tàu, hiện nay giới lãnh đại hình như đã đầu hàng. Họ nói nếu đời này không lấy lại được, thì đời sau, đời sau nữa, và đời sau nữa, v.v. Tôi thấy quan điểm này rất buồn cười vì nó không đúng đạo lí của người VN.
Đạo lí của người VN là bằng mọi cách tạo điều kiện cho con cháu mình phát triển hơn. Phải làm sao con hơn cha. 

 Đời cha mẹ chẳng có ai có bằng đại học, nên cha mẹ phải “cày” ngày đêm để con được đi học đàng hoàng. Khi cha mẹ đã có nhà cửa, cha mẹ còn tìm cách mua nhà hay đầu tư cho con cái. Nói chung người VN luôn tìm cách tạo điều kiện tốt hơn cho con cái đời sau, thậm chí cho cả cháu (nếu có điều kiện).
Còn đằng này, Nhà nước hiện hành không làm gì để thu hồi HS-TS về VN, mà còn đùn đẩy cho con cháu đời sau! Nhưng thật ra, cũng chẳng có gì để để lại cho đời sau. Chẳng hạn như một thảo luận trên VNN có câu rất đáng chú ý “Như vậy, cái chúng tôi để lại cho thế hệ sau là gì? Là hết than, hết dầu, hết cá, hết rừng.” Nhưng tác giả giả bài này rất từ hào điều đó “chúng tôi để lại cho thế hệ trẻ một con đường duy nhất là phải học là không còn dựa vào tài nguyên thiên nhiên nữa. Đó là điều mà tôi tự hào để lại cho thế hệ sau”. Tôi thì không tự hào chút nào cả; vì đó là một suy nghĩ vô trách nhiệm, nó giống như thế hệ này ăn hết rồi vỗ vai thế hệ sau: cố găng vươn lên bằng chính tài năng của mình. Một câu hỏi như thế cũng rất thích hợp cho những kẻ đang ngày đêm phá nát rừng biển của VN.
Tôi chợt nhớ đến luật môi trường ở Úc. Ở Úc họ rất nghiêm ngặt với môi trường, tất cả các hãng sửa xe hơi phải có hầm chứa nhớt và dầu riêng. Bất cứ một ai chỉ cần đổ 1 lít nhớt xuống cống là Hội đồng thành phố đến ngay vì họ có thể truy tìm nguồn gốc rất dễ dàng. Một người VN bị tội đổ nhớt vào ống cống (vì nghĩ chẳng ai biết), và cảnh sát môi trường đến phạt và phải đem ra tòa, tổng chi phí lên đến gần 5000 AUD! Họ lí giải rằng nếu ai cũng đổ nhớt như thế thì cá sẽ chết, và mình chẳng còn gì để cho thế hệ mai sau. Xứ tư bản bóc lột mà sao chúng suy nghĩ nhân văn thế?!
Còn ở VN, không để lại cơ sở vật chất và tài nguyên, cũng chẳng có tiền bạc (vì đang thiếu nợ chồng chất) mà nói là thế hệ sau sẽ thu hồi HS-TS! Đó là một cách buôn bán hi vọng không có thật.

Theo FB Nguyen Tuan
—–

JAMES B. STEINBERG & M.O' HANON * HOA KỲ-TRUNG QUỐC

03/07/2014


Làm sao cho mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc tránh bùng nổ

James B. Steinberg & Michael O'Hanlon, foreignaffairs.com
Đỗ Kim Thêm dịch
Trong phiên họp thượng đỉnh tại California vào tháng sáu vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã cùng tự kết ước sẽ tạo niềm tin giữa hai nuớc. Từ đó, những diễn đàn thông tin chính thức được mở ra (thí dụ như gần đây hai vị Bộ trưởng Quốc phòng của hai nước thông báo hoạt động của diễn đàn đối thoại về các vấn đề quân sự) nhằm bổ sung cho các diễn đàn đang có như Diễn Đàn Đối Thoại Chiến Lược và Kinh Tế (gồm có các nhà ngoại giao cao cấp và giới chức kinh tế). Nhưng dù với những nỗ lực này, sự tín nhiệm giữa hai thủ đô – và giữa hai quốc gia nói chung – vẫn còn quá ít, và khả năng xung đột giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc do tình cờ hay ngay cả do chủ tâm dường như đang gia tăng. Trước những phí tổn tiềm tàng lớn lao của tranh chấp mà cả hai phiá sẽ phải gánh chịu, cả hai đang hình dung làm sao tránh được vấn đề, đây là một trong những thách thức quan trọng nhất cho thời gian sắp đến. 

Những yếu tố đang làm suy giảm niềm tin là chuyện dễ xác định. Bối cảnh an ninh và kinh tế của Đông Á đang thay đổi toàn diện, mà chủ yếu là bắt nguồn từ sự trỗi dậy đáng kể về kinh tế của Trung Quốc trong những thập niên vừa qua. Bù lại, phép lạ kinh tế cho phép Trung Quốc tăng khả năng quân sự và thăng tiến trong vai trò chính trị trong và ngoài khu vực. Giới lãnh đạo và những nhà chiến lược lừng danh của Trung Quốc cố nỗ lực để xác quyết rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ là an hoà và không tạo đe doạ cho các lân quốc hay trật tự kinh tế và chinh trị thế giới đang hiện hữu. Nhưng một vài thành viên của cộng đồng thế giới vẫn còn quan ngại và ngay cả nghi ngờ khi họ ghi nhận rằng lịch sử và lý thuyết trong quan hệ quốc tế đã có nhiều thí dụ dẫn chứng về tranh chấp bất nguồn từ xung đột giữa các nước đang trỗi dậy và đang chiếm ưu thế. 
Hơn thế, những hành động gần đây của Trung Quốc gây nhiều nghi ngờ hơn, khi Trung Quốc có những cuộc hải tập đầy kiên quyết trên biển Hoa Đông và Biển Đông và những hành vi tuyên bố đơn phương “xác định bảo vệ vùng không phận” chung quanh Đảo Điếu Ngư (mà người Nhật gọi là Đảo Senkaku) trong vùng Hoa Đông. Những nhà hoạch định quân sự của Hoa Kỳ lo âu hơn về lộ trình hiện đại hoá quân sự của Trung Quốc và về sách lược chống thâm nhập và loại trừ khu vực (anti-access/area-denial, A2/AD), mà họ xem nỗ lực của Trung Quốc là che đậy quá vụng về vì cốt làm suy yếu khả năng của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ quyền lợi và hỗ trợ các kết ước với đồng minh trong vùng Tây Thái Bình Dương. 
Cùng thời điểm này, các cộng sự viên của Obama đang tận lực cổ vũ cho sự chuyển hướng chiến lược, “chuyển trục” hay “tái quân bình” hướng về châu Á. Chính quyền Hoa Kỳ xác quyết là động lực này nhằm gia tăng ổn định khu vực, đem lợi ích cho tất cả, hơn là ngăn chận hay đe doạ Trung Quốc. Nhưng chỉ có một thiểu số người Trung Quốc, đặc biệt là các giới chức thuộc lĩnh vực quân sự và an ninh quốc gia, tin như vậy. Họ cũng đọc lịch sử và lý thuyết về quan hệ quốc tế và kết luận rằng Hoa Kỳ cũng giống như những cường quốc khác trước đó, nhất quyết duy trì bá quyền, loại bỏ sự trỗi dậy và làm cho Trung Quốc có thể bị tổn thương. Để minh chứng hung đồ của Hoa Kỳ, họ chỉ ra rằng những khả năng của Hoa Kỳ tăng lên, thí dụ như mở rộng phòng vệ nguyên tử trong khu vực, những thoả ước mới hay bổ sung việc thiết lập căn cứ tại Úc, Guam hay Singapore, những thao diễn quân sự gần đây và chuyến bay thám thính kề cận lãnh thổ Trung Quốc, cũng như lập trường kiên quyết của những liên minh an ninh trong thời Chiến Tranh Lạnh. Họ quả quyết khái niệm quân sự của Hoa Kỳ về trận tuyến phối hợp không và hải quân đang hình thành có một biện minh khả chấp, đó là muốn cưỡng chế Trung Quốc với đe doạ sẽ ngăn chận trận tấn công phủ đầu. 
Trước cảnh bất trắc xoay quanh tương lai của nền an ninh châu Á, những hành động của mỗi phe có thể được hiểu và xem như hợp pháp khi có những biện pháp ngăn chận khả năng thù nghịch hay xâm lăng trong tương lai của đối phương. Nhưng điều này chỉ đúng trong một lối suy nghĩ thuần lý ngắn hạn, có thể làm phát sinh vòng lẩn quẩn trong trường kỳ, gây sự bất tín trầm trọng và dẫn đến xung đột trong tương lai do cách tiên tri của mình. Đó chính là lý do tại sao cần phải chủ yếu tìm cách để vượt qua hay giảm thiểu tình huống khó xử về mặt an ninh.
Một cách ngăn chận những xung đột không cần thiết là giảm bớt vai trò hung hãn do những nhận thức sai lạc gây ra. Việc này có thể biểu hiện từ hai chiều hướng hoàn toàn đối nghịch: một là khi cảm nhận bị đe doạ mà không ai có chủ định gây ra và hai là khi không tin ý định của đối phương chỉ lo bảo vệ quyền lợi. Điều này có nghiã là thách thức thực tế cho Washington và Bắc Kinh là xua tan những lo sợ sai lầm, trong khi duy trì ngăn chận bằng cách tạo ra những đe doạ khả tín mà họ nghiêm túc chủ mưu. Điều quý là lịch sử và lý thuyết có đề ra bốn phương tiện hữu dụng trong chiều hướng này: nguyên tắc kiềm chế, hỗ tương, minh bạch và lòng kiên quyết. 
Kiềm chế là ý muốn từ bỏ mọi hành vi có thể làm tăng cường an ninh của phe mình nhưng sẽ thể hiện đe doạ cho phe khác. Hỗ tương là cách đáp ứng đúng theo cách hành động của đối phương – trong trường hợp này, kiềm chế được hiểu như là dấu hiệu của lòng tự chủ kiên trì (đúng hơn là yếu kém) và bị vấp phải một sự cạnh tranh hơn là tận dụng. Tính minh bạch giúp xoa dịu những lo sợ do những động thái tích cực có thể nhận ra được của đối phương mà ý định thù nghịch còn dấu kín. Và sự kiên quyết đem lại một khoảng cách an toàn làm khủng hoảng không leo thang và tạo dễ dàng cho từng phe khởi động việc kiềm chế, hỗ tương và minh bạch. Điều may mắn cho toàn thể chúng ta là hiện có đủ các loại biện pháp thực tiễn để Washington và Bắc Kinh có thể đảm nhận trong chính sách an ninh quốc gia hầu có thể đem những phương tiện làm tăng thêm tín nhiệm và giảm nguy cơ xung đột. 
Tư duy theo truyền thống
Theo quan điểm của Washington, những ý định tương lai cuả Trung Quốc có nhiều bất trắc trầm trọng, nó bắt nguồn từ việc kinh phí quốc phòng gia tăng nhanh chóng và tiếp tục duy trì, cùng song hành với mức đầu tư quy mô cho vũ trang quy ước nhằm thách thức khả năng Hoa Kỳ. Theo những ước lượng phóng khoáng nhất về kinh phí quốc phòng hiện nay của Trung Quốc là gần khoảng 200 nghìn tỷ hàng năm hay 2% tổng thu nhập quốc gia, nhưng vẫn còn ít hơn so với 1/3 kinh phí của Hoa Kỳ (hiện nay chiếm khoảng 600 nghìn tỷ cho một năm, nghiã là vào khoảng 3,5% tổng thu nhập quốc gia), đây là một cách so sánh chính xác. Theo mức tăng trưởng hiện nay, ngân sách quốc phòng hằng năm của Bắc Kinh sẽ không bằng ngân sách quốc phòng của Washington cho đến khoảng năm 2030. Chính vì thế, Hoa Kỳ có thể dựa vào số lượng vũ khí hiện đại, phần lớn còn tồn kho, kinh nghiệm chiến đấu trong thời gian qua, kinh phí của các đồng minh và đối tác (hiện nay vào khoảng 400 nghìn tỷ một năm).
Nhưng nếu Trung Quốc muốn xoa dịu mối lo âu của quốc tế và chứng tỏ mục tiêu tự phòng vệ hợp pháp hơn là khả năng dự phóng quyền lợi ra hải ngoại và đe doạ kẻ khác, thì Trung Quốc cũng còn có nhiều biện pháp tích cực có thể thực hiện được. Đứng trước việc kinh phí Hoa Kỳ không phải chỉ dành cho châu Á mà toàn thế giới, một trường hợp có thể thuyết phục được là nếu Trung Quốc đảm nhiệm vai trò quốc phòng phù hợp khi chi xuất kinh phí khoảng phân nửa kinh phí của Hoa kỳ. Vì thế, bằng cách giảm mức tăng kinh phí quốc phòng trong những năm sắp đến, Trung Quốc có thể minh chứng ngắn gọn về mục tiêu tự phòng thủ hơn là cạnh tranh toàn diện. Trung Quốc có thể biểu hiện kiềm chế trong lúc tiếp thu những hệ thống vũ khí (thí dụ như đầu đạn nguyên tử viễn liên chống chiến hạm). Mục tiêu của loại vũ khí này, nếu trang bị với một số lượng lớn, dường như mâu thuẫn với kiên quyết hoan nghênh sự hiện diện quân đội của Hoa Kỳ tại vùng Tây Thái Bình Dương. Nói chung, Trung Quốc có thể làm minh bạch hơn về kinh phí quốc phòng và công chi và soi sáng hơn mục tiêu về sách lược A2/AD. 
Bù lại, Hoa Kỳ có thể đề ra những biện pháp làm sáng tỏ là chương trình hiện đại hoá quân đội theo quy ước không nhằm mục tiêu đe doạ quyền lợi hợp pháp về an ninh của Trung Quốc. Ngân sách quốc phòng của Hoa Kỳ đang giảm sút là một biểu hiện kiềm chế như thế. Nhưng Washington cũng có thể làm nhiều việc hơn trong chiều hướng này, thí dụ như giải thích mục tiêu của khái niệm một loại trận chiến vừa không và hải quân, đổi tên khái niệm hành quân hỗn hợp không và hải quân, gồm cả những dịch vụ quân sự bên cạnh hải lực và không lực để chuyển hướng theo chính sách châu Á của Hoa Kỳ, và bổ sung một vài đặc điểm thiên về tấn công của sách lược phối hợp không và hải quân. Chiến lược này có vẻ đe doạ trực tiếp đến khả năng về chiến lược, kiểm soát và chỉ huy của Trung Quốc với những trận tấn công phủ đầu có thể xảy ra khi có xung đột. Để gây tín nhiệm trong việc bổ sung sách lược này, Hoa Kỳ có thể giới hạn việc trang bị thêm các nguyên tử có đầu đạn điều khiển chính xác từ xa và những loại bom chiến lược, vì nếu chỉ cần tiếp nhận một số lựợng vừa đủ, có thể xem như đe doạ sinh tử cho Trung Quốc. Khi huy động kết hợp các khả năng quy ước mà không đòi hỏi phải lệ thuộc nặng nề vào việc phải leo thang (bao gồm những căn cứ phòng chống hữu hiệu và có khả năng sinh tồn cao hơn khi gặp phải tấn công), Washington có thể xoa dịu cuộc chạy đua vũ trang giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ và làm giảm nguy cơ bộc phát tranh chấp ngay từ khởi thủy của cuộc khủng hoảng. 
Từ chiến tranh trong không gian đến trên mạng
Những biện pháp xây dựng niềm tin biểu tượng nhất trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh là những thoả ước về kiểm soát vũ khí chiến lược, dù có nhiều vấn đề, nhưng cuối cùng cũng đã giúp cho Washington và Mạc Tư Khoa gia tăng ổn định trong thời khủng hoảng và giới hạn chạy đua vũ trang về vũ khí hạt nhân về tấn công hay tự vệ. Với nhiều lý do khác nhau, những hình thức thoả ước về kiểm soát vũ khí trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Liên Xô ít phù hợp cho mối quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ hiện nay, và trong một vài trường hợp, có thể chứng tỏ là phản tác dụng. Nói như thế có nghĩa là có những biện pháp trong vũ đài của các loại vũ khí không quy uớc có thể làm giảm nghi ngờ nhau và khả năng leo thang xung đột, hoặc do tình cờ hay quá sớm.
Một thí dụ là về chiến tranh không gian. Trước việc Hoa Kỳ lệ thuộc nặng nề về vệ tinh cho cả hai mục tiêu quốc phòng và dân dụng, những nhà hoạch định Trung Quốc đang công khai nghiên cứu cách làm dung hoà những ưu thế trong lĩnh vực không gian dành riêng cho những cuộc hành quân của Hoa Kỳ. Điều hiển nhiên là vì sự lệ thuộc này mà Hoa Kỳ bị áp lực buộc phải chống trả nhanh chóng, nếu như Hoa Kỳ tin là khả năng phòng thủ đang nguy cơ, bỏ ít thì giờ hơn dành cho việc điều tra hay ngoại vận hầu làm giảm khủng hoảng. Chính vì lý do này mà những biện pháp có thể làm gia tăng an ninh bảo vệ không gian của Washington là chuyện bắt buộc, và những biện pháp này cũng sẽ trở nên thu hút hơn đối với Bắc Kinh, khi làm gia tăng khả năng Bắc Kinh bảo vệ không gian qua thời gian. Giữ an ninh tuyệt đối cho không gian là chuyện không thể đảm bảo, vì mỗi vệ tinh dân dụng, khi có thể được điều động dễ dàng, có khả năng để phá hủy các vệ tinh khác. Khi chấp nhận những biện pháp như thoả thuận về những “khu vực không bị ảnh hưởng” quanh vệ tinh, việc đề ra những quy cách ứng xử có thể làm hợp pháp hoá việc sử dụng quân lực khi phải tự phòng vệ, không coi việc sử dụng này như khiêu khích. Trong hoàn cảnh này, kiên quyết cũng là quan trọng, khi Hoa Kỳ cũng cần dùng phần thặng dư trong hệ thống không gian và hàng không để bù đắp cho mức độ tổn thương nào đó mà họ không thể tránh được. 
Một cách tương tự, Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể tương thuận theo một thoả ước, mà lý tưởng nhất là có quan hệ đến các quốc gia khác, cấm các vệ tinh đụng nhau hay bùng nổ có thể gây ra mảnh vụn trên một cao độ khoảng 1000 dặm trong không gian, khu vực mà các vệ tinh thường hoạt động thấp trong quỹ đạo của trái đất. Khi khu vực phủ đầy các mảnh vụn, nó sẽ làm cho các hoạt đông không gian trong tương lai nguy hiểm. Vì thế, các trắc nghiệm về các hệ thống phòng thủ nguyên tử xảy ra ở một cao độ sẽ thấp hơn. Một thoả ước như thế sẽ đem lợi cho các phe và ít gây thiệt hai. Cả hai phe cũng có thể thoả thuận không triển khai hay trắc nghiệm các loại vũ khí chống vệ tinh hoặc không điạ. Việc thử thách các ràng buộc tự nó không loại trừ tiềm năng cho các phòng chống, dĩ nhiên, nhưng biện pháp này có thể làm giảm tín nhiệm của từng phe đã có trong vấn đề này, cùng lúc khi cả hai có ý muốn đầu tư và dựa vào những hệ thống của hiệu năng mà nó có thể trở nên bất ổn.
Kiềm chế có thể giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc gia tăng niềm tin thuộc lĩnh vực hạt nhân. Thí dụ như kiềm chế của Trung Quốc trong chừng mực thuộc phạm vi điều động hạt nhân gây được niềm tin là làm đúng theo đặc tính phòng vệ của sách lược hạt nhân. Cũng tương tự như vậy, kiềm chế của Hoa Kỳ trong việc điều động một số lớn vũ khí tên lửa ngăn chận có thể hoá giải khả năng báo thù của Trung Quốc, đem lại cho Hoa Kỳ một cảm tưởng yên tâm hơn về ý định phòng thủ. Ngay khi không có quy định thành văn bản, kiềm chế khi được tôn trọng liên tục sẽ tạo tín nhiệm. Biện pháp này có thể thúc đẩy hai phiá phê chuẩn Thoả Ước Toàn Diện về cấm thử vũ khí nguyên tử và thực thi các thể thức kiểm tra song hành. 
Do những thoả ước minh bạch mà những biện pháp như thế có thể gia tăng, thí dụ như quy chế “không gian tự do” nhằm tạo thêm tín nhiệm trong việc kiềm chế cho từng phía. Quy chế này có thể đề ra do những thoả thuận mà Hoa Kỳ, Liên Xô, các quốc gia khác thuộc Khối Minh Ước Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO) và Khối Minh Ước Phòng Thủ Warsaw củ, quy định việc bay qua lãnh thổ của từng nước khác (vào mức độ khoảng 100 chuyến bay một năm) theo một thoả ước ký kết từ đầu thập niên 1990. Khi các quốc gia biết cách bảo vệ các tin bí mật cực kỳ quý giá từ các chuyến bay qua không phận như vậy, thì thoả ước không tạo quan ngại thực sự nào về an ninh quốc gia. Những thỏa ước như thế có thể làm giảm đi sự bối rối của Bắc Kinh về những chuyến bay thám thính thường xuyên của Hoa Kỳ gần vùng cận duyên của Trung Quốc. Như Cựu Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Zbigniew Brenzinski đề nghị, những chuyến bay này có thể tiết giảm một cách chừng mực, đây là một bước tiến cần được nghiên cứu cẩn trọng, nếu Trung Quốc muốn chứng tỏ thiện chí đáp ứng hỗ tương với mức độ minh bạch hơn.
Không gian mạng đang bị thách thức nghiêm trọng. Cũng giống như trong không gian, mức độ tùy thuộc nặng nề của Hoa Kỳ về cơ sở hạ tầng trong không gian mạng gây ra những tổn thương, nên tạo áp lực Hoa Kỳ phải chống trả thật nhanh chóng trước bất kỳ một cuộc tấn công nào, kể cả trong trường hợp trước khi xác minh nguồn gốc tấn công. Gần đây Hoa Kỳ quan tâm nhiều hơn về sự tích cực phòng thủ cho các cơ sở hạ tầng, biện pháp này dường như hàm ý là Washington muốn chống trả nhằm hoá giải những đe doạ đang phát sinh, cùng với tất cả mọi nguy hiểm cuả các biện pháp trả đũa đang leo thang.
Có nhiều lý do để tin rằng cả Washington và Bắc Kinh dường như không nhắm mục tiêu vào cơ cấu hạ tầng của không gian mạng cho đến khi nào hoặc trừ phi cả hai tự nhận ra rằng đang cận kề với xung đột trầm trọng. Nếu không có gì khác thì lệ thuộc hỗ tương về kinh tế của các quốc gia đem lại sự đảm bảo chốngi các đột kich. Nhưng các thành phần khác, kể cả các tác nhân không phải nhà nước, như nhóm khủng bố hay các tin tặc, có thể quan tâm đến việc tạo tấn công ngụy tạo để gây khủng hoảng hoặc ngay cả chiến tranh. Chính vì lý do này, Hoa Kỳ và Trung Quốc nên đồng thuận phối hợp điều tra những kẻ tấn công nặc danh trên mạng, nhằm tạo minh bạch và kết ước khả tín để tránh nhắm mục tiêu vào hạ tầng cơ sở dân sự cuả đối phương. Và chính sự kiên cường là quan trọng đặt biệt trong chiến tranh trên mạng, vì khi mỗi phe càng giảm bớt khả năng bị tổn thương do đột kích, thì họ càng có nhiều thì giờ nghiên cứu những gì thực sự diễn ra và giảm đi nguy hiểm của vòng quay leo thang bất định.
Cảnh giác láng giềng
Bắt nguồn từ tình hình căng thẳng đang gia tăng tại vùng biển Đông và Nam Trung Quốc mà đối đầu trực tiếp quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong tương lai gần là triển vọng khả dĩ nhất. Những kết ước về an ninh của Hoa Kỳ với Nhật Bản và Phi Luật Tân, mà cả hai đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, và ý muốn của Hoa Kỳ trong xác lập quyền giao thông hàng hải trong khu vực (đã khởi đầu cho cuộc đụng độ giữa chiến hạm USS Cowpens với chiến hạm Trung Quốc trong tháng chạp vừa qua) có thể buộc Washington vướng vào trong tranh chấp, cho dù Hoa Kỳ không hề có yêu sách về lãnh thổ trong khu vực. Những xung đột này dường như không thể nào giải quyết được trong thời gian sớm nhất. Các quan tâm thực tế của các phe hữu quan còn quá ít, một vài trong số những xung đột này có thể được xử lý, khi có những ý muốn hỗ tương đủ mạnh để tiến hành. Nhưng các phe phái dính liú dường như e sợ là bất cứ biểu hiện kiềm chế hay thích nghi là dấu hiệu yếu đuối, đưa tới thái độ nhiều kiên quyết hơn trong tương lai. Hành vi này làm cho tất cả thấy việc tìm cách ngăn ngừa khủng hoảng ngay lúc đang phát sinh hay giữ thái độ kiềm chế là có tầm quan trọng hơn. 
Trung Quốc có thể tái tục bảo đảm về những ý định của mình khi thoả thuận và áp dụng quy cách ứng xử đối với biển Nam Trung Quốc do Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) đề nghị. Kiềm chế việc điều quân và thoả thuận về các thủ tục hành quân sẽ làm giảm đi các nguy cơ biến động hay tính toán sai lầm, tất cả làm cho những kiên quyết trong thiện ý hiếu hoà của Bắc Kinh được khả tín hơn, những thủ tục tương tự như vậy cũng có thể thoả thuận liên quan đến vụ tranh chấp của các đảo Điếu Ngư/Senkaku. (Đây là một lĩnh vực mà Bắc Kinh cần thay đối chính sách rộng lớn hơn, cũng có những lĩnh vực khác mà gánh nặng về trách nhiệm bất tương xứng tạo cho Washington, thí dụ như trong việc giảm bớt khuôn khổ lực lượng tấn công nguyên tử trong việc phối hợp với Nga).
Ngoài ra, các giới chức Hoa Kỳ và Trung Quốc cần thiết lập một cơ chế thông tin rõ ràng và trực tiếp hơn trong khi có khủng hoảng. Từ năm 1998, cả hai nước thiết lập đường dây nóng cho hai giới lãnh đạo liên lạc, nhưng họ ít có cuộc trao đổi về lĩnh vực quân sự, mà phần lớn vì cảnh giác của Bắc Kinh trước những kết ước này. Kể từ năm 1998, thoả ước quân sự khuyến khích mọi hoạt động của mỗi quốc gia nên thông qua tham vấn với minh bạch, nhưng không đề ra quy cách hành quân của lộ trình hay các hoạt động chiến thuật đặc biệt. Thiết lập hình thức đường dây nóng để liên lạc về mặt quân sự rập theo khuôn mẫu của Hoa Kỳ và Liên Xô trước đây sẽ tạo ý nghiã hơn. Xét về mặt tối thiểu, cả hai nước sẽ có được một cơ chế tiếp xúc toàn diện hơn cho giới lãnh đạo cao cấp, tạo thuận lợi thông tin khẩn thiết trong những tình huống khủng hoảng. 
Cả hai phiá, và cũng có thể các tác nhân thuộc khu vực khác, có thể thoả thuận về một hiệp ước quy định các đụng độ trên biển, tương tự như thỏa thuận giữa Washington và Moscow trong thời Chiến Tranh Lạnh, không phải chỉ dành cho hải quân mà còn cho các lực lượng tuần duyên và có thể cho các thương thuyền. Cả hai phiá sẽ tiếp tục giám sát, một biện pháp hợp pháp không thể né tránh và có thể tiến hành với mức độ nguy hiểm thấp hơn. Thoả ước quy định để đảm bảo là các chiến thuyền không thể tới quá gần các tàu thuyền khác và các phi vụ chuyển vận không được phép can dự, và các tàu ngầm không được phép nổi lên và có những thái độ gây hại.
Về các vấn đề khu vực, cho dù một cuộc chiến Triều Tiên khác có thể sẽ không xảy ra, những biến động trên bán đảo này trong những năm gần đây (thí dụ như chương trình của Bắc Hàn đang tiến hành về hạt nhân và nguyên tử, việc nhận chìm hộ tống hạm Cheonam của Nam Hàn và pháo kích vào đảo Yeonpyeong trong năm 2010) làm chúng ta nhớ là nguy cơ leo thang của một cuộc chiến lan rộng còn liên tục xảy ra. Nếu khủng hoảng bùng nổ như là hậu quả của những khiêu khích mới hay do Bắc Hàn sụp đổ, thì việc Hoa Kỳ hay Trung Quốc phải can dự với tất cả những hậu quả bi đát là chuyện dễ hình dung. Ngay từ bây giờ, nếu có những biện pháp thiết thực làm cơ sở cho việc đối ứng nhịp nhàng trước một cuộc khủng hoảng có thể xảy ra tương lai là một việc làm có ý nghiã.
Ít nhất, mỗi phiá có thể tái tục đảm bảo với đối phương là kế hoạch phòng chống khủng hoảng (kể cả bảo đảm an toàn cho các vật liệu hạt nhân của Bắc Hàn hay phục hồi trật tự chính trị) là đem lại ổn định hơn là gây đe doạ. Đối với Bắc Kinh, do dự đàm phán về những đề tài này vì sợ làm thương tổn Bình Nhưỡng có thể né tránh được bằng cách khởi đầu hội luận hai vòng, trước hết trong giới trí thức và giới chức nghĩ hưu. Bắc Kinh phải nhận ra rằng khi bán đảo thống nhất, Seoul sẽ quyết định việc lưu trú của quân lực Hoa Kỳ. Về phần mình, Washington phải đảm bảo với Bắc Kinh là bố trí quân sự cuả Hoa Kỳ trong tương lai trên bán đảo (giả đoán rằng Seoul vẫn còn muốn Hoa Kỳ hiện diện) phải ít hơn so với hiện tại và không đặt thêm căn cứ nào hướng về hướng bắc như hiện nay. Cả hai Seoul và Washington phải chuẩn bị mời Bắc Kinh giúp đỡ khi có những sự cố bất ngờ trong tương lai, ít nhất là trong khu vực phía Bắc của Bắc Hàn. 
Dù các xung đột eo biển dịu đi trong những năm gần đây, Đài Loan vẫn còn là một đề tài tranh luận trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, một phần vì do Trung Quốc không từ bỏ sử dụng bạo lực để thống nhất Đài Loan với Lục Điạ, một phần khác vì Hoa Kỳ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Bắc. Và căng thẳng dường như không thể tránh được trước những bất đồng cơ bản trong quyền lợi của hai phiá. Vấn đề là ở chỗ sự tái tục bảo đảm có thể giữ một vai trò. Đối với Bắc Kinh, điều này có nghiã là cần làm cho chủ tâm tìm kiếm đường lối thống nhất hiếu hoà thành khả tín, đặt giới hạn về việc hiện đại hóa quân sự và ngưng thao diễn nhằm đe doạ Đài Loan thông qua việc phong toả tên lửa. Đối với Washington, điều này có nghiã là đảm bảo việc bán vũ khí cho Đài Loan là để phòng vệ và chứng tỏ ý muốn giảm bớt số lượng vũ khí bán ra nhằm đáp ứng với giảm bớt tư thế hù dọa của Trung Quốc đối với Đài Loan. Biện pháp giảm bớt này phải có ý nghiã, có thể được kiểm tra và không thể đảo ngược. 
Điều may mắn là cả hai phiá đã theo đuổi những điểm chính trong chương trình nghị sự này. Tuy nhiên, huy động tên lửa hiện nay của Bắc Kinh, và khả năng đáp ứng của Washington giúp Đài Loan cải thiện hệ thống phòng vệ tên lửa, tạo ra tiềm năng cho đợt leo thang mới – hoặc cũng có thể dẫn đến một vòng mới về tái tục bảo đảm. Trung Quốc có thể khởi động tiến trình tái tục bảo đảm một cách hữu ích khi giảm việc điều động các lực lượng tên lửa. 
Nhiều tín hiệu nhưng ít ầm ĩ hơn
Điểm mấu chốt tạo ổn định cho mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong trường kỳ là mỗi phía phải giữ minh bạch về mức độ báo động thực sự và hậu quả, ít nhất là trong những điều kiện chung, đồng ý phải trả một cái giá cho sự bảo vệ. Còn về sự tái tục bảo đảm, quyết tâm mang lại thông tin chính xác đòi hỏi nhiều vấn đề hơn là chỉ thuần về ngôn từ, việc này liên hệ đến cả hai thể hiện ý muốn và khả năng cải thiện những đe doạ.
Điều này có nghiã là Washington cần làm cho Bắc Kinh hiểu rằng Hoa Kỳ không chỉ muốn bảo vệ lãnh thổ và dân chúng của mình mà còn cho những đồng minh chính thức và đôi khi còn cho cả những người bạn mà không phải là đồng minh. Những gì mà chính quyền Obama làm trong việc tái quân bình có thể được hiểu một phần là theo chiều hướng này, nhưng để đạt được hiệu quả, Hoa Kỳ cần tiếp tục theo đuổi và thực thi nghiêm chỉnh hơn là cho phép mình xao lãng. Dĩ nhiên, biểu hiện quyết tâm không phải chỉ có nghiã là giải quyết mỗi khiêu khích với cách đáp ứng bằng quân sự. Đôi khi, có những đáp ứng không bằng phương cách quân sự, thí dụ như biện pháp phong toả hay tạo cơ sở thoả thuận mới, có thể đem lại ý nghĩa nhất, khi dùng thương thuyết để tạo những cách thích hợp hoặc những lộ trình khác làm giảm khủng hoảng. Cách tốt nhất để thể hiện nghiêm túc lòng kiên quyết trong trường hợp cụ thể sẽ tùy thuộc vào các yếu tố dị biệt, kể cả mức độ phối hợp mà Washington có thể huy động với các đồng minh và đối tác để đạt mục tiêu. Nhưng chuyện quan trọng là phải gởi tín hiệu cho Bắc Kinh biết sớm hơn và rõ hơn là có những giới hạn không được phép vi phạm và không bị trừng phạt.
Mặt trái của biện pháp này là Hoa Kỳ cần hiểu và tôn trọng quyền tự quyết của Trung Quốc trong việc bảo vệ quyền lợi sinh tử quốc gia, kể cả phải sử dụng quân lực khi cần thiết. Khi định nghiã phù hợp việc bảo vệ quyền lợi, thì quyền tự vệ chính đáng của Trung Quốc là sự xác quyết khả chấp chiếu theo Điều 51 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, việc này đã gây ra chuyện tổn thuơng trong quá khứ do tấn công và gây hấn; điều có thể hiểu được đối với Trung Quốc khi thực hiện những biện pháp khả tín để giải quyết. Khó khăn ở đây là trong những năm gần đây Bắc Kinh dường như khẳng định một danh sách càng nhiều hơn về những quyền lợi cốt lõi và thường có cách giải quyết gây hấn hơn, đưa các tranh chấp nhỏ và thông lệ trở thành những cuộc đối đầu nguy hiểm và tạo ra những thử thách không cần thiết về các giải quyết hỗ tương. Bắc Kinh cần công nhận rằng qua thời gian, thái độ như thế làm giảm đi tính chính thống và buộc phải tạo ra việc đòi những yêu sách quan trọng hơn, gởi những tín hiệu gây tranh chấp và làm suy yếu những quyền lợi trường kỳ.
Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể đang tiến gần đến một chuyển điểm. Dưạ theo sinh hoạt lưỡng đảng lâu đời mà Hoa Kỳ đồng thuận để tìm kiếm quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, hiện đã căng thẳng, và Trung Quốc ngày càng bi quan nhiều hơn về tương lai của việc thương thảo song phương. Sự trỗi dậy của Trung Quốc mà Hoa Kỳ xem như chuyện định mệnh đã an bài có thể dẫn tới một sự chấp nhận đầu hàng về một thực tế mới hoặc là đề kháng bằng sức lực chỉ nhằm bảo vệ đặc quyền xưa cũ – cả hai chiến lược vừa không hứa hẹn và cuối cùng là tự đánh bại mình. Xây dựng mối quan hệ dựa trên những nguyên tắc về tái tục bảo đảm chiến lược và kiên quyết sẽ mang tới triển vọng một tương lai hứa hẹn hơn mà không gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của đối phương. Thực ra, thay vì đơn thuần hy vọng hay tạo kế hoạch về một niềm tin, cần phải có một phương cách thay thế là “dù có tin tưởng nhưng cần phải kiểm tra”. Biện pháp này vững chắc hơn, thay vì ngăn chận như xưa, bởi vì nó sẽ tìm cách giảm những khả năng gây khiêu khích hay leo thang không có chủ tâm. Nếu có may mắn, biện pháp này có thể giúp làm cách ly tranh chấp quy mô, sẽ đạt đến một kết quả mà cả hai dân tộc khôn ngoan đang tìm kiếm. 
J. B. S. & M. O’H.
James B. Steinberg là Trưởng Khoa Maxwell School of Citizenship and Public Affairs và là Giáo sư Khoa học Xã Hội, Quan hệ Quốc Tế và Khoa Luật, Đại Học Syracuse. Michael O’Hanlon là chuyên gia cao cấp tại Center for 21st Century Security and Intelligence và Giám Đốc Nghiên Cứu v Foreign Policy Program tại Brookings Institution.
Nguyên tác: Keep Hope Alive - How to Prevent U.S.-Chinese Relations From Blowing Up, Foreign Affairs July/August 2014. Tiểu luận này là một trích lược từ quyển sách “Strategic Reassurance and Resolve: U.S.-China Relations in the Twenty-first Century” (Princeton University Press, 2014) mà hai ông là tác giả.

ALEKSANDR KHRAMCHIKHIN * TRUNG QUỐC BÁ QUYỀN

04/07/2014


Vì sao Trung Quốc sẽ đè bẹp cả thế giới

Aleksandr Khramchikhin [*]
Lã Nguyên dịch từ apn.ru
Vấn đề lớn nhất của nhân loại có lẽ là ở chỗ, nó không hiểu Trung Quốc hiện nay là cái gì và Trung Quốc đang có những khuynh hướng phát triển như thế nào? Nhưng mặt khác, có thể, nhân loại không hiểu được như thế lại hoá hay. Bởi vì, hiểu ra điều đó là chuyện cực kì nặng nề, và cái chính là, dẫu có hiểu, nó cũng đành bất lực, chẳng làm được trò gì.
Có thể đành phải chờ đợi và đoán xem, đất nước này dùng cách nào để đè bẹp phần còn lại của thế giới. Kiểu tiếp cận Trung Quốc thông thường của phương Tây hoàn toàn không phù hợp. Một mặt, chủ nghĩa duy tâm ngớ ngẩn của những chú panda huggers, hi vọng Trung Quốc sẽ hoà nhập vào hệ thống kinh tế và chính trị hiện hành do phương Tây tạo ra một cách ôn hoà, hiền lành, ngoan ngoãn, tiếp tục bì bạch chạy theo người tiêu dùng giày dép thể thao và laptop ở phương Tây để nhận khoản tiền lương hậu hĩnh nhất là 100 đô la mỗi tháng. Mặt khác, tầm nhìn cuồng tín, nông cạn về tư tưởng của China hawks, cho rằng mọi vấn đề của Trung Quốc đều bắt nguồn từ việc nước này không có nền dân chủ theo kiểu phương phương Tây. Trung Quốc sắp sụp đổ vì không có dân chủ. Hoặc là Trung Quốc sẽ tấn công, chiếm lấy tất cả, vì nước này không có dân chủ. Hoặc, lúc đầu nó tấn công, sau đó nó sụp đổ, vì nó không có dân chủ. Hoặc lúc đầu nó sụp đổ, sau đó nó tấn công, bởi vì… Chao ôi, những kẻ đần độn thật bất hạnh!

Tuy thế, Trung Quốc cũng có nhiều người không đần độn. Ấy là những người hiểu rất rõ, rằng nếu đưa dân chủ kiểu phương Tây vào Trung Quốc, thì nó sẽ sụp đổ ngay lập tức. Quan điểm về Trung Quốc của Nga là hỗn hợp kì lạ giữa mối sợ hãi bản năng và niềm hi vọng về một thứ bạn “cùng thuyền chiến lược” trên mặt trận chống Hung thần - Đế quốc Mĩ. Quan niệm ấy không thể xem là hợp lí. Trung Quốc hiện nay có hàng loạt đặc điểm nổi bật. Nói vắn tắt, nó là thế này:
1. Là sự kết hợp giữa một bên là sự hiện diện của một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới có nhịp độ phát triển nhanh và trình độ kĩ thuật cao, với một bên là những vấn đề kinh tế - xã hội mang tính đặc thù của những nước kém phát triển.
2. Dân số khổng lồ, vượt quá khả năng đáp ứng của hoàn cảnh thiên nhiên. Dân số cho phép tối đa ở Trung Quốc chỉ có thể là 700 đến 800 triệu người. Thế mà trong thực tế, ai cũng biết, dân số nước này đã lên trên 1.3 tỉ, đã vậy, dù đã tìm đủ mọi cách để hạn chế, nó vẫn đang tiếp tục tăng trưởng. Thêm vào đó, 94% dân cư Trung Quốc đang sinh sống trên 46% lãnh thổ.
3. Giữa thành phố và nông thôn, giữa các vùng miền, có sự phân hoá cao nhất thế giới. Giữa thành phố và nông thôn, sự khác biệt cao tới mức, các thống kê về kinh tế - xã hội của nông thôn và thành phố phải lập riêng rẽ, y như là thống kê ở những nước khác nhau. Sự chênh lệch giữa các vùng miền còn lớn hơn nữa. Tổng thu nhập của các tỉnh duyên hải miền đông - nam Quảng Đông cao hơn 90 lần so với tổng thu nhập của khu tự trị Tây Tạng phía tây - nam nước này. Nếu xem các vùng miền của Trung Quốc như những nước khác nhau, thì Quảng Đông về quy mô kinh tế được xếp vào loại 30 nước hàng đầu, vượt cả những nước ví như Argentina.


Trong khi đó, Tây Tạng đứng vào hàng 130 - 140 thuộc nhóm Nigiêria, Malawi, Tadjikistan. Gộp tất cả sự tương phản ấy lại với nhau, tức là đem so sánh mức sống trung bình của các thị dân Bắc kinh, Thượng Hải, Thâm Quyến với mức sống trung bình của người nông dân ở Quý Châu hay Tây Tạng, thì vấn đề không còn là chuyện số lần hơn kém, mà là chuyện trật tự của các kích cỡ. Sự thật là ở nước này, có một số xã hội hoàn toàn khác nhau, từ xã hội nông nghiệp cổ truyền đến xã hội hậu công nghiệp. Đó là những xã hội không chỉ hoàn toàn khác nhau về mức sống, mà còn hoàn toàn khác nhau về tâm tính. Hơn nữa, sự chênh lệch có xu hướng ngày càng gia tăng, chứ không giảm bớt.
4. Tốc độ lão hoá của dân cư và sự chênh lệch về giới ở các nhóm thuộc tốp người trẻ tuổi cao nhất thế giới. Dân số ở những tốp dân cư ở độ tuổi trung niên tăng nhanh gấp đôi so với toàn bộ dân cư nói chung. Về cơ bản, đây là điều đang lặp lại khuynh hướng mang tính đặc thù của các nước phương Tây, nhưng ở phương Tây, quá trình lão hoá của dân cư chậm hơn rất nhiều và nó chỉ bắt đầu khi tổng thu nhập tính theo đầu người đạt từ 5 đến 10 nghìn đô la (ở Trung Quốc hiện nay vẫn còn dưới 2 nghìn đô la). Đồng thời, ở Trung Quốc, gia đình chính thức phải gánh trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng người già. Chỉ có 1/6 người già sống bằng nguồn lương hưu trí, người già ở nông thôn hoàn toàn không có trợ cấp xã hội. Tức là người ta không trả lương hưu cho nông dân, mặc dù thu nhập của họ thấp hơn nhiều lần so với thu nhập của thị dân. 
Theo truyền thống, cho đến nay, việc phụng dưỡng cha mẹ vẫn là trách nhiệm của người con trai nối dõi tông đường và được ăn thừa tự. Thế mà sinh đẻ lại bị hạn chế để giảm bớt gia tăng dân số, nên mới nảy sinh sự chênh lệch về giới. Tương quan giữa trẻ trai và trẻ gái sơ sinh ở Trung Quốc đang cố giữ trong tỉ lệ 102-107:100, tối đa là 117:100, nhưng ở các tỉnh lẻ, tỉ lệ này là 130:100, còn ở nông thôn, có nơi lên tới 150:100. Chỉ mấy năm nữa, thế hệ bước vào tuổi hôn nhân sẽ có 20 triệu nam thanh niên bị “thiếu” cô dâu.


Rõ ràng, đây là hiện tượng chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nhân loại, bởi vậy, sẽ rất khó tiên đoán hậu quả xã hội của nó và việc tìm ra con đường để giải quyết vấn đề cũng sẽ hết sức phức tạp. Tiếp tục duy trì các xu hướng phát triển hiện nay (thực ra, xu hướng phát triển này ngày càng trở nên trầm trọng, chứ không thể duy trì), đến một lúc nào đó sẽ xuất hiện tình trạng: cô dâu trở thành hàng hoá. Nếu tính thêm những thay đổi trong quan niệm của lớp nữ thị dân có giáo dục, xem lập nghiệp có ý nghĩa quan trọng hơn hôn nhân, sẵn sàng gác việc lấy chồng tới giới hạn cuối cùng có thể được, thì đàn ông thành phố sẽ muốn kết hôn với phụ nữ nông thôn, còn đa số đàn ông nông thôn sẽ không có cơ may lấy được một người vợ. Trong trường hợp này, xung đột giữa thành phố và nông thôn, giữa những vùng phát triển và vùng lạc hậu sẽ trở thành mâu thuẫn mang tính đối kháng. Một cuộc nội chiến giành giật cô dâu - “đó là thứ còn dữ dội hơn cả “Faust” của Goethe”.
5. Sức ỳ hệ thống rất cao, do tình trạng bảo thủ xã hội cực kì phức tạp, lại ở qui mô rộng lớn và mức độ trầm trọng. Giới cầm quyền Trung Quốc từ lâu đã nhìn thấy và hiểu ra, nó phải chấp nhận quan niệm lệch lạc “tăng trưởng tương đương với phát triển”. Nó cũng có dự định sửa chữa hoàn cảnh, nhưng chẳng thu được kết quả nào cả. Tăng trưởng kinh tế dựa trên mô hình sử dụng lao động quảng canh tiếp tục phá mọi kỉ lục, hoàn thành vượt mức tất cả các kế hoạch sản xuất. Nhưng đồng thời, “các kế hoạch” tiêu sài tài nguyên và phá huỷ môi trường cũng thi nhau phá mọi kỉ lục. Thay vì hạn chế một cách có kế hoạch, khối lượng điện năng được sử dụng vẫn không ngừng tăng lên. Khối lượng các loại phế thải độc hại vẫn tăng, chứ không giảm. Mọi dự báo về mức độ sử dụng xăng dầu hàng năm của Trung Quốc đều sụp đổ, thực tế hoá ra còn tồi tệ hơn các phương án dự báo về những khả năng tồi tệ nhất.
6, Sự hiện diện của những mâu thuẫn phát triển không thể xoá bỏ trong khuôn khổ của mô hình kinh tế đang vận hành ở Trung Quốc. Về vấn đề này, chúng tôi sẽ nói sau.
7. Thiếu một mô hình lựa chọn phù hợp cho phép xoá bỏ các mâu thuẫn và nền tảng phương pháp luận tạo ra mô hình ấy. Rõ ràng, hoàn toàn không có khả năng tạo ra một mô hình lựa chọn như thế.
8. Quy mô của hệ thống vấn đề nảy sinh từ phạm vi dân cư và kinh tế đã biến những vấn đề của Trung Quốc thành những vấn đề của toàn bộ thế giới.
Vô khối những thứ “cao nhất thế giới” kể ra ở trên mới chỉ là chuyện tỉ lệ phần trăm. Nhưng ở đây, còn phải nhớ cả những đại lượng tuyệt đối. Đặc biệt là về con số 1,3 tỉ dân, về hơn 200 triệu chủ thể đang hoạt động kinh doanh. Từ những quy mô này, sự chênh lệch trong tỉ lệ phần trăm rất dễ biến thành những con số khổng lồ khi chuyển chúng sang các đại lượng tuyệt đối: 200-300 triệu thất nghiệp, 150 di dân nội địa, v.v. và v.v.
Bây giờ xin nói về những mâu thuẫn cơ bản.
Vì sao chuyện này thường bị lờ đi? Quả tình, người ta đã viết rất nhiều về những mâu thuẫn riêng lẻ, cục bộ, nhưng lại không xem xét các mâu thuẫn ấy trong tổng thể của chúng.
1. Mâu thuẫn giữa nhu cầu duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao dựa vào các khu vực thuê mướn lao động nhằm mục đích đảm bảo việc làm cho dân cư ngày càng phát triển và nhu cầu giảm bớt nhịp độ tăng trưởng, chuyển từ nền sản xuất chú trọng số lượng sang nền sản xuất chú trọng chất lượng, có cân nhắc tới đặc điểm tài nguyên - sinh thái.
2. Mâu thuẫn giữa đòi hỏi và nhu cầu ngày càng cao của dân cư với nguồn tài nguyên, chẳng riêng gì của Trung Quốc, mà ngay của cả hành tinh cũng không đủ khả năng đáp ứng các đòi hỏi và nhu cầu ấy.
3. Mâu thuấn giữa nhu cầu tiếp tục thực hiện chính sách “mỗi gia đình - một con” với nhu cầu giảm bớt các hạn chế nhân khẩu theo những cân nhắc về đặc điểm xã hội.
4. Mâu thuẫn giữa chính sách dựa vào dân số như một nguồn tài nguyên kinh tế và năng lực cạnh tranh cơ bản với tình trạng dân số quá đông như một vấn đề nghiêm trọng của đất nước.
Trong quá trình cải cách mở cửa, Trung Quốc đã sử dụng khối dân cư khổng lồ, vừa cần cù, lại vừa dễ tính, chẳng quen đòi hỏi gì, như một thứ tài nguyên cơ bản. Nhân loại cũng hả hê đồng tình với điều đó để biến Trung Quốc thành một “xưởng lắp ráp toàn thế giới”. Sự dồi dào của nguồn nhân công vô tận và, ứng với điều đó, tình trạng cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động đã cho phép duy trì mức chi phí thấp, nhờ thế, sản phẩm của Trung Quốc có giá cả rất rẻ. 
Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp chỉ có lợi khi dừng lại ở một giới hạn nào đó, vượt quá giới hạn ấy, nó sẽ trở thành mối đe doạ thực tế với sự ổn định xã hội. Vậy mà quân số lao động vẫn không ngừng tăng lên, đòi hỏi phải được “sử dụng”. Cách tốt nhất để sử dụng nguồn lao động này là tiếp tục tăng cường sản xuất hàng hoá thông dụng, huống chi chính khu vực sản xuất này đã thu về cho đất nước một nguồn ngoại tệ khổng lồ.


Nhưng, dĩ nhiên, nó cũng đòi hỏi phải có một số lượng nhiên liệu khổng lồ mà bản thân Trung Quốc không thể có đủ, điều đó dẫn tới việc huỷ hoại ngày càng dữ dội môi trường thiên nhiên mà chắc chắn sẽ tạo ra một thảm hoạ sinh thái vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại. Những nhân tố này đã bắt đầu “ngốn” vào chính sự tăng trưởng kinh tế như là hậu quả của nó. Việc cải biến một nền sản xuất thiên về số lượng, dựa vào lao động phổ thông, thành một nền sản xuất chú trọng tới chất lượng, dựa vào lao động khoa học, trước hết, đòi hỏi phải đầu tư một nguồn kinh phí khổng lồ (nhất là để nâng cao trình độ giáo dục còn rất thấp của dân cư), sau nữa, sẽ dẫn tới nạn thất nghiệp tăng lên một cách gay gắt và điều này chắn chắn sẽ tạo ra nguy cơ nghiêm trọng thực sự đe doạ sự ổn định xã hội.
Đúng là cả xã hội Trung Quốc nói chung đang thực sự quan tâm tới việc tìm kiếm một lối thoát ra khỏi tình huống được hình thành ở nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa hiện nay. Nhưng, đồng thời, đại diện của tuyệt đại đa số các nhóm xã hội đều muốn duy trì mô hình cải cách hiện nay. Dĩ nhiên, điều này liên quan trực tiếp tới các nhóm xã hội được hưởng lợi từ những cuộc cải cách (tầng lớp quan liêu, các nhà kinh doanh, công nhân có tay nghề cao, các nhà môi giới, v.v.). Nhưng các nhóm xã hội còn lại, tức là những nhóm không được hưởng lợi từ cải cách, thì không hề quan tâm tới sự thay đổi mô hình, bởi vì nó chỉ làm tăng thêm số lượng những người nông dân mất ruộng đất và đội quân thất nghiệp khiến cho địa vị của họ trở nên tồi tệ hơn. 
Cho nên, xung đột giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài có ý nghĩa quan trọng với tuyệt đại bộ phận các thành viên của xã hội Trung Quốc. Thực tế, con người bao giờ cũng giải quyết xung đột ấy vì lợi ích trước mắt. Tức là xuất phát từ việc duy trì mô hình phát triển hiện nay.
Mà chính phương Tây cũng muốn duy trì mô hình ấy. Phương Tây sẽ còn tụng niệm rất nhiều, rất hay cho chính bản thân mình về sự tuyệt diệu của xã hội thông tin hậu công nghiệp. Đồng thời, không hiểu vì sao, có một sự thật bị xem nhẹ, ấy là cư dân của thiên đường mặt đất này cũng phải ăn, mà phải ăn nhiều, ăn ngon; phải xỏ giày dép, mặc quần áo, áo quần giày dép phải đẹp, phải rẻ, phải đi trên những chiếc xe hơi tuyệt hảo và phải dùng những chiếc máy tính thật tinh xảo để làm việc (nếu không thế, sao gọi là xã hội thông tin?). Có điều, tất cả những thứ này vẫn cần phải có một ai đó làm bằng tay, mà lại muốn sao cho thật rẻ.
Đây rồi, chính người Trung Quốc đang làm. Họ làm bằng tay, rất nhiều và rất rẻ.
Chẳng ai muốn động óc suy nghĩ về hậu quả của sự mầu nhiệm ấy.
Nhân loại cố tình nhắm mắt, không muốn nhìn xem sự tăng trưởng tiếp theo của Trung Quốc sẽ đẫn tới đâu – ngay cả khi quan điểm “tăng cường bình ổn” đang được giới giới cầm quyền Trung Quốc tuyên truyền hiện nay là sự thật, chứ không phải tuyên truyền.
Phương Tây sẽ còn sụt sùi rất lâu về việc “phát triển bền vững” và xoá bỏ bất bình đẳng trong mức sống giữa các quốc gia phát triển và các nước đang phát triển. Nhưng tất cả đều hiểu rất rõ, rằng đại đa số các nước đang phát triển sẽ không bao giờ đuổi kịp trình độ của các quốc gia phát triển. Bởi vì, nếu đưa “cá” cho các nước ấy, tầng lớp tham nhũng “ưu tú” ngày càng phình to sẽ chén sạch, rồi sau đó lại xin thêm “cá”. Nhưng nếu đưa “cần câu” cho các nước đang phát triển, họ dễ dàng bẻ ngay cái “cần câu” ấy.
Trung Quốc thuộc về số ngoại lệ rất ít ỏi. “Cá” nó không cự tuyệt, mà “cần câu” nó sử dụng cũng rất tài, nếu có ý đồ tước đoạt “cá” và “cần câu” (hoặc có ý không đưa), nó sẽ dùng sức mạnh để cướp giật cho mình.
Cư dân Nigeria dù trong bất kì hoàn cảnh nào cũng sẽ không sống như cư dân Thuỵ Điển. Trên lí thuyết, cư dân Trung Quốc có thể có tham vọng vượt lên cao hơn mức sống ấy. Không ai có khả năng và có quyền cấm họ làm như thế.
Chỉ có điều phải nhớ, tài nguyên của cả hành tinh không đủ để đảm bảo cho mỗi người dân Trung Quốc có mức sống như vậy. Họ không đủ ăn, không đủ xăng dầu và bao nhiêu thứ vật dụng không kém cần thiết khác. Thế thì sẽ chẳng còn gì để dành phần cho người khác. Tức là chúng ta chỉ còn mỗi việc là phải tin, rằng Trung Quốc (đất nước có dân cư đông nhất thế giới, có quân đội hùng mạnh và sự ngạo mạn ngút trời) sẽ mãi mãi kiên trì gia công hàng hoá thông dụng cho những người ngoại quốc giàu có bằng cái giá của sự nghèo túng của riêng mình.
Có lẽ, phải gọi niềm tin ấy là chủ nghĩa phê phán thì chính xác hơn.
Với những gì đã trình ở trên, chúng ta hoàn toàn không thể hiểu, Trung Quốc sẽ làm thế nào để tránh, không bành trướng ra bên ngoài bằng tất cả các hình thức của nó (kinh tế, chính trị, nhân khẩu, quân sự). Nó hoàn toàn không có sức sống trong các ranh giới hiện nay của mình. Hoặc là nó phải lớn lên gấp bội, hoặc là nó buộc phải nhỏ hơn rất nhiều. Bởi thế, vấn đề không phải là sự xâm lược của Trung Quốc, mà là với nó, bành trướng là kế sách duy nhất để sống sót.
Đó không phải là con ngoáo ộp, mà là hiện thực khách quan đang cắt cứa vào giác quan của ta.
Quả thật, vẫn còn ít người cảm nhận được hiện thực ấy. Nhưng chẳng bao lâu nữa, nó sẽ tới.
A. A. Kh.
Dịch giả gửi BVN.
[*] Aleksandr Anatolievich Khramchikhin (sinh: 1967): Phó Giám đốc Viện Phân tích Chính trị và Quân sự, Liên Bang Nga.
  http://boxitvn.blogspot.ca/2014/07/vi-sao-trung-quoc-se-e-bep-ca-gioi.html

No comments: