Tuesday, November 22, 2016

TRUYỆN TÙ & VƯỢT BIÊN * KỲ QUAN THẾ GIOI * BIỂN ĐÔNG *






HỒI KÝ CỦA CHUYẾN VƯỢT BIÊN

CÁI GIÁ CỦA TỰ DO
 THU HỒ




02-81- Cuối tháng hai, sau tết, má có xuống Bến Lức để thăm nhà và mua thêm đồ đặc để bán. Xót xa cho má và Bạch cực khổ thức khuya dậy sớm tảo tần, mua bán; tôi không giúp được gì cho gia đình, ngoài lương hàng tháng cùng với nhu yếu phẩm lảnh ở trường đem về phụ với Quế.

Tôi có nói chuyện với má một vài lần, khi hai mẹ con ngồi bên ngoài nhà bác sĩ Thăng trong lúc chờ đợi, tôi cho má hay là, tôi sẽ đi xuống Lý, có thể có

chuyến đi sắp tới. Hai mẹ con nói chuyện bịn rịn, má nhắn nhủ tự lo lấy thân.

Sau khi dạy xong ngay buổi trưa ngày thứ bảy, nhờ cô học trò chở về nhà, tôi rủ Nhân đi Cần Thơ, cô bé không muốn đi, đành đi một mình. Đến Cần Thơ, gặp Phong tại nhà Lý, cháu trai, con chị Sáu của Lý, từ Biên Hòa xuống để ngày mai đi, sao mà xuống đúng lúc quá, bây giờ chợt nhớ, thật là đến đúng lúc! May mắn! Cả hai đi Cà Mau sáng ngày sau.



Tôi đợi ở quán nước, Phong đi báo cho cậu là LTN biết tôi đã đến. Anh ra và sắp xếp chổ ở cho tôi, anh dẫn tôi đến P. người con gái anh quen giới thiệu tôi là em gái.



Ở với P. vài ngày rồi N dẫn tôi đến nhà khác, Dì Hai, ở vài ngày, anh bảo trong lúc chờ Q. trở về nên không ở một nơi hoài người ta để ý. Căn nhà anh luôn lui tới lại ở phía trước mặt của đồn công an, gần chợ Cà Mau. “Chổ nào nguy hiểm nhất lại là nơi an toàn nhất”. Mỗi lần ra ngoài tôi đi với trạng thái e dè; phải đi chợ mua một cái quần đen, về may, cắt lấy bằng tay; Vì khi xuống Cần Thơ, không ở tư thế vượt biên, chẳng mang theo, hoặc chuẩn bị cho chuyện vượt biên, nên chỉ mang thêm bộ đồ mặc ở trong nhà và bộ đồ tây màu đen đang mặc trên mình cùng một số tiền, tôi mang theo một nửa sau khi bán đi chiếc xe đạp, do chị C. gởi về. Nghèo mà đòi vượt biên! Sẽ bàn là trả vàng hay tiền sau khi đến nơi!



Gặp Q. bạn của N, kỹ sư Thủy Lâm, đã đóng tàu cùng vói bạn bè đang hợp đồng chở thủy sản cho nhà nước, người thấp, với cặp mắt láo liên có vẽ lém lĩnh, mánh munh, N thường chọc ghẹo là có cặp mắt của Bác…Tối đó, Q, N và tôi đi ăn để bàn cho chuyến đi, tôi phải tiếp tục đợi chờ, gần đến rồi, lòng tôi nóng như lửa vì bỏ trường đi không có xin phép đã mấy ngày rồi, ở nhà chắc cũng nóng ruột!



Sáng hôm sau đến tìm Q, hắn muốn lấy “cái tôi có” hơn là lấy tiền hay vàng! Tôi không cần phải đưa trước. Tiến thoái lưỡng nan! Tôi đành phải nhắm mắt đưa chân, để đánh đổi một chổ đi trên tàu, mà không biết chuyến đi sẽ như thế nào, có đến nơi hay không. Cầu xin, lạy trời giúp con, thật sự con muốn đi, muốn rời khỏi đất nước này! Tôi thật sự không hối tiếc vì chuyện phải làm, tôi đã làm rồi. Cái muốn cho, tôi đã cho người tôi thương rồi; không còn gì phải nuối tiếc. Một trao đổi, mua bán không hơn không kém!



Lúc chiều, N đến thăm, còn gì buồn tủi hơn, tôi dàn dụa rơi nước mắt, N xót xa đau lòng vì anh không thể giúp gì hơn, vì mọi quyết định do Q.



Trước ngày đi, Q dẫn đến con bé tên Thu, cùng tên với tôi, con của bà K. sẽ đi vào ngày mai. Buổi trưa thấy Q. đi ngang nhà Dì Hai, tay xách hai can dầu, tôi hồi hộp nghĩ là chuyến đi sắp bắt đầu. Buổi chiều Q. đến, hắn dẫn tôi đến gặp vợ hắn cùng đứa con nhỏ, sẽ đi vào sáng ngày mai và chỉ dẫn bến đò, phải ra đó sớm mai.



Sáng sớm ngày sau đó, tôi cùng bé Thu, rời nhà dì Hai trong lúc cả nhà còn ngủ, không một lời giã từ, lẵng lặng dọn dẹp đồ đạc, rời nhà, không một lời cám ơn, thật đáng trách! Đến bến tàu, thấy H. vợ của Q., tôi yên lòng. H ôm con trong lòng ngồi ở đầu mũi đò, tôi và bé T. ngồi ở đằng sau. Ngồi được một lúc, có người đàn bà ngồi kế bên hỏi chuyện, thấy tôi lạ mặt, bà ấy bảo : “ở bến đò, có tụi công an chìm lẩn quẩn, nếu là người lạ mặt, nó sẽ hỏi và chụp bắt đó”. N dạy tôi nói là “đi thăm anh đang làm ở lâm trường”. Tôi thật sự lo sợ trong lòng, không biết Q và N có đón chúng tôi đúng lúc hay không? Thật là ngây thơ, lúc đó cũng đã 24 tuổi rồi, không biết chuẩn bị cho mình thức ăn, nước uống nên đói lả cả ngày, có lẽ nhớ lời dặn là xách đồ ít càng tốt. Một ngày ròng rã trên chuyến đò hẹp nhỏ, xa xôi! Chuyến đi bắt đầu!

Bài số: 1 RE: HỒI KÝ CỦA CHUYẾN VƯỢT BIÊN - 1/17/2008 5:11:11 PM












Bài: 248

Từ: SJ, thung lũng hoa vàng





Một ngày dài, chuyến đò đã cặp bến Cả Nải (?), tôi thấy Q. trên bờ, lòng mừng không kể xiết, tôi lặng lẽ đi theo Q và vợ hắn, cùng xuống một chiếc ghe ba lá, N cũng có ở trên ghe, tôi thật sự yên lòng.



N lái ghe chở cả bọn trong nhiều giờ, xuôi theo dòng sông Ông Đốc, chạy qua Năm Căn, hai bên đầy những cây mắm, cây đước, vẹt...vắng vẻ, chạy qua những đồn công an, cả bọn phập phòng lo sợ bị gọi vào – Sau này, nghe nói lại họ biết lúc đó Q. chạy ghe qua- cả bọn còn phải chờ đợi thêm ba người đàn ông nữa từ trong lâm trường ra, chúng tôi hồi hộp đợi chờ, thời gian thật chậm chạp trôi qua. Sau cùng, cũng thấy họ xuất hiện, đang lái xuồng ra để đi cùng, (Q lo cho họ vào làm công nhân trong ty kiểm lâm). Trong khi neo ghe ở bải đất bùn đầy cỏ năng mọc, một lớp đất bồi mới cho sau này, những gì mình học và đọc trong sách giờ đây mới biết và thấy tận mắt, được đến tận cùng mũi Cà Mau của đất nước VN, trước khi ra đi. Lòng thật lo âu, bồi hồi cho một chuyến đi “năm ăn, năm thua, xí mạng cùi” sẵn sàng đi tù, sẵn sàng mất việc, có gì về đi buôn với má, miễn đừng chết thôi!



Tất cả đã đầy đủ, N lái ghe trực chỉ ra cửa biển. Trời cũng đã sụp tối và tối dần, loay hoay một lúc lâu mà chưa có dấu hiệu nào của tàu lớn cả; đầy lo âu, hồi hộp lo sợ vô cùng, không thể trở vô, vì có thể bị bắt, đành phải chờ vậy! Cả bọn ai cũng đồng lòng chờ! Rồi nó cũng đến, “một ánh đèn ba chớp, ba tắt” hiện lên, đúng như “mật mã” đã dặn nhau, đành nhắm mắt đáp trả, ai cũng sợ không biết đó có phải là dấu hiệu của đồng bọn mình hay là của công an gài bẩy để bắt những người vượt biên! Thế là cả hai tàu lớn, nhỏ gặp nhau. Ôi! Đúng là người của mình! Ai nấy hân hoan leo qua tàu lớn, tôi tìm một chổ an vị ở ngoài khoan tàu, ngồi một mình lặng lẽ, chưa một lần nói chuyện với ai.



Trời tối đen, trên trời đầy sao, gió mát lạnh, lòng vẫn hồi hộp mong đừng gặp tàu hải quan hay tàu đánh cá quốc doanh. Chẳng lâu, tài công cho biết không xa có một tàu thật lớn, có nhiều ánh đèn sáng trưng, Q và N nghĩ là tàu đánh cá quốc doanh, nên bảo tài công tắt máy để không có tiếng động và khỏi bị rượt bắt…



Trời dần dần sáng, thức giấc, tôi thấy mình trên một chiếc tàu dài 12 mét, rộng khoảng 2.5 mét, chứa được 18 người lớn nhỏ, chơi vơi giữa biển khơi, mênh mông nước xanh đen ngòm. Trên tàu tôi thấy có mía, vài bao củ sắn, sò huyết, tôm khô, hình như đó là do của vợ người tài công dùng để mua bán và có hai cái lu mái vú chứa đựng nước ngọt. Được kể lại là trước khi đi, họ lên tiếng là đi đổi nước ngọt, ai ở gần đó có muốn đổi, sẽ đổi giùm cho. Thế là chiếc tàu ra đi luôn với hai lu nước của người ta! Sau đó, phải dồn nước lại, quăng đi hai cái lu để tàu được nhẹ hơn, mặc dầu tàu đã nổi rất cao trên mặt nước.

Phải hơn mười mấy giờ, con tàu đã ra đến hải phận quốc tế và máy tàu đã bị hư. Tài công và N phải thay bằng máy đuôi tôm –lấy qua từ chiếc ghe trước khi rời VN- chạy bằng dầu, tôi thấy không ổn vì không đúng nhiên liệu. Bọn đàn ông đã căng những chiếc mền, chiếc mùng, làm buồm, nhờ gió thổi con tàu trôi đi!

Trời sáng hẳn, tôi cảm thấy mệt, suốt cả ngày trước và một đêm không có ăn và uống. Tôi ăn vội một củ sắn cho đở đói, thức ăn vào bụng chưa được bao lâu những cơn nôn mữa dồn dập tới, người đầu tiên trên tàu say sóng và sau đó là những người đà bà khác đều bị cả. Trong ba ngày trời, tôi nằm liệt trong cabin tàu ói đến mật xanh không còn gì có thể cho ra nữa. Chỉ có vợ của Q. là không sao cả! Có lẽ, có chuẩn bị thuốc say sóng, nên không bị vật vã, như tôi!

N thỉnh thoảng xuống thăm, an ủi cho tôi phần nào, tôi nhận ra một người quen mặt, đó là K. cùng học Nông Lâm Súc Long An với Sang cả hai học dưới tôi một lớp; quả đất tròn! Trên chiếc tàu nhỏ xíu mà vẫn còn gặp lại người quen! K. đi với một người đàn bà có 3 đứa con nhỏ. Sau này được biết bà ấy là vợ của một thiếu tá, chồng còn đang học cải tạo!

Bài số: 2 RE: HỒI KÝ CỦA CHUYẾN VƯỢT BIÊN - 1/17/2008 5:18:37 PM












Bài: 248

Từ: SJ, thung lũng hoa vàng



Đến giửa trưa ngày thứ nhất, cả bọn thấy ở chân trời xa tít mù có một điểm đen, di động, Q. quan sát qua ống dòm, cho hay đó là một chiếc tàu! Trong vòng mươi, mười lăm phút tàu đó hiện rõ ra, cả bọn nhốn nháo lên, chết rồi! Đó là tàu đánh cá Thailand, Q. bảo “ bà K. và người vợ của tài công hãy vào trong cabin, kéo cửa lại”. Có 4 người đàn bà trên tàu, luôn cả tôi. Q. và N. bàn tính là làm sao để tàu của Thái ở bên trái của tàu mình, vì K. đang nhắm mũi súng M16 ở hướng ấy. Tôi nhìn qua khe gổ, thấy tàu đánh cá đang chạy song song, bên trái. Bên tàu của họ, có 3 người đàn ông; một tên mặc áo sơ mi quần jean đàng hoàng, đứng ở đầu mũi tàu, 2 tên khác trong cabin, họ mặc chỉ có một quần lót trên người; tôi cảm thấy rụng rời, run sợ, tim đập thình thịch! Tên đứng ở đầu mũi hỏi sang bên tàu chúng tôi “Có cần giúp đỡ gì không?” bằng tiếng Thái, N. vội trả lời “không cần, đi đi”. Thế mà họ bỏ đi! Có lẽ, họ thấy bên tàu này chỉ toàn là đàn ông, tất cả là 8 người, đang đứng ở khoan tàu. Trời ơi! Cảm tạ ơn trời phật đã cho chúng tôi bình yên! Tôi không biết mọi người nghĩ gì, riêng tôi vui mừng khôn xiết.



Đêm lại đến, trời tối đen như mực, chơi vơi giửa biển khơi mênh mông nước, thỉnh thoảng P. cho tôi uống chút nước, ăn chút cháo, nhưng tất cả đều đi tháo ra cả. Chỉ có N và P để mắt lo đến tôi, có lẽ nhưng người kia đều có chuẩn bị thuốc say sóng nên họ không bị vật vã như tôi. N xuống nằm với tôi trong cabin, bên ngoài thỉnh thoảng vang lên lời bậy bạ của ai đó. Một đêm nữa đi qua trong bình yên!



Mãi đến sáng thứ ba, tôi tỉnh táo dần ăn được chút xíu cháo sò huyết do P. nấu, chẳng có gì mà sao vị ngọt ngào, có lẽ quá đói sau những ngày nằm dài trong cabin. Tôi ra ngoài giúp P, nấu cháo cho mọi người, múc nước ở trong khoan đổ ra không nhiều lắm, tàu làm thật tốt còn mới tinh thơm mùi dầu chai nổi trên mặt nước thật cao. Ở đầu lòng khoan tàu, vợ chồng K. trấn thủ ở đó với cây súng M16 mà Q. và N. đã giấu được khi học quân sự để dành cho chuyến vượt biên! Còn vợ tài công, quấn quít với hắn trên mái cabin, rên rỉ khóc tỉ tê trong niềm ấm ức vì ra đi bất chợt không báo cho gia đình biết.



Trong ngày này, chiếc máy đuôi tôm chạy bằng dầu đã không còn cầm cự được nữa, chỉ còn biết nhờ vào sức gió thổi đưa con tàu đi theo hướng của la bàn mà định hướng để vào Mã Lai như dự tính. Vì chúng tôi ra đi vào tháng ba, “bà già đi biển” biển lặng, sóng yên, tôi có cảm tưởng như mình đi picnic ngoài khơi. Thỉnh thoảng còn thấy những bầy cá bơi lội, nhảy bay lên theo con tàu, sao mà êm ắng thế!



Đêm thứ ba, trời vẫn còn tối đen như mực, gió biển thổi mạnh, con tàu chòng chành lắc lư, sóng đánh dồn dập nước tràn vào khoan tàu nhiều hơn những ngày trước. Trong một khoảng xa xăm nào đó, có những đóm lửa, tài công có vẽ hoảng hốt trước những đợt sóng lớn, hắn bảo N đốt lửa lên cầu cứu, N bảo “không được, vì nếu cầu cứu, sợ rằng sẽ có tàu đánh cá của Thái đến, những việc cướp bóc hảm hiếp phần nhiều là vì nhờ vào sự giúp đỡ của họ, họ sẽ qua tàu của mình mà uy hiếp”… Tài công không ghe lời giải thích khuyên can của N, Q và đám đàn ông lại làm thinh, hắn cứ thúc giục lớn tiếng với N, hắn sợ quá rồi! N đành phải nghe theo, tôi nhìn N đốt lửa lò từ cái lò nấu ăn hằng ngày mà lòng hoãng loạn, sợ tàu Thái sẽ đến, chuyện gì sẽ xảy ra cho bọn đàn bà, cho cả nhóm người trên tàu. Chỉ biết cầu nguyện, sao những ngày này tôi cầu nguyện nhiều thế, cầu xin trời phật ở trên cao vời vợi kia nhìn xuống giữa biển khơi mênh mông cần sự cứu giúp, tôi cầu nguyện trong những ngày này nhiều hơn cả hai mươi bốn năm hiện hữu trên cỏi đời, những lần cầu xin tha thiết nhất trong đời!



Thế là trong khoảnh khắc, một chiếc tàu đánh cá chạy đến, bọn đàn bà và trẻ con rút hết vào trong cabin, chỉ còn lại đàn ông; chúng rọi đèn pha qua tàu của chúng tôi và bỏ đi! Cảm tạ ơn trời phật một lần nữa, đã giúp chúng tôi qua khỏi một hiểm họa có thể xảy đến!



Trời sáng dần, sóng biển lắc lư con tàu, đã đánh rơi làm bể cái lò nấu ăn lúc khuya khi đốt lửa cầu cứu, chúng tôi không đói vì chợt nôn nao, nhốn nháo, khi nhìn thấy dấu hiệu của đất liền ở xa xa, không biết đây là đâu, cứ chạy thẳng tới, sóng vẫn đánh dồn dập lên con tàu, có lẽ gần bờ nên sóng nhiều hơn. Cả bọn nhốn nháo lên, niềm hân hoan vô tư khi thấy bờ biển rõ dần. Ai nấy vui vẽ mừng rỡ, bàn bạc với nhau là đem cây súng giao cho cảnh sát, trên tàu còn thức ăn, chúng ta sẽ nấu ăn xong rồi hãy tìm cảnh sát…Ôi! Sao mà vô tư thế! Vậy mà phải vài giờ trôi qua, đáy con tàu đụng bải cát nhưng vẫn còn xa bờ, những người dân trong làng họ đứng đông nghẹt trên bải biển; chúng tôi vui mừng khi thấy những người đàn ông bơi ra ngoài, bọn tôi tưởng họ đón chúng tôi. Tôi và N nhảy ra khỏi tàu, tôi hụt hẫng hoảng sợ vì mực nước biển ngập đến ngực, N vội nắm tay tôi. Tôi chợt nói với N “mình bị cướp cạn rồi, anh ơi!” vì bọn đàn ông của Thái bơi lại gần chúng tôi, họ rút trong mình ra nào là dao, nào là búa. Một tên đến gần, chụp vào túi áo trên ngực tôi, hết hồn! Tôi vội móc ra, chỉ là chai dầu xanh! Lên đến bải, tôi nhìn lại chiếc tàu của nhóm, bây giờ chỉ còn lại cái sườn trơ vơ trống lốc, họ đã nạy lấy những mảnh ván của con tàu một cách thật nhanh chóng không ngờ được. Có lẽ họ tìm vàng! Không biết vợ chồng K. có mất mát gì không? Tôi nghĩ thầm, tôi thật sự đã rời xa VN, thật sự xa mất anh rồi, xa anh nghìn trùng, từ nay!



Tôi và N đến sau cùng, bọn người Thái đứng vây quanh chúng tôi thành một vòng tròn. Họ nói xí xô, xí xào chỉ trỏ con bé của Q. chưa đầy một tuổi gầy gò, èo uột. Q. và N. nói với họ gọi cảnh sát giùm chúng tôi. Bấy giờ, tỉnh táo lại sau khi được những người già, những người đàn bà giúp đở, mang cơm và nước đến cho chúng tôi dùng. Tôi hỏi N đưa tôi đi restroom, trở ra, tôi chợt cười ngất; N hỏi việc gì mà cười vui vậy, mắc cở quá! Tôi bảo rằng cái quần đen đang mặc, may bằng tay ở Cà Mau, xuống nước biển khi lội vào bờ đã rách lủng đáy rồi. Tôi chẳng hay biết gì cả, vậy mà đã ngồi thoải mái, hèn chi cảm thấy mát mẻ quá trời!

Bài số: 3 RE: HỒI KÝ CỦA CHUYẾN VƯỢT BIÊN - 1/17/2008 5:20:51 PM












02-03-81-Đoàn người chúng tôi phải chờ đợi hơn 2 tiếng đồng hồ vẫn chưa thấy cảnh sát đến. Dân làng ở đây cho biết, nơi đây là một làng đánh cá tên là Huasai, ở phía nam của Tháiland, cách xa Mã Lai đến 500km, theo dự tính là nơi phải đến Thế mà nhờ gió thổi con tàu hư máy tấp vào đất Thái. Họ bắt đầu hỏi chúng tôi có vàng không họ muốn mua!



Cuối cùng cảnh sát cũng đến, đầu tiên tên đại úy người Thái, bảo chúng tôi đứng thành một hàng, hỏi có mang vàng không, hắn muốn mua lại; không ai trả lời, hắn đi xét từng lai áo, từng cổ áo của từng người. Thế là cũng lòi ra những tên cướp cạn không hơn không kém!



Sau cùng, cảnh sát chở chúng tôi về trại, nơi đây là một cái nhà, chung quanh trống trải, không có vách, nền ciment. Làm giấy tờ xong, họ phát cho thức ăn, gạo để nấu ăn trong khi chờ đợi Hồng Thập Tự đến.



Ở đó, đã có 38 người của hai chiếc tàu riêng biệt. Mỗi chiếc đều bị hải tặc tấn công 6 và 9 lần. Trong nhóm đó có gia đình của bà Sáu, vợ một trung tá, đẹp, chồng còn đang học tập, dẫn 4 cô con gái và một cháu trai ra đi; cả nhà đều bị hải tặc hảm hiếp, tội nhất là cô bé mới 14 tuổi nhỏ nhất nhà đã gần ba tuần qua mà vẫn còn đi khấp khểnh đau đớn!



Họ bảo ghe của chúng tôi rất may mắn, chỉ bị cướp cạn, coi chừng tên đại úy cảnh sát,trại trưởng, hắn để ý ai xinh trong đám, nằm ở chổ nào; đêm đến, hắn đi “mò” đó. Đàn bà ngủ một mình coi chừng hắn đó! Tôi nghe mà phát hoảng!

Đêm ấy, tôi kiếm một chổ ở giữa đám để nằm, N đến cùng với tôi! Còn những ai nữa để tôi có thể nương tựa vào lúc này ngoài N và cháu của anh; chung quanh tôi, Q , K và tài công có vợ ở kế bên, còn lại 4 tên đàn ông độc thân tại chổ!



Đêm đầu tiên ngủ ở trên nền đất Thái, tôi có cảm giác nổi trôi bềnh bồng của những ngày trên biển, tôi nằm mơ thấy mình vượt biên cùng với LNT, không là LTN, mặc dầu N đã chăm sóc, lo lắng những ngày qua, mơ thấy đám học trò ở khu nội trú…Tôi đang mơ màng với giấc mộng, chợt nghe tiếng động, tiếng chân của ai đi đến. Lắng nghe, bước chân đến gần, gần hơn, đi qua nơi tôi nằm, ngồi xuống chiếc mùng kế bên. Đó là chổ của vợ chồng bà K. may mắn, có K nằm trong đó, phía bên ngoài! Hắn đứng dậy bỏ đi! Tôi đánh thức N và nhận dạng được hắn nhờ ánh đèn chiếu bên ngoài, à! thì ra là tên đại úy, lúc chiều đã được nói đến.



Những ngày sau đó là những ngày thật an nhàn, chỉ biết đợi chờ HTT đến và Cao Ủy đón về trại tị nạn, từ đó mới có thể đi sớm được. Bọn tôi chia nhau nấu cơm, ăn rồi ngủ và viết thư báo cho gia đình biết là đã đến nơi. Nhóm 38 người đã được đưa về Trại Tị Nạn Songkhla. Chúng tôi, người ở lại được bàn giao công việc của những người ở xung quanh trại nhờ chúng tôi làm. Tôi và bà K có công việc giặt giũ áo quần của một gia đình, một thau quần áo to lớn, nhìn thấy mà rụng rời tay chân, thế mới biết kiếm được đồng tiền quí giá như thế nào, nước mắt và mồ hôi!



Được một tuần, tôi và P. kiếm được một ít tiền bèn rủ N đi chợ. Sau năm 75, nhiều năm chúng tôi không có những thứ tiêu khiển hưởng thụ xa xỉ, thời gian đó không có gạo trắng để ăn, nói gì đến uống Coca Cola. Được chai nước ngọt lạnh ngắt, tôi hút một hơi mạnh, dài, hơi gas xông lên đến tận hốc mũi, tôi có cảm giác muốn nín thở cay cay khó chịu. Bài học đầu tiên tôi tởn đến già! Bây giờ chỉ uống từng ngụm nhỏ thôi. Sợ rồi!



Chúng tôi mua sắm thêm những đồ cần dùng, khi trở về, đi ngang qua đám thanh niên Thái, họ gọi chúng tôi “Yuồn! Yuồn!” trong tiếng gọi đầy giọng miệt thị, khinh khi! Chúng tôi lẳng lặng nhanh chân trở về trại. Đó là lí do chúng tôi không dám ra khỏi trại cảnh sát một mình.



Hôm sau, được rảnh rổi N dẫn tôi đi cùng với Q đến bệnh viện, lấy nước tiểu, tôi không hiểu để làm gì? Trở về tôi hỏi N, anh nói “thấy T có vẽ tròn tròn, anh sợ T có thai, nên dẫn đi check?!!” Ngày sau, tôi cho N biết “đừng lo, T đã có rồi..” N thở phào nhẹ nhỏm vì anh sợ, nếu có gì sẽ rắc rối cho cả hai(?), cho việc đi định cư!



Tuần lễ thứ hai, chúng tôi được hội từ thiện CARE của Mỹ đến ủy lạo; họ nhận gởi thư từ của chúng tôi và cho mọi người một túi xách với áo quần và những đồ cá nhân cần dùng.



Sang tuần lễ thứ ba, chúng tôi được đưa đi Songkhla, sẽ không còn thoải mái bằng những ngày ở tại đây. Giả từ Huasai!




Nhóm chúng tôi đến trại, được ban an ninh giử bên ngoài cổng trại; được tiếp đón bằng một màn phỏng vấn lý lịch sơ khởi, trước khi cho vào bên trong. Bước qua cổng, nhìn thấy rừng người đứng đón chào để nhận diện người quen. Tôi nghe có người gọi tên, à gia đình của cô Hai Bé ở cùng phố; đã có người quen. Thời gian này trại thật đông người, không còn chổ cho ghe (không gọi là tàu) của chúng tôi ở trong barrack, phải ngủ tạm ngoài bải biển cho đến khi nào barrack trống.



Buổi trưa ở trại, trời nóng, nắng gay gắt chói chan, phản chiếu ánh cát vàng của bải biển đông, đầy người. Nước biển trong xanh, người lớn bơi lội, trẻ con chơi đùa tung tăng trên cát tận hưởng giây phút yên bình thoải mái với những làn sóng nước ấm mát. Chúng tôi được phát chiếu mùng mền và được giới thiệu về sinh hoạt, điều lệ của trại yêu cầu mọi người phải tuân theo và thay phiên nhau làm vệ sinh để giữ trại được sạch sẽ.



Trại được điều hành bởi ban đại diện trại có trại trưởng, có tất cả ban ngành như trật tự, an ninh, thông tin, thư tín, thông dịch, phân phối thức ăn…có cả chùa và nhà thờ, có trung tâm phụ nữ dành cho phụ nữ đi một mình ở nơi đó. Trung tâm sinh hoạt dành cho thiếu nhi mà những người phục vụ là các anh chị tị nạn của trại.



Ánh nắng chiều nhạt dần, mặt trời xuống tận chân trời, nhường cho bóng đêm chúng tôi sẽ ngủ trên bải biển như mọi người đến trước, vẫn chưa có và còn đợi chổ.



Buổi tối lúc 7pm, giờ phát thanh của ban thông tin, đọc tin tức, thơ, văn nghệ, nhắn tin. Mọi người đem chiếu mền ra bải sửa soạn chổ ngủ. Đến 9pm, tắt đèn, giờ đi ngủ. Ở trại có ban an ninh, nên cảnh sát Thái không vào bên trong trại, nhưng đừng để xảy ra chuyện, nếu có lộn xộn chúng nó ở ngoài cổng vào can thiệp rất phiền, chúng đánh người rất dã man!



Bầu trời tối đen đầy sao, gió mát lành lạnh, tôi thích ngắm nhìn những vì sao, trong những đêm tối trời, hay ngắm ánh trăng vàng vào những đêm trăng tròn. “Tròn như bánh tráng dán trên không!” mà thuở nhỏ hay thường nói đùa. Nhìn mọi người nằm sấp lớp trên bải biển giống như cá mòi trong hộp! May là thời gian này vào mùa khô ráo, không bị mưa nếu có mọi người sẽ khổ sở đến dường nào.



Tôi nằm ngủ trên bải cùng với N nói về những ngày sắp tới, chưa biết sẽ ở trại bao lâu; ngày mai sẽ đi thăm gia đình cô Hai để hỏi thăm tình hình của trại. Ngước nhìn mọi người chìm đắm vào giấc ngủ, có người đã rơi vào giấc mơ ú ớ vang vọng lại, chắc không ít người đã để hồn mình trở về chốn cũ, quê nhà!



Gia đình cô Hai ra đi vào lúc Tết, ở chợ lúc ấy có nhiều người ra đi như Nhuẫn với Trang, tôi nhớ khi nghe các em cho biết tôi thật sốt ruột, nóng lòng muốn đi gặp Lý. Cô Hai cho biết phái đoàn Mỹ trong đó có một người với hổn danh “ông Gà Đá” rất khó vì hầu hết nhiều người bị bác đơn đi Mỹ, thiên hạ kêu rêu vì vậy! Cùng lúc, cho biết pháí đoàn Úc rất chuộng những người trí thức, độc thân được nhận một cách dễ dàng và cấp thêm đất đai cho canh tác (?). Không biết thực hư như thế nào, tôi liền viết thư cho chị C. nói cho chị biết như vậy; được thư chị cho biết là “người ta đã bảo rằng không nơi nào trên thế giới này hơn Mỹ(?)!”



Hai ngày sau, chúng tôi là Q, N và tôi được gọi tên và được đưa ra Songkhla. Tôi thắc mắc không biết việc gì. Tuần tự chúng tôi được gọi tên, được nói chuyện với một người Việt, sau này biết tên là CvH làm cho ban an ninh trại hợp tác với an ninh Thái phỏng vấn, điều tra những ai còn là công nhân viên nhà nước làm việc sau năm 75.



Tôi được H hỏi những câu hỏi về nơi làm việc, ai là ban lảnh đạo, nói thật chi tiết về họ, tên tuổi, sinh hoạt, tính tình, hình dáng…viết ra tất cả, giống như làm bảng tự kiểm, bảng lý lịch vậy! Tôi nghĩ thầm, ra khỏi VN rồi mà vẫn còn làm tự kiểm. Ối gizời ơi! tưởng tra tấn gì thì sợ, chứ bắt viết thì tôi viết cho mà xem. Thế là, chúng tôi mỗi người một phòng riêng vắng vẽ, yên tịnh, tha hồ viết “tự kiểm lý lịch nghề nghiệp bản thân”, từ nơi ăn chốn ở những sinh hoạt nơi làm việc. Bánh, nước uống được đưa vào, có cần đi restroom thì tự nhiên. Sau màn huấn thị, H rời phòng, tôi lấy lại tinh thần rồi đặt bút xuống viết không ngơi nghỉ, những dòng chữ tuôn tràn trên mặt giấy như có dịp được bày tỏ ý nghĩ, cảm tưởng của mình sau 5 năm ở lại trong nước .



Vừa hoàn tất cũng vừa đến giờ ăn trưa, nghỉ đến 2pm chúng tôi được gọi vào làm việc tiếp. Đầu tiên, H chào và cất tiếng khen ngợi bài viết “ chị viết hay lắm đó” để rồi chất vấn lại những gì tôi đã viết. Tra hỏi việc tôi được kết nạp đoàn, tôi bảo với anh ta “Trong lý lịch của tôi ở trường, tôi được xếp vào diện gia đình có người đi Mỹ, ba tôi là giáo viên dạy học suốt cuộc đời của ông, bị mất việc sau đó, tôi không phải là thành phần nồng cốt của họ, nhưng gần ra trường mình không có làm gì xấu, họ phải kết nạp thôi. Sống ở đâu thì theo đó!” CvH không có ý kiến gì cả. Tôi được ra về, Q và N bị đi thêm ngày thứ hai.



Những ngày ở trại sau đó tôi có gặp anh Trí, khoa Nông nghiệp cùng lớp với TTHạnh đến được nhiều tháng, đang điều chỉnh hồ sơ và đợi hôn thê ở Mã Lai sang nhập hộ, cho biết có tin anh Khang cùng khóa Nông Nghiệp , anh Cường. khoa Công Nghiệp đang ở Mã Lai. Một hôm, chúng tôi biết sẽ có ghe mới đến, tôi cũng ra đứng đón để tìm người quen. Họ đến, từng người đi qua tôi nhận ra một người học khoa Công nghiệp, khóa 74, cùng trong đội đá banh với LNT tôi không biết tên. Tôi mong ước được gặp chị T.của tôi ở đây! Chị đã đi cả tháng, ở nhà trông tin.



Thời gian chậm chạp trôi qua, tôi nhận được thư chị C kèm tiền và hình của gia đình chị có cả T. em anh Đ. đã qua được một năm. Chị thật vui mừng khi biết tôi đã qua đến trại, đang xúc tiến hồ sơ bảo lảnh, tôi hơi thất vọng vì chị không đề cập bảo lảnh cậu cháu của N. N đành phải đi theo diện nhà thờ vậy.



Ở trại lâu ngày, tôi biết có rất nhiều chuyện, nhiều hoàn cảnh đau thương, khốn khổ ở trần gian đều có thể xảy ra ở đây. Gia đình tan nát, mất mát vợ chồng con cái với ghe không số một người, không chỉ cho đàn bà con gái mà với đàn ông cũng xảy ra rất nhiều. Có một hôm buổi trưa, tôi ngồi thơ thẩn trên bải biển, thấy có một cô gái từ xa đi lại hỏi thăm về trại. Tôi chỉ dẫn cô, đến chiều tôi biết cô ta bị bắt cóc bởi người đánh cá Thái, cô ta trốn khỏi và tìm đến trại. Mừng cho cô ta!



Được hơn hai tháng ghe chúng tôi được gọi tên lên là bổ túc hồ sơ, tôi không có tên. Tôi bật khóc vì tủi thân hoảng sợ, N sẽ đi và tôi sẽ ở lại một mình khi đứng trốn vào một góc vắng người, tôi buồn quá! Sau khi phỏng vấn xong, N ra tìm gặp tôi với cặp mắt đỏ hoe, anh an ủi rồi sẽ đi mà! Hai tháng sau, tôi cũng có tên chuyển trại cùng với N và P. ôi! Tôi vui mừng không kể xiết.



Chuyến đi dài cả ngày đến trại Panatnikhom, tôi ở một lô khác với N và P và những người đi cùng ghe. Tôi có đến chổ ở và thấy đám đàn ông con trai đầy trong lô, tôi sợ quá, liền nói với lô trưởng tôi sẽ ở với bạn tôi nơi khác. Những ngày ở đây chúng tôi được học một lớp về văn hóa mới khi đến quốc gia thứ ba.

những lớp Anh văn do các người ngoại quốc thiện nguyện dạy…



Chuyến đi cho N và P cũng đến, tôi và N thức trắng cả đêm bên nhau, đến sáng cả hai đi nhà thờ nhắm mắt cầu nguyện mà muốn ngủ luôn, hai mí muốn nhíp lại, đầu gật lên xuống, thật mắc cở! Tôi tiển hai cậu cháu, nhìn anh ổn định trong hàng, tôi quay trở về vì không mở mắt nổi; sau này nhận thư anh trách tìm hoài không thấy tôi đâu.



Lúc này, tôi về nhập bọn với nhóm Tin Lành với Sơn, với Khoa, với Thê, chị Cần chị Hương, tôi quen K. và H. cũng vui, đỡ lo buồn. Q. có đến tìm tôi vài lần, hắn muốn tiền và không biết có còn gì nữa không? Tôi làm lơ, anh đã lấy phần đặt cọc rồi, đừng hòng đòi thêm, thỉnh thoảng tôi thấy vợ hắn đi qua chổ tôi ở, có lẽ tìm hắn…Tôi nhớ một hôm, buổi chiều 5pm có lễ chào cờ, S đứng ở cửa sổ liền bỏ vào ngồi xuống vỏng; vừa chấm dứt bài hát quốc ca Thái, tôi thấy tên cảnh sát Thái đi sồng sộc vào lô tôi đang ở. Hắn bắt S. quì xuống tán cho S một bạt tai và xí xô xí xào, người thông dịch cho biết S không chào cờ. Tôi không ngờ hắn thấy. May mắn cho S. hắn tha, hên! nếu gặp thằng hung dữ chúng đấm đá mất dạy lắm.



Trong lô, có cặp vơ chồng trẻ có hai con, đi Úc bạn của Sang, khi biết tôi học Nông lâm súc Long An. Ra trường, Sang về Rạch Giá, từ đó tôi biết tin về anh đang sống với một người đàn bà ở RG, đó là lý do tôi không trả lời thư anh khi nhận được, lúc ở trại TháiLand.



Lần lượt K đi San Jose, H đi Utah, một tuần lễ sau ngày 30-09-81 tôi cũng có tên đi. Mừng rỡ vô cùng! nếu bị lọt sổ đợt này, tôi sẽ đi qua Galang, Indonesia như Sơn, mặc dầu còn độc thân. Chính sách tị nạn bắt đầu thay đổi, các trại tị nạn ở Thái sẽ đóng cửa vào cuối năm 81.
Xin để lại đây những ngày tháng nhục nhằn trong trại tù Cải tạo, tuy trong đó có những ý nghĩ, quan điểm và nhận xét riêng của cá nhân nhưng mục đích hoàn toàn không phải để tranh luận, mà chỉ muốn thuật lại những sự thật không thể quên trong đời.

Học tập mười ngày.
Tôi chở vợ đến cổng trường Pétrus-Ký lúc năm giờ chiều, và hai vợ chồng chia tay. Mặc dù cả hai chúng tôi đều sinh trưởng ở Sàigòn suốt từ thuở ấu thời, lúc đó tôi vẫn cảm thấy vợ mình thật bé nhỏ và lạc lõng, lòng chợt thương nhớ nàng vô hạn, dù chúng tôi chỉ vừa xa nhau chưa đầy một phút, và bóng nàng còn chưa khất hẳn. Nhìn nàng thật mỏng manh tội nghiệp trên chiếc xe đạp một mình quay về nhà. Chiếc xe đạp nhỏ này là kỷ niệm quí giá duy nhất còn lại của hai vợ chồng sau ngày ba mươi tháng tư 1975. Khi chúng tôi mới lấy nhau, tôi thích chở nàng bằng chiếc xe đạp này chứ không dùng xe gắn máy.
Khi bóng nàng khuất hẳn, tôi quay mình thẫn thờ đi vào khuôn viên nhà trường trình diện cải tạo. Đúng như thông báo của ủy ban quân quản thành phố Sàigòn “mang theo mười ngày lương thực. Học tập tốt sẽ được trở về với gia đình”. Lòng tôi như chùng xuống, ân hận đã không chờ thêm một lúc nữa hãy trình diện, như vậy còn được ở bên cạnh vợ thêm vài tiếng nữa. Tội cho vợ tôi mới lấy chồng hồi giữa tháng một, đầu tháng năm đã phải xa nhau. Chính tôi cũng cảm thấy mắt mình nhòa đi, hỏi nàng sao khỏi đau buồn.
Đầu óc miên man những lo nghĩ mông lung, không rõ rồi họ sẽ đối xử với mình ra sao. Người vào trình diện càng lúc càng đông, khoảng chín giờ tối đã dầy ắp các phòng học. Mười một giờ đêm, những lo nghĩ mông lung ban đầu của mọi người đã biến thành nỗi lo sợ nặng chĩu vì tiếng máy của đoàn xe vận tải Molotova vừa ngừng ngoài cổng trường. Chắc chắn chúng tôi sẽ bị di chuyển đi một nơi xa xôi nào đó, không phải chỉ học tập mười ngày ở trong phạm vi Sàigòn Gia Định như một số anh em đã bàn tán hồi chập tối.
Tháng năm trời Sàigòn dù về đêm vẫn oi ả không dịu bớt chút nào, những chiếc Molotova căng bạt bít bùng, làm sao chúng tôi chẳng lo sợ? Bắt đầu lên xe từ mười một giờ đêm, đến gần hai giờ sáng mới xong, chúng tôi bị dồn vào những chiếc Molotova tối thui. Mỗi xe nhét khoảng ba chục anh em và hai bộ đội trang bị AK47 ngồi ở hai góc cuối xe chỉa súng nhăm nhăm. Anh em ngồi chặt cứng như những bó giò, muốn xoay trở một chút thật là cả một vấn đề khó khăn. Không khí trong xe rất ngột ngạt, phần vì hai họng AK đen ngòm, phần vì xe được bao kín mít, ngay cả đằng sau chỗ hai tên bộ đội ngồi cũng có phủ bạt, không để hở. Tinh cảnh này càng làm cho sự lo sợ của mọi người tăng lên gấp bội. Đi học tập sao lại phải bịt kín mít, và di chuyển đêm, để che mắt dân chúng?

Đêm Sàigòn dạo này đường phố vắng tanh vắng ngắt. Vốn từng được mệnh danh thành phố về đêm, đèn mầu luôn rực sáng, xe cộ tấp nập, du khách dập dìu. Từ ba mươi tháng tư, Sàigòn ban đêm đã hoàn toàn đổi hẳn, không khác nào một bãi tha ma. Có phải Sàigòn vẫn còn kinh hoàng vì cái ngày đau thương ba mươi tháng tư? Hay Sàigòn đã kiệt sức qua những máu lửa ngụt trời? chán chường cho cuộc đổi thay? Và chuyến ra đi âm thầm của chúng tôi, Sàigòn không hề hay biết.

Tiếng xì xào chuyền tai nhau, bắt nguồn từ hai anh bạn ngồi ở hai góc phía đầu xe, họ đã nhận ra lộ trình chuyến đi qua khe hở nhỏ của miếng bạt phía trước. Từ Pétrus Ký, đoàn xe theo đại lộ Cộng Hòa ra đường Lê Văn Duyệt hướng thẳng về phía Tây Ninh. Họ đưa chúng tôi lên biên giới Kampuchia!
Tám giờ sáng hôm sau đoàn xe vào Trảng Lớn, căn cứ pháo binh của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi tạm trú ở đây và được chia ra thành từng nhóm:

Nhóm một, gồm các sĩ quan từ cấp Thiếu tá trở lên.
Nhóm hai, cấp trung úy trở xuống của các binh chủng Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, Tình Báo, và Chiến Tranh Chính Trị.
Nhóm ba, từ Trung úy trở xuống của hai Quân chủng Không Quân, Hải Quân và các binh chủng Thiết Giáp, Pháo Binh.
Nhóm bốn, từ Trung úy trở xuống của các binh chủng Bộ Binh, Địa Phương Quân, và Nghĩa Quân.
Riêng cấp đại úy cũng có một số được xếp vào nhóm hai ở các trại tù trong miền nam. Tuy nhiên nếu là đại úy thuộc Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Dộng Quân và Chiến Tranh Chính Trị, đều bị đưa vào nhóm một với cấp tá. Sau này tôi được biết Việt Cộng đã liệt các vị thuộc nhóm một vào thành phần Ngụy quân cấp cao cực kỳ ác ôn, và đưa ra các trại tù cải tạo miền bắc, nhóm hai thành phần cực kỳ ác ôn có nhiều nợ máu, nhóm ba Thành phần cực kỳ ác ôn, nhóm bốn Thành phần ác ôn.

Sau thời gian tạm trú khoảng một tháng, đội ngũ đuợc chia xong. Đại đội họ gọi là đội, trung đội là B, tiểu đội là A. Chúng tôi bị đưa đi lao động khổ sai khắp các trại tù dọc biên giới Việt, Miên, Lào. Tôi thuộc tiểu đoàn đến trại Long Khánh. và cuộc đời tù binh thực sự khởi đầu từ đó.

Quê hương ta rừng vàng biển bạc.
Đến Long Khánh lúc chập choạng tối. Theo một vài bạn tù cho biết, đây vốn là trại gia binh của sư đoàn 18 bộ binh lúc trước. Một ý nghĩ khôi hài chợt hiện đến làm tôi chua xót cuời thầm. “Có ai như chúng tôi, khăn gói tự động trình diện để được vào tù, mặc dù mình chưa hề làm nên tội lỗi gì“.

Dù không tin vào bản thông cáo mười ngày học tập, khi đi trình diện, tôi vẫn ngây thơ nghĩ: mình chỉ phải xa nhà cùng lắm là khoảng một tới ba tháng, nên đã chuẩn bị hành trang thật nhẹ nhàng. Mang theo vỏn vẹn chỉ một bộ quần áo cùng hai bộ đồ lót để thay đổi, một ít đồ dùng lặt vặt như bàn chải, kem đánh răng , khăn lau mặt. Tất cả để trong một túi nylon cho nhẹ. Một buổi trưa rất nóng ở Trảng Lớn, tôi vào một lô cốt tránh nắng đã tìm được một đôi giầy vải, một chiếc ba-lô và một xấp năm bao cát. Tất cả đều còn mới. Ba-lô và đôi giày vải đã trở nên vật dụng tiện lợi và cần thiết nhất cho tôi những ngày tháng sau này.
Tuần lễ đầu chúng tôi ổn định chỗ ăn ở, thu dọn trại mà lòng lúc nào cũng băn khoăn không biết số mạng mình rồi sẽ ra sao? Long Khánh là vùng cao nguyên. Trời nắng hè, bụi đất đỏ luôn phủ đầy cây lá và mọi vật dụng nhà cửa. Khi mưa xuống, đất dính bết vào giầy dép, làm cho chân người đi càng lúc càng nặng. Ngày đầu mới đến, trời đã đổ một cơn mưa thật lớn. đôi dép cũ không còn chịu nổi nữa, quai dép sau nhiều lần tuột lên tuột xuống đã đứt mất. Tìm một miếng gỗ thông mỏng, tôi hì hục mãi, đẽo được một đôi guốc gỗ. Không hiểu vì sao guốc gỗ lại ít bị dính đất, và chuyện đi đứng đã dễ dàng hơn. Một tuần lễ sau chúng tôi được báo chuẩn bị hôm sau lên hội trường học tập. Mọi người đều mừng rỡ, nghĩ đã đến lúc học tập tất cũng sẽ có lúc học xong. Nghĩa là chúng tôi còn hy vọng có ngày về.
Do một thượng úy ủy viên chính trị từ trung đoàn xuống giảng bài đầu tiên với tựa đề thật bóng bẩy: “Quê hương ta giàu đẹp nhân dân ta anh hùng”. Anh cán bộ chính trị này thao thao bất tuyệt trên hội truờng:
“Quê hương ta rừng vàng biển bạc. Cả ba miền bắc, trung, nam, đều không thiếu gì sông biển bạc, và rừng rậm vàng tươi…. Nhân dân ta anh hùng, lại có sự lãnh đạo tài tình trong bao nhiêu năm của bác và đảng … Đảng là đỉnh cao trí tuệ của loài người đã lãnh đạo khéo léo đánh cho Mỹ cút ngụy nhào … bộ đội ta có óc sáng tạo khi đánh Mỹ, chỉ với súng lục và súng trường đã bắn rơi cả máy bay B52 của địch …”.

Tôi nghe tới đó ngẩn người tự nghĩ: “Không lẽ anh cán bộ ủy viên chính trị này coi chúng tôi là trẻ nhỏ thất học? Nhìn anh ta với vẻ thành khẩn nghiêm nghị, chắc hẳn đang say xưa với việc thuyết giảng. Không hiểu anh ta có thực sự hiểu mình đang nói gì? hay chỉ học thuộc lòng bài viết sẵn và đọc thao thao như thế. Có một điều tôi dám quả quyết: anh ta tuyệt đối tin tưởng những gì mình đang nói. Đến mục nêu câu hỏi, tôi đã liều đứng lên.
- Nhờ Cán bộ nói rõ thêm chỗ nước ta rừng vàng biển bạc một chút nữa tôi không hiểu rõ lắm.
- Thế là anh nghe giảng không được tập trung lắm rồi nhá. Trong bài tôi đã nói rõ ràng, miền bắc nước ta sông ngòi rất nhiều ngày đêm chảy ra biển không ngừng. Mà biển nước ta thì lạ lắm, mênh mông lúc nào cũng lóng lánh như bạc, đẹp không thể nào tả xiết được. Rừng thì bao phủ khắp cao nguyên bắc phần chạy dọc miền trung vào trong nam chỗ nào cũng có rừng. Rừng nước ta rất nhiều loại gỗ quí như gõ, trắc, gụ, lim vân vân. Các loại gỗ qúy này mầu sắc vàng tươi xuất cảng ra nước ngoài rất được ưa chuộng.
Anh còn hỏi gì khác nữa không?
- Máy bay B52 bay rất cao, súng lục chỉ có thể bắn được xa nhất là khoảng năm chục thước, nếu bắn ngược lên cao, tầm bắn có thể còn ngắn hơn thế nữa, vậy làm thế nào mà súng lục bắn rơi được máy bay?
- Đó là tại các anh không biết đấy thôi. Các đồng chí anh hùng lái máy bay Mig của ta đã sáng tạo ra một cách để diệt các máy bay Mỹ. Khi ra trận họ tìm một cụm mây to rồi nấp vào trong đấy tắt máy nằm chờ, như thế còn tiết kiệm cả xăng nữa đấy nhá. Bất thình lình khi chiếc máy bay B52 vừa trờ đến là đồng chí ấy mở máy rồi bay ra chẹt ngay đằng đầu mà bắn làm cho chúng nó không kịp giở tay và bị rơi rất nhiều. Về sau tụi giặc lái Mỹ hoảng vía không dám bay cao nữa, cứ khi nào vào đến vùng thả bom thì nó bay xà xà xuống thật thấp, và bị quân dân ta dùng súng trường và súng lục bắn rơi. Chính tôi cũng đã dùng khẩu súng này hạ được một chiếc hồi chiến dịch mùa hè đấy nhá. Nói đến đây anh cán bộ giảng viên chính trị đưa tay trỏ vào khẩu K54 đang đeo bên hông với vẻ mặt đầy kiêu hãnh.

Đánh tư sản.
Bỗng dưng sáng nay Long Khánh trở lạnh . Những làn gió sớm cao nguyên lùa vào trại làm mọi người đều rùng mình. Tôi lặng lẽ đi làm, đầu óc suy nghĩ vẩn vơ. Đi chung toán với Tạo, Tạo nguyên là trung úy nhẩy dù, rất gan dạ, khi còn trẻ thường hay ngang tàng phá phách coi trời bằng vung. Sáng nay Tao tuy có hơi co ro nhưng vẫn tươi cười xông xáo như thường lệ, quả không hổ danh thiên thần mũ đỏ.
Nguyên cả A không ai là không nao núng sau buổi tối qua, chỉ có anh bạn dù này là không tỏ vẻ gì chán nản cả. Tôi cẩn thận đảo mắt nhìn quanh, khi chắc chắn không ai ở gần có thể nghe được đối thoại của chúng tôi mới hỏi.
“Chắc mày biết rành khu này hả Tạo?”
Tạo cũng đảo mắt vòng quanh như tôi rồi tủm tỉm
“Vùng này, trước đây tao đã dẫm nát cả rồi“.
Tôi và Tạo không những cùng chung A, chỗ ngủ còn ở ngay bên cạnh nhau nữa, vì vậy tuy mới hơn ba tháng mà tình bạn đã thân thiết lắm.

Đưa tay rờ gấu áo, thấy chiếc nhẫn cưới vẫn nằm ẩn an toàn trong đó, lòng cảm thấy ấm lại đôi chút. Chiếc nhẫn cưới này tôi quyết không nộp ra.
Hôm qua chúng tôi được lệnh phải nộp tất cả tài sản cá nhân cho tiểu đoàn cất giữ. Bao gồm mọi thứ như đồng hồ đeo tay, nhẫn cưới, dây chuyền, tiền mặt v . . v . . . Chỉ trừ quần áo và đồ ăn. Tôi nghĩ: tù nhân, mạng còn chưa biết sống nay chết mai ra sao, lo gì đến những vật ngoại thân đó, tuy vậy nhưng lòng lại ấm ức. Nộp tiền có thể cho là đúng đi, vì trong trai tù kín mít cũng không thể mua bán gì được, nhưng đồng hồ hay nhẫn cưới cũng phải nộp thì vô lý qúa. Thủ tục gom đồ nộp cũng không minh bạch, không có danh sách liệt kê các món đồ và tên người nộp. Nếu sau này học tập xong được cho về, liệu cán bộ có chịu lục tìm trong đống đồ lung tung như thế không? và nếu chịu tìm, làm sao có thể tìm ra được món đồ không có ghi tên đây? biết bao nhiêu cái đồng hồ giống hệt như nhau? Nhẫn cưới hoặc dây chuyền lại càng khó phân biệt hơn? Nếu tìm không ra rồi mới tính sao? Thêm nữa, các món này có bảo đảm còn nguyên vẹn cho đến lúc chúng tôi về hay không? Hoặc mấy ngày nữa chúng tôi lại chuyển trại thì sao đây? Cuối cùng tôi đã quyết định dấu chiếc nhẫn cưới vào gấu áo, dấu đồng hồ vào quai ba-lô và may lại như cũ.

Buổi chiều nộp đồ xong cũng đã gần tối. Đêm đó khoảng hai giờ rưỡi sáng bỗng có lệnh di chuyển. Chúng tôi được lệnh ra sân tập họp với tất cả hành trang trong vòng mười lăm phút để lên xe. Cũng may tôi không có nhiều thứ lỉnh kỉnh. Một tấm chăn tự làm bằng vải bao cát mà tôi đã nhặt được từ Trảng Lớn, một chiếu nylon nhỏ mang theo từ ngày đầu trình diện, một lon sữa Guigo dùng để nấu nước uống. Tôi nhét tất cả vào ba-lô, ra sân nhìn quanh mới có hai ba người. Lạ thật, mới vừa ổn định trại và dù đã bắt đầu học tập chính trị, nhưng mới có một bài sao đã di chuyển? và chuyển trại sao không thấy xe cộ gì cả? mấy nghi vấn này của tôi không bao lâu đã được giải đáp ngay.
Các anh mỗi người đứng cách xa nhau một khoảng nhỏ và bày hết đồ của mình ra trước mặt. Mọi thứ đều phải mở ra sẵn sàng.
Khi mọi người đã đủ, cuộc khám xét bắt đầu. Đại đội của tôi do một thiếu úy cán bộ Việt cộng làm đại đội trưởng. Anh cán bộ này bắt chúng tôi phải lộn trái hết các túi áo túi quần để xét. Một số anh em hồi chiều còn dấu tiền và dây chuyền không chịu nộp, giờ không những bị lấy hết mà hôm sau còn bị họp kiểm thảo: Nặng tư tưởng tư bản, không tin tưởng vào cách mạng. Ba-lô của tôi cũng bị lộn trái ra lục kỹ lưỡng. Té ra chúng tôi chẳng có di chuyển đi đâu cả. Đây chỉ là cách để chúng tôi phải lộ hết những đồ còn dấu chưa chịu nộp hồi sáng cho họ lột sạch, vì họ không tin chúng tôi chịu dễ dàng nộp hết mọi thứ.
Tối đó mọi người phải lên hội trường họp. Cả tiểu đoàn nghe chửi về tội không thật lòng tin tưởng vào đảng và nhà nước.
“Các anh đã dấu diếm không chịu nộp hết những đồ tiểu đoàn ra lệnh nộp. Đây là vì các anh đã không tin tưởng cán bộ, không tin tưởng đảng và chính sách của nhà nước. Như vậy làm sao các anh học tập mau tốt được? Hơn thế nữa, những của cải của các anh đang có cũng do bóc lột nhân dân mà ra, nay còn luyến tiếc, chưa dứt được đầu óc tư bản. Các anh phải kiểm điểm lại. Tối nay về họp A thảo luận cho kỹ càng. Có từ bỏ được những tư tưởng tư sản thì các anh mới học tập tiến bộ được”.

Sau này, tôi không hề nghe có người tù cải tạo nào ra về được trả lại những gì đã nộp. Qủa thật là một lối ăn cướp thật tinh vi. vừa ăn cướp vừa la làng, kết quả tội vẫn đổ lên đầu chúng tôi.

Học tập.
Thời gian ở Long Khánh, chúng tôi không đi lao động xa trại quá một cây số. Làm những việc lặt vặt trong phạm vi doanh trại, như cuốc đất làm vườn, trồng trọt, hoặc làm cỏ khai hoang. Có lẽ vì còn đang ở giai đoạn đầu. Các sư đoàn bộ đội sau cuộc chiến chiếm miền nam chưa hoàn toàn ổn định. Việc tổ chức quản trị các trại cải tạo chưa được sắp xếp hoàn tất.

Học tập cải tạo chính trị chỉ là một cách nói bóng bẩy của đảng Cộng Sản Việt Nam để trấn an người dân Sàigòn nói riêng, và dân miền nam nói chung. Thật sự chúng tôi không có bài học nào nói về thể chế chính trị, về nền hành pháp, hoặc tư pháp của chính quyền đương thời. Cũng không hề nói gì về sự thành lập của đảng cộng sản và nhà nước Việt cộng. Không nói về hiến pháp cũng như quyền lợi và trách nhiệm của người dân, không hề nói về chủ thuyết cộng sản. Tất cả đều tập trung vào ba mục đích chính.
1- Bắt chúng tôi phải công nhận đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ chí Minh sáng lập, là đỉnh cao trí tuệ loài người, đã đánh đuổi Mỹ ngụy, lo cho dân tộc ấm no hạnh phúc. Chúng tôi phải tuyệt đối tin tưởng vào đường lối đảng đề ra không thắc mắc, lại càng không được chỉ trích, vì chỉ trích là phản động gây rối.
2- Phải tự nhận, là những người đã làm tay sai cho Đế Quốc Mỹ, giết hại đồng bào. Nay được cách mạng khoan hồng cho đi học tập cải tạo.
3- Phải tích cực lao động đóng góp cho xã hội chủ nghĩa. Và phải tuyệt đối an tâm học tập.
Thấm thoát đã hơn năm tháng qua. Không hiểu các bạn khác ra sao? Riêng tôi những ngày tháng này thật buồn thảm. Nhớ nhà, thương cha mẹ và đàn em nhỏ, không rõ cuộc sống dưới chế độ mới cơ cực như thế nào? Và nhất là thương nhớ người vợ mới cưới. Ngày cũng như đêm, khi làm việc cũng như lúc ngồi nghỉ. Lúc nào đầu óc cũng có bóng dáng người vợ mà tôi hết lòng yêu thương. Không hiểu bây giờ nàng đang làm gì ? Ở đâu ? Có được bình an? hay đang phải vất vả vật lộn với cuộc sống kìm kẹp khó khăn mà Đảng Cộng Sản Việt Nam áp đặt lên đầu người dân miền nam? Nàng có nhớ đến tôi như tôi hiện đang nhớ nàng quay quắt.

Mỗi ngày lao động một gắt gao, nặng nhọc thêm. Lao động khiến chúng tôi không còn thì giờ rảnh rang suy nghĩ. Thời gian dường như muốn dừng hẳn lại. Phần ăn mỗi ngày một ít đi, ăn uống thiếu thốn khiến mọi người không còn sức phản kháng, dù chỉ là phản kháng bằng lời nói. Ba tháng đầu chúng tôi còn được phát gạo. Không hiểu gạo đã chôn ở đâu? từ bao lâu? hạt gạo vừa vàng vừa xốp. Khi vo gạo nấu cơm nếu chà mạnh tay một chút, hạt gạo lập tức vỡ tan ra thật dễ dàng. Những anh em phụ trách nấu ăn trong ngày thường đổ đầy nước vào chảo gạo thật lớn, quấy sơ sơ mấy vòng cho gạo lắng xuống rồi gạn nước. Một số những con sâu gạo mập mạp ngộp nước nổi lên được gạn đi. Gạn như thế khoảng hai ba lần, chảo gạo có thể nấu, vì nếu làm nhiều lần gạo sẽ hết cám. Có một số anh em nay đã bị phù thủng rất cần vitamin C trong cám. Ban đầu, ban nấu ăn còn ngồi nhặt sâu. Những con sâu không biết sống trong các bao gạo này từ bao giờ đã to gấp bốn năm lần hạt gạo, chúng nhả tơ làm tổ dính quyện những hạt gạo vào thành một cục to bằng đầu ngón tay cái. Sau vì nhặt sâu vừa mất qúa nhiều thời gian, lại tốn mất nhiều gạo, vì số lượng sâu nhiều vô kể, nên anh em đã đồng ý không nhặt sâu nữa. Sau vài lần gạn nước cho bớt sâu, còn lại cứ để nguyên thế mà nấu. dù sao thì cũng là sâu gạo! lúc đầu ăn còn thấy sợ, sau đói qúa cũng phải nuốt tuốt. Ăn riết rồi cũng quen. Ngày hai buổi sau khi lãnh cơm, chia mỗi người được hơn một chén nhỏ. Nếu để cả sâu hy vọng chén cơm có thể đầy thêm một chút. Buổi sáng được phát nửa chén cháo toàn nước, đi làm đến giữa trưa. Thức ăn mỗi tháng một lon muối hột đen ngòm những đất, muốn dùng được phải hòa tan ra nước, lọc sạch rồi đem đun sôi. Hai tháng một lần mỗi A được phát một bó rau muống. Bắt đầu khoảng hai tháng nay, chúng tôi không còn được phát rau nữa. Gạo cũng đã hết, và thay bằng Bo-Bo. Lúc đầu ăn Bo-Bo không quen nên chúng tôi càng đói thêm. Tuy không quen nhưng nhờ bo-bo còn mới nên những anh em bị phù cũng dần dần được lành lại.

Hy vọng ba tháng học tập của tôi đã thực sự trở thành hão huyền. Vả lại lao động và họp kiểm thảo càng ngày càng gắt gao. Một chút rảnh rỗi nhớ về gia đình và người vợ mới cưới cũng không đủ, còn thời gian đâu để nghĩ về chuyện khác.

Liên tục một tuần nay, theo lệnh cán bộ. Tối nào tôi cũng bị đưa ra A để anh em phê bình kiểm thảo về tội dám chất vấn cán bộ chính trị về thời gian học tập, làm lung lạc tinh thần của anh em cải tạo. Nguyên sau buổi học tập về đề tài “Tất cả những ai trong quân đội VNCH đều là tay sai đế quốc Mỹ và đều có tội với nhân dân“. Tôi đã nêu lên câu hỏi:
- Thưa anh, khi nhà nước ra thông cáo cho toàn thể chúng tôi đem theo lương thực đủ ăn muời ngày, đi học tập trở thành công dân tốt của xã hội mới. Học tập tốt, sẽ được thả về đoàn tụ với gia đình. Chúng tôi đã thi hành triệt để, trình diện đúng ngày. Nhưng nay đã hơn sáu tháng, vẫn chưa nghe nói gì cả. Vậy học tập thế nào là tốt? Và bao giờ chúng tôi mới được thả? Hay nhà nước đã quên thông cáo lúc trước?
- Anh xuyên tạc thông cáo của nhà có ý định tuyên truyền để làm xao động lòng anh em phải không nào? Nhà nước nói đem theo lương thực đủ ăn mười ngày, đâu có nói các anh sẽ đi học tập mười ngày. Anh rõ ràng là ngoan cố không chịu an tâm học tập chỉ mong ngóng ngày về. Tối nay về họp A, anh phải kiểm thảo lại lỗi lầm của mình cho thông suốt“.
Tôi nghĩ thầm, tên cán bộ này đã nói hắn có thể dùng súng K54 để hạ được máy bay B52, làm sao mình có thể lý luận lại với hắn. Hơn nữa vậy cũng coi như câu hỏi đã được trả lời, tôi đành ngồi xuống. Cũng chỉ vì câu hỏi đó tôi đã bị chú ý, và sau này bị hành hạ khổ sở.

Ngụy phá hoại làm nổ kho đạn.
Cả tuần nay trời nắng gắt, cỏ xung quanh trại vàng khô, nhất là phía bên kia hàng rào, chỗ dẫy Barrack luôn luôn đóng kín cửa, sau này tôi mới biết đó là kho đạn, cỏ khô dầy, cao ngang đầu gối. Sát vòng rào kẽm gai, tháng trước chúng tôi đã đào một giao thông hào khá rộng, lấy đất gánh về giữa trại vun luống trồng khoai lang và khoai mì. Đào giao thông hào cạnh vòng rào trại không phải chỉ để lấy đất, bởi chúng tôi có thể cuốc đất vun thành luống ngay tại chỗ, mục đích có lẽ nhằm làm nản chí những ai trong chúng tôi mang ý định vượt trại, vì sẽ phải vượt thêm một chướng ngại vật nữa, Và cũng có lẽ nhằm làm cho chúng tôi thêm mỏi mệt, không còn nghĩ đến việc chống đối, hay bạo động. Vừa phải làm việc nặng quần quật cả ngày lại thêm ăn uống thiếu thốn, dù ai to lớn khoẻ mạnh cách mấy, tất cũng phải mềm nhũn thôi.

Hôm nay tôi lãnh công tưới rau cho B. Ra phía sau trại lấy thùng và đòn gánh, thoáng thấy một bộ đội đang châm lửa đốt cỏ khô phía ngoài hàng rào. Nắng gắt mấy ngày liền, cỏ cháy rất mau. Khi tôi tưới được gần hai luống rau, bãi cỏ bên hông barrack cháy đã gần phân nửa, trong đám cháy thỉnh thoảng có tiếng đạn nổ. Lẫn trong cỏ có những viên đạn, có khi nguyên cả dây dạn đã rớt từ hôm ba mươi tháng tư trong lúc hỗn loạn, lâu lâu chúng tôi vẫn thường thấy khi làm cỏ. Do đó lửa cháy, đạn phát nổ không làm chúng tôi mấy ngạc nhiên. Chợt có tiếng nổ làm mọi người đều giật mình, vì tiếng nổ khá lớn, và chỉ vài giây sau lại có thêm những tràng nổ tiếp tục dòn dã, khiến mọi nguời đều dừng tay ngẩng nhìn. Chỗ đang cháy nguyên day đạn đại liên phòng không 50 ly đang nổ, đầu đạn bay tứ tung. Một viên bay xẹt ngang đầu làm tôi theo phản xạ tự nhiên vội cúi rạp xuống. Có mấy viên khác bay thẳng vào dẫy Barrack, và sau đó, cả dẫy Barrack cũng bắt đầu phát nổ. Tôi quăng thùng nước tại chỗ, ngồi sụp xuống giữa hai luống rau. Kho đạn chính thức bắt đầu nổ khoảng mười giờ trưa. Anh em tù ai cũng bỏ dụng cụ làm việc chạy tìm chỗ núp. Đủ mọi loại đạn lớn nhỏ, đạn đại liên phòng không, đạn súng cối 60 và 81 ly, đạn đại pháo 105, 155 ly của Việt Nam Cộng Hòa, đạn súng cối 61 và 82 ly, đạn hỏa tiễn chống chiến xa B40, B41, hỏa tiễn 122 ly của Việt Cộng. Đạn bay tứ tung. “Phịch”, tôi đang nằm giữa hai vồng lang chợt nghe tiếng trái đạn rớt rất gần, vội ngẩng nhìn. Một viên đạn cối 81 ly rớt ngay trước mặt, chỉ cách khoảng hai thước. Lăn vội qua vồng lang bên cạnh, hai tay ôm kín đầu, chờ một phút sau viên đạn vẫn chưa nổ. Chắc số tôi chưa đến lúc chết, trái đạn không nổ. Tôi liền chồm dậy cắm đầu chạy ra phía giao thông hào. Nhẩy xuống đó thấy có sẵn một số anh em khác nhanh chân tới trước. Đạn nổ suốt ngày, mãi đến gần nửa đêm mới hết. Không hiểu đây là kho đạn cũ của Việt Nam Cộng Hòa để lại hay kho đạn mới do Việt Cộng vừa gom vào? mà đạn có đủ mọi loại của cả đôi bên.
Trong vụ nổ kho đạn, tiểu đoàn tôi có anh bạn đại úy bắc sĩ quân y chết. Trái lựu đạn rớt trúng ngay chỗ núp, nổ liền khiến anh không kịp tránh, miểng lựu đạn xuyên giữa ngực, anh đã chết liền tại chỗ. Hai tiểu đoàn bên cũng có mỗi tiểu đoàn hai người chết. Người cán bộ đốt cỏ, chết vì trúng đạn đại liên 50 ly ngay từ phút đầu. Anh em chúng tôi bị thương nặng nhẹ rất nhiều. Mấy ngày sau lên tiểu đoàn khai bệnh xin thuốc trị thương được phát mỗi người một gói muối hột. Vẫn biết, dù khai bất cứ bị bệnh gì cũng thế, từ sốt rét ngã nước, cảm cúm, tiêu chảy, đến trật gân gẫy xương, hay ói mửa trúng độc, đều chỉ được phát duy nhất một thứ thuốc đó là muối hột. Nhưng trong tù không có thuốc sát trùng, chúng tôi đành khai bệnh lấy muối pha nước rửa vết thương.
Ba ngày sau, Cán bộ tiểu đoàn tập họp chúng tôi lên hội trường để giải thích về vụ nổ như sau: Các anh đã chính mắt thấy rõ ràng đấy nhá, bọn Mỹ Ngụy thật là độc ác, đã bị đập tan từ lâu mà vẫn còn tìm đủ mọi cách để phá hoại. Chúng đã cho đặc công lén lút làm nổ kho đạn. Tuy tiểu đoàn đã bắt được hai tên phá hoại, nhưng kết quả một cán bộ đảng viên cũng đã chết. Và trong các anh cũng có mấy người chết vì vụ nổ này.
Cả tháng sau đó, chúng tôi họp A vẫn phải học tập về tội ác Mỹ Ngụy đã làm nổ kho đạn. Sau này trong một dịp thăm nuôi, vợ tôi cho biết vụ nổ đã làm xao động dân chúng ngoài trại. Nhà nước Việt Cộng loan báo cùng dân chúng Sài Gòn: có một bọn ngụy quân phá hoại làm nổ kho đạn trong trại tù, nhưng cán bộ quản trại đã bắt được bọn phá hoại và bảo vệ an toàn cho cải tạo.

Cây Cà Chớn.
Những ngày cuối năm 1975, với tôi, là những ngày lê thê nhất trong đời. Tết Mậu Thân khi Việt Cộng tràn vào Sàigòn, cướp đi mùa xuân an lành, vui tươi của người dân miền nam. Đường phố tấp nập, dập dìu muôn mầu áo bay lượn của các cô gái, chen lẫn mầu sắc của hàng ngàn đóa hoa trong chợ hoa dọc đường Nguyễn Huệ, hòa với những cánh bướm chập chờn trong nắng, như muốn đua sắc cùng những bông hoa biết nói, gợi lên nỗi rộn rã tưng bừng đầy êm ấm vào lòng người, đã thay bằng im lặng, vắng vẻ, đầy lo âu. Thỉnh thoảng một vài người vội vã trên đường về, khuôn mặt vừa lo âu vừa hốt hoảng. Những tiếng pháo nổ vang thay bằng tiếng súng AK47 và hỏa tiễn pháo kích. Cái tết máu lửa đó vĩnh viễn nằm trong tiềm thức tôi. Nhưng những ngày đó vẫn không dài lê thê ảm đạm như những ngày tết trong tù cải tạo.
Chúng tôi đều là những người đã dày dạn khói lửa. Có người từng trải qua những giây phút thập tử nhất sinh xác chết cận kề, vẫn không hề nháy mắt cau mày. Có người trọn đêm dài chong mắt trên biển vắng hải hành, đưa chiến hạm tuần tiễu bảo vệ vùng biển quê hương, và đôi mắt vẫn đầy tinh anh. Nay trong vòng rào trại tù, hình như mắt anh em ai cũng rưng rưng uất nghẹn. Anh Lạc, người lớn tuổi nhất trong tiểu đội được cử làm anh nuôi, phát cho mỗi chúng tôi một vắt cơm nếp anh đã nấu từ tờ mờ sáng. Hôm qua mỗi tiểu đội được lãnh một lít nếp, cán bộ nói đó là nhờ lòng ưu ái của đảng và nhà nước.

Tết năm trước, tuy chiến tranh đang đè nặng trên toàn quốc, SàiGòn vẫn tưng bừng đón xuân. Tôi đã chở vợ, lúc đó còn là người yêu chưa cưới, đi Lăng Ông xin xâm. Nhìn nàng tha thướt trong tà áo lụa vàng, thật vui tươi, thật hồn nhiên mà lòng tôi cũng nao nức rộn rã. Giờ đây xa nhau tôi mới nhận thức được, nàng chính là nguồn sống của đời mình. Nhớ đến nàng, miếng cơm tôi vừa bỏ vào miệng bỗng như nghẹn ở cổ, mắt tôi mờ hẳn đi. không muốn các bạn thấy mình bật khóc, và nhìn quanh ai cũng rưng rưng. Tôi bỏ nắm cơm xuống chỗ đầu nằm, chạy vội ra ngoài rủ Tạo đi coi đấu cờ tướng cho khuây khỏa. Trại được nghỉ lao động ba ngày tết, đã tổ chức các trận đấu bóng chuyền, túc cầu, cờ tướng, giữa các B với nhau cho anh em vui tết. Tôi vẫn thấy những ngày tết này thê lương và dài dằng dặc, vui sao được mà vui! Tết này gia đình tôi ngoài đó có vui vẻ như xưa? Vợ tôi đang ở đâu? Nàng có vui vẻ hồn nhiên như ngày chúng tôi còn bên nhau? Khi tôi đi nàng vừa có mang, nay đã sanh chưa? Nếu đã sanh, sức khỏe mẹ con nàng ra sao? Đứa con đầu lòng của chúng tôi là trai hay gái? Chắc dễ thương lắm? Những câu hỏi này cứ quẩn quanh trong đầu ngày đêm không thể giải đáp. Lòng nhớ nhung người vợ trẻ làm tôi cứ thẫn thờ, và tết đã trở nên vô nghĩa.
Cái tết buồn thảm ấy rồi cũng qua đi. Chúng tôi vẫn tiếp tục cuộc sống nhục nhằn. Ngày ngày làm việc nặng nhọc quần quật từ sáng tới tối, còn phải nghe những lời trái tai vô lý của những người cai tù thâm hiểm, phải làm vẻ ngu khờ gật đầu đồng ý để sống cho qua kiếp tù đày. Sống với niềm hy vọng mong manh, một ngày nào đó sẽ được thoát về. Nhiều lúc tôi có cảm tưởng như mình đang bị bao vây giữa một đám người tiền sử ngô nghê, không văn hóa. Với vũ khí trong tay họ cưỡng ép chúng tôi phải tin chung niềm tin với họ. Nhưng chính họ cũng không hiểu rằng họ đã bị giới lãnh đạo đầu độc lâu ngày, nhồi vào đầu họ những hiểu biết nông cạn vô lý, hoặc có khi còn đi ngược hẳn với lý lẽ thông thường. Cán bộ chuyền radio vào loa trên cột cao hai góc trại, suốt ngày đi làm mệt mỏi, tối về phải nghe những lời dối trá bịp bợm của bọn cầm quyền Việt Cộng trên đài phát thanh tới nửa khuya, thiệt là dở khóc dở cười. Một phút trước đài loan tin: năm nay dân ta chịu nhiều thiên tai, ba tháng trước miền Trung có bão lớn dọc từ Thanh Hoá xuống Thừa Thiên. Tháng trước bão lại thổi qua miền Thanh Hóa Nghệ Tĩnh, và tuần này khắp đồng bằng miền nam đang bị lụt lớn. Một phút sau đài đã trắng trợn tuyên bố: kết quả vụ thu hoạch lúa mùa năm nay so với năm ngoái, miền bắc tăng gấp ba, miền nam tăng gấp đôi.
Một buổi chiều , tôi và Tạo vừa tưới xong mấy cây cà chua, đang định cùng nhau ra giếng lấy thêm nước. Một cán bộ đi ngang qua lên tiếng khen thưởng:
- Hai anh này giồng được mấy cây cà chua chất lượng đấy nhỉ. Các anh có bón phân nhiều không mà cây lắm quả thế?
Tôi đảo mắt nhìn quanh trước khi trả lời
- Chào cán bộ. Tôi chẳng phải tưới phân gì cả đâu, chi tưới độc có nuớc đái thôi đấy!
- Ờ, thế thì phải rồi! Trách gì cà anh cấy sai quả, nhưng quả lại không được to. Các anh phải tưới phân thì quả mới to được. Ở ngoài Bắc có nhiều người giồng cà chua, tưới phân đúng cách quả ra to gần bằng quả bóng đá vậy đấy.
Tạo nhìn tôi, nháy mắt và nói:
- Ô! Tôi biết loại cà mà cán bộ nói rồi! Nhưng loại cà này khó trồng lắm! Ở miền Nam hình như đã bị mất giống rồi. Nghe bà nội tôi nói loại cà đó tên là “cà chớn”.
Nghe Tạo nói, tôi giật mình đảo mắt nhìn quanh nghĩ bụng “cái anh chàng Nhẩy Dù này quả nhiên rất gan lì”. May mắn, vẫn chỉ có hai chúng tôi cùng anh cán bộ đang mỉm cuời khoái chí kia, nếu không, “Ang-ten“ nghe được, chắc chắn hai đứa tôi sẽ phải ốm đòn.
- Anh này nói đúng rồi đấy, đúng là cà chớn đấy.
Hú vía!!! mọi người ai nấy đều bận với công việc đang làm, không chú ý đến cuộc nói chuyện của chúng tôi.

Lon Guigo đựng cơm.
Tôi thuộc đại đội một, Hạ ở đại đội ba. Tuy là bạn cùng khóa Hải Quân nhưng chúng tôi không mấy thân, nay dù ở cùng trại tù, gặp nhau cũng chỉ chào hỏi sơ sài. Vả lại từ chỗ tôi qua chỗ Hạ, phải đi ngang trạm gác và bộ chỉ huy cán bộ coi tù, nếu không vì đi công tác lao động, hay vì chuyện cần thiết, thường ai cũng ngại đi ngang đó.


Lúc còn ở quân trường , Hạ thường trầm lặng ít nói, không phá phách đùa giỡn. Đôi khi bị các bạn chọc phá, Hạ chỉ cười bẽn lẽn. Khi ra trường, Hạ nhận đơn vị đầu tiên là giang đoàn 70, thuộc Hải Đội 5 Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ Hải Quân. Năm 1973, trong một dịp đơn vị tôi hộ tống tàu dầu vào tiếp tế cho căn cứ Nam Căn. Gặp Hạ lúc đó thấy anh đã thay đổi nhiều. Tuy vẫn dáng gầy gầy nhưng nước da đã sam đen, trông khoẻ mạnh hẳn ra. Anh đã hoàn toàn mất hẳn cái dáng công tử yếu đuối của ngày mới nhập ngũ ở trại tạm trú Bạch Đằng Hai. Có lẽ những tháng năm lăn lóc dày dạn chiến trường, với những trận chạm trán sống chết cùng Việt Cộng ở vùng đầm lầy nước mặn đã nung đúc anh trở nên rắn rỏi với đầy nét cương nghị.

Chiều nay đột nhiên Hạ đến thăm và ngỏ ý muốn đổi tấm chăn của anh cùng nải chuối chín lấy chiếc áo mưa. Anh nói vì không có áo mưa, mùa hè Long Khánh lại hay mưa tầm tã suốt ngày, khi đi lao động thường bị ướt. Tôi đưa tặng Hạ tấm poncho mới đã nhặt được khi còn ở trại Trảng Lớn. Hạ không chịu lấy không, nhất định ép tôi phải nhận vật trao đổi. Kết quả tôi đành nhận tấm chăn, dù sao tôi cũng đang cần chăn, và bẻ mấy quả chuối cùng ăn với Hạ cho anh ta vui. Nhìn thấy mắt Hạ sáng hẳn lên khi cầm chiếc poncho trong tay tôi cũng cảm thấy an ủi.
Ba giờ rưỡi sáng đêm đó, toàn trại bỗng có lệnh điểm danh bất thuờng. Khi các đại đội đã tập họp đầy đủ ngoài sân, cán bộ vào lục lọi trong trại rất kỹ luỡng, tuy không rõ vì sao, nhưng chúng tôi cũng đoán được đã có chuyện bất thường xẩy ra trong đêm. Sáng sớm khi chuẩn bị đi lao dộng, nghe anh bạn B trưởng nói tôi mới biết đêm trước đã có năm người trốn trại, trong số đó có Hạ. Thì ra Hạ cần áo mưa và ép tôi nhận tấm chăn là vì thế. Tôi thầm mong cho anh trốn thoát, đừng gặp trở ngại. Một tuần sau, trong số người trốn trại có ba người bị bắt lại cùng với Hạ.
Hạ bị bắt lại hai ngày sau thì tôi bị gọi lên tiểu đoàn. Trong lòng hồi hộp không biết vì chuyện gì, khi bị dẫn vào phòng kín có bốn tên bộ đội đeo AK đứng canh bốn góc, tôi biết lần này thiệt dữ nhiều lành ít.
- Cách mạng khoan hồng cho anh học tập cải tạo sao không biết hối cải còn định trốn?
- Tôi còn đang đứng đây mà, đâu có trốn trại đâu?
- - Chúng tôi biết rõ anh móc nối, trốn trại mà vẫn còn chối hả. Anh phải nên khai cho rõ ràng đi, đã móc nối được những ai nào ?
Nếu chúng biết rõ ràng sao còn phải tra hỏi mình làm gì? chứng tỏ chúng chỉ nghi ngờ và muốn tìm cách chặn đầu mình thôi.
- Tôi không hề có ý trốn trại, cũng chẳng có móc nối hay tổ chức gì cả.
Chưa dứt lời bỗng như có ai đập mạnh vào lưng làm mắt tôi hoa lên. Chắc hẳn tôi đã bị tên đứng phía sau dộng một báng AK ngay lưng trong lúc đang nói. Tôi không còn nhìn rõ tên bộ đội trước mặt, mắt tôi đã mờ hẳn đi, và đầu óc choáng váng, ngã chúi về truớc. Tuy thế tôi vẫn thoáng thấy tên đứng phía trước đưa chân đá cho tôi bật ngược dậy. Theo phản ứng tự nhiên tôi vòng tay ôm ngực và co người lại bảo vệ chỗ nhược. Bị cú đá đó bật nghiêng người qua phải, tôi chưa kịp gượng lại đã bị tên bên phải đạp bồi một đạp vào vai, tôi té qụy xuống.
- Mày vẫn còn ngoan cố à? thế ai đã tiếp tế áo mưa cho thằng Hạ trốn trại nào?
Thấy tên cán bộ đã đổi giọng lỗ mãng mày tao, không biết hắn vì tức giận đã không làm được cho tôi khai theo ý muốn, hay vì muốn tỏ sự hung hãn để tôi sợ mà khai. Tôi chờ một chút, để trấn tỉnh rồi mới trả lời:
- Tại tôi có dư một cái áo mưa, anh Hạ dùng chuối để đổi, tôi thích chuối mới chịu đổi thôi, chứ đâu có biết anh ta chuẩn bị đồ dùng vượt trại đâu.
Đúng đã có “angten” mách lẻo nên tụi nó mới biết chuyện tôi đưa áo mưa cho Hạ.

Trong lúc bị đánh, tôi được biết, họ liệt tôi vào thành phần ngoan cố không chịu hối cải học tập, còn có ý nêu những câu hỏi bóp méo chính sách cải tạo của cách mạng, cố tình sách động, gây hoang mang cho anh em. Bằng chứng là trong buổi học tập chính trị đầu tiên, tôi đã chất vấn cán bộ về lệnh học tập muời ngày. Giờ đây còn thêm tội tổ chức tiếp tế cho người trốn trại.
Tôi trước sau chỉ nói: Vì mình không hiểu rõ nên mới hỏi như thế, không phải cố ý bóp méo hay sách động chi cả, và cũng không hề giúp ai vượt trại hết. Có lẽ họ chỉ nghe “angten” báo cáo thấy tôi đưa poncho cho Hạ, nên tra hỏi xem tôi có là đồng lõa muốn trốn trại với Hạ không, và cũng nhân dịp này moi luôn việc tôi đã hỏi khó tên cán bộ chính ủy Trung đoàn, để có thêm cớ đập tôi một trận nhừ tử. Sau ba ngày liên tục tra hỏi đánh đập, cuối cùng đánh chán cũng không hỏi được gì hơn, đành thả tôi về trại.
Hạ bị nhốt trong một “connect” ngoài bãi dất trống sau trại. Giờ trưa ở vùng cao nguyên nắng lửa mưa dầu này, trời nóng như nung. Connect bằng sắt vuông vức mỗi bề khoảng hai thước, dù có một anh em nào đó lén chặt đâu được hai tàu lá dừa úp lên trên nóc, tôi nghĩ nhiệt độ bên trong chắc vẫn nóng khủng khiếp lắm, rất có thể làm người bị nhốt điên lên được.
Mỗi ngày hai lần, một anh em cải tạo do bộ đội có súng hộ tống đưa cơm cho Hạ và cũng chính với lon Guigo đựng cơm này, Hạ phải dùng để đi đại tiện khi cần. Hai tháng sau, Hạ bị chuyển đi đâu không rõ, nhưng cho đến nay tôi không còn được tin gì của anh nữa.

Kàtum hết về.
Cuối năm đó tôi chuyển đi Katum. Đây là một trong những trại lao động khủng khiếp hàng đầu của tù cải tạo trong miền nam Việt Nam lúc đó. Kàtum thuộc Quận Bổ Túc tỉnh Tây Ninh, Trại nằm sâu trong khu rừng gìa, gần biên giới Việt Miên.
Đoàn xe chở chúng tôi mỗi lúc một sâu vào rừng. Khi xe ngừng, trời đã xế trưa. Có lẽ đây là một khu xóm cũ của người Thượng đã bỏ hoang vì chiến tranh. Nhìn quanh, tôi còn thấy dấu vết của mấy chòi tranh sót lại đã rách bươm.
Tuy sinh ra ở ngoại ô Hà Nội, nhưng khi mới lên năm đã theo gia đình chạy trốn Cộng Sản, di cư vào Nam năm 1954, vì thế có thể nói là tôi sinh trưởng tại SàiGòn. Cuối năm thứ nhất Luật Khoa, thi rớt phải nhập ngũ. Tôi đã tình nguyện vào Hải Quân. Đời lính toàn lênh đênh trên biển cả, nếu có thấy rừng chỉ là nhìn từ xa chứ đâu bao giờ biết đến rừng rú như thế này. Xuống Molotova, xung quanh rừng dầy bạt ngàn. Chỗ chúng tôi đứng là một khoảng trống nhỏ, có hai chòi tranh đã rách nát lâu đời. Bên phải là một trảng trống lớn, cỏ tranh cao ngang thắt lưng. Bên trái là khu rừng chồi thưa, lỗ chỗ mấy hố bom B52 từ bao giờ nay đã đầy nước. Tôi có cảm tuởng như mình đang bị đi đày với án khổ sai biệt xứ. Chúng tôi căng bạt dưới gốc cây ở tạm tuần lễ đầu, sau đó mới đốn cây, đào gốc dọn chỗ đắp nền nhà, chia nhau vào rừng chọn cây đốn làm cột, kèo, chặt le làm rui mè, cắt tranh đánh tấm lợp mái, dựng nhà.

Dụng cụ dùng trong tiểu đoàn toàn bộ chỉ có 5 con dao, 3 cuốc, và 3 xẻng. Chúng tôi tìm được ngoài bìa rừng một ít cọc sắt hàng rào kẽm gai, đập dẹp biến chế thêm dao, xẻng, cuốc. Những cây to một hai người ôm, chúng tôi đốn xuống, đào gốc, và dọn chỗ làm nền nhà, đều dùng các dụng cụ này.
Ba tháng tới trạI, tôi có cảm tuởng đã như ba năm. Ban đêm dù mệt nhoài vì phải làm việc quần quật suốt ngày, tôi vẫn thao thức khó ngủ. Tối nào cũng nằm trằn trọc nhớ mãi người vợ nhỏ yêu thương đang vất vả cô đơn, và nghe tiếng tắc kè trong bọng cây kêu từng hồi như tiếng thở dài não nề: “TTTTắắc… kèè… TTTắc...kkèè... Tắắc...kkèèèèèèè...“ Có vài bạn nói: Nghe càng lâu càng giống như “hhhhhếết… vvềề…. Hhhếết…vvềề…. Hết…vvềềềềềềềềề..“ Tít ngoài xa, vẳng tiếng vượn hú lanh lảnh, càng làm tăng cái cảm giác cô quạnh cho phận tù nhân hơn nữa. Mãi đến thật khuya tôi mới có thể thiếp đi trong mệt nhọc.
Đồng hồ không người lái.
Tôi lãnh nhiệm vụ đi cắt tranh sáng nay. Chỉ tiêu đủ mười lăm tấm nộp trong ngày. Húp vội chén nước cháo, rồi xách gậy và liềm đi ngay vào rừng. Tôi biết, bên trái khu rừng chồi trước trại, rừng rất dày, nhiều gai Mây và Song, nhưng chỉ là một giải rừng hẹp, tuy rậm rạp khó đi, nhưng nếu chịu khó len lỏi qua được phía bên kia sẽ thấy một trảng tranh lớn, vẫn còn nhiều tranh dài có thể đánh tấm. Đến đó sẽ không phải đi tìm xa và không sợ thiếu thời gian. Tuy nhiên tôi vẫn muốn vào rừng sớm một chút, hôm qua khi chặt le về phát giác cây cám to đã có qủa chín nằm khuất trong cánh rừng le bên phải khu rừng chồi. Đêm qua gió khá lớn, nhất định sẽ có trái chín rụng đầy mặt cỏ, có trái rừng ăn no, còn có thể để dư cho buổi chiều. Tù cải tạo lúc nào bụng cũng đói meo, có dịp kiếm được ít trái cây rừng nhét bụng, khi nào tôi chịu bỏ qua. Toán lao động vừa ra khỏi trại, tôi tách rời anh em, rảo bước như chạy về phía khu rừng chồi. Băng ngang giải rừng song tới gần cây cám, từ xa đã ngửi mùi thơm ngào ngạt của trái chín. Dưới gốc cây có hai anh bạn ở trại khác cũng vừa chạy tới. Chúng tôi lục tìm trong cỏ nhặt những trái chín rớt xuống đêm qua. Tôi được khoảng mười trái, ăn ba còn lại bỏ cả vào túi và đi cắt tranh, tính chiều nay về trại sẽ chia cho Điển mấy trái. Điển là bạn học cùng trường trung học, tôi đã gặp hôm mới tới đây.
Khi ra lại khu rừng chồi để băng ngang qua bên kia, tôi thấy có một bộ đội tách rời toán tù chặt cây và lẽo đẽo theo sau tôi quẹo phải. Qua rừng chồi, xuyên ngang giải rừng rậm đầy gai góc hắn ta vẫn theo sau. Tới trảng tranh hắn ngồi trên một gốc cây đổ chăm chú nhìn tôi cắt tranh. Khi tôi ngưng lại uống nước xả hơi, hắn tới gần hỏi:
- Anh này cắt tranh cũng khá chất lượng đấy nhỉ! Anh ở đội nào thế?
- Chào anh, Tôi ở đội một.
- Anh cho tôi mượn xem cái đồng hồ anh đang đeo được không?
Tôi vốn đang lo không biết hắn muốn gì mà vác súng theo tôi cả buổi, giờ hiểu ra mới biết hắn mê cái đồng hồ đeo tay. Tôi gật đầu và tháo đưa cho hắn coi. Hắn ta ngắm nghía một lúc và hỏi?
- Đồng hồ này cũng khá đẹp đấy, mười ba nến, hai cửa sổ, nhưng mà đồng hồ này của anh có người lái không?
Tôi ngẫn người không biết hắn ta nói gì. Mười ba nến hai cửa sổ là sao?
- Tôi không biết thế nào là có, hay không có người lái? Nhưng đồng hồ này của tôi chạy rất đúng giờ.
- Thế anh lúc xưa trong quân đội ngụy cấp bậc gì?
Nghe hỏi vậy, tôi lại càng không hiểu tên này muốn gì. Cấp bậc của tôi có liên quan gì đến việc này? Tôi vẫn biết trong đầu óc bộ đội, tù cải tạo chúng tôi cấp bậc càng cao tội càng lớn. Nhưng tại sao khi không lại hỏi cấp bậc của tôi?
- Xưa tôi là Trung úy.
- Trung úy ngụy các anh sao mà dốt thế! đồng hồ không người lái mà cũng không biết. Này nhá! đồng hồ không người lái là mình không phải lái gì hết cả, cứ để mặc nó cũng vẫn chạy như thường đấy.
- Ồ, vậy đồng hồ của tôi không người lái.
- Anh có bán không? tôi mua cho anh giá cao.
- Tôi không bán.
Nghĩ nếu có tiền cũng chẳng xài gì được trong tù, nên dù hắn ta nói thế nào tôi cũng không chịu bán. Thích quá, hắn giữ lại ngắm nghía mãi mới chịu trả. Sau lần đó, tôi bỏ đồng hồ trong túi và không bao giờ đeo ở tay nữa, sợ sẽ gây nhiều chú ý.

Trăn của nhân dân.
Một sáng sớm, Điển và tôi đi rừng lấy cột nhà. Tiêu chuẩn cột phải thẳng, phải tương đối đều, không thể gốc quá to ngọn quá nhỏ, vì sẽ rất khó đục mộng dặt kèo, đường kính từ hai mươi hai đến hai mươi lăm cm, dài bẩy mét và phải là gỗ tốt.
Các loại cây Dầu, Chai hay Bứa đều là những cây cao thẳng tắp, muốn tìm được cây thẳng dài trên bẩy thước thiệt không khó khăn chút nào, khi hạ xong chỉ cần róc một chút vỏ phía dưới gốc làm chỗ nắm và kéo ngược lên trên, nguyên lớp vỏ sẽ lột ra thành từng dây dễ dàng nhanh chóng, không như các loại cây khác, muốn lột vỏ, phải dùng một khúc gỗ đập vào thân cây, vỏ ở chỗ bị đập sẽ dập nát ra, đập như thế trên toàn bộ cây cột mới chặt cho hết vỏ, thường đập khoảng ¼ cây đã ê ẩm cả cánh tay. Chai, Bứa, cũng như Dầu, nhựa cây tuôn ra rất nhiều ngay lúc lột vỏ, khiến cho cây nhẹ hẳn đi, vác từ rừng về trại tuy cũng rất mệt nhưng không đến nỗi đôi vai bị tê nhức tới ngày hôm sau như vác các loại cây nặng khác. Khổ một nỗi, các loại cây đó đều không được nhận, vì gỗ của nó rất được mối ưa thích. Cây rừng tươi, gỗ tốt thường rất nặng, phải hai hay ba người mới vác nổi về trại.

Mãi gần trưa chúng tôi mới tìm được một cây trường vừa ý. Mở ngàm cho cây đổ đúng hướng và hì hục thay nhau chặt. Cây ngả, tôi đo đủ bẩy thước và chặt ngọn. Khi đo tôi thấy có con trăn lớn, dài gần ba thước bị đè chặt dưới ngọn cây đang cố tìm cách thoát ra. Có lẽ lúc nó đang trên cây, cây ngả chạy không kip nên bị đè. Chúng tôi liền đập chết trăn và tiếp tục chặt ngọn, lóc vỏ cây, sau đó cuốn trăn vào cây và dùng dây rừng cột chặt, hớn hở cùng nhau về trại. Hai chúng tôi bảo nhau: sẽ có thịt cho nguyên tuần lễ sắp tới. Về dến ngang chòi canh cổng trại, Người bộ đội gác cổng chỉa súng chặn chúng tôi lại và sừng sộ:
- Hai anh kia đứng lại ngay cho tôi coi nào, sao hai anh dám bắt trăn của nhân dân?
- Con trăn này trong rừng. Lúc chúng tôi chặt cây thấy nó kẹt chết dưới cây đổ nên lấy về, chúng tôi đâu có bắt trăn của dân đâu.
- Anh còn ngoan cố hả! trăn trong rừng là của nhân dân đó biết không?
- Anh nói thế tôi thấy không đúng! Trong khu rừng này đâu có nhà dân, mà dân đâu có ai nuôi trăn bao giờ.
- Rừng là tài sản của dân, vậy trăn trong rừng cũng là của nhân dân chứ còn gì nữa. Bọn tù các anh quen thói bóc lột của nhân dân vẫn không chừa. Mau đưa con trăn cho tôi ngay.
- Nếu vậy chúng tôi đem thả nó ở chỗ đã bắt được.
- Bộ đội chính là từ nhân dân mà ra. Các anh đã học tập chính trị bao nhiêu lâu nay còn chưa thông suốt sao. Cứ để con trăn xuống đó, tôi đem nó lên báo cáo cho cấp trên biết không?

Điển và tôi đành hậm hực tháo trăn bỏ xuống đất. Dù uất ức cũng phải chịu. Làm sao cãi được với những lý lẽ chày cối như thế, lại thêm họng AK đen ngòm nữa. Đã tưởng sẽ có một ít thịt, nhưng miếng thịt đã như đến miệng vẫn còn bị họng súng móc ra mất.
Tự túc lương thực.
Chúng tôi phá rừng làm rẫy, trồng khoai mì, khoai lang theo kế hoạch tự túc lương thực. Câu nói “quê hương ta đất đai mầu mỡ” quả nhiên rất đúng cho lúc này. Những gốc mì lên nhanh như thổi, chẳng bao lâu các dải đồi đã biến thành cánh rừng mì xanh ngát cao gấp hai người dứng, và chúng tôi đã có thêm công tác nhổ khoai mì. Nghe thật nhẹ nhàng, nhưng khi vác bao khoai len lỏi trong rừng mì ra chỗ cân nộp cho đội thật không dễ dàng như tôi tuởng. Đất tốt, mỗi gốc mì ít nhất cũng có trên bốn năm củ đâm ngang. Gò lưng nắm gốc mì kéo lên phải vận dụng toàn bộ sức lực mới keo nổi, mà sức thì đã mỏi mòn từ mấy năm nay. Nhất là khi trời vừa tạnh mưa, tay còn dính đất khi bẻ các củ khoai bỏ vào bao, gốc cây mì trở nên trơn tuột như lươn, nắm nhổ được lên càng phải tốn sức nhiều hơn nữa.

Áp dụng đúng chủ thuyết xã hội chủ nghĩa, mọi tài sản đều là của chung, các đội nộp toàn bộ số khoai thu hoạch cho tiểu đoàn, và tiểu đoàn sẽ phân phối đồng đều trở lại theo tiêu chuẩn làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít. Sau mỗi lần thu hoạch, tiểu đoàn cho chúng tôi một tuần khoai mì điểm tâm thay cho nước cháo. Cán bộ nói đó là lòng ưu ái của đảng đối với anh em cải tạo. Hàng bao nhiêu tấn khoai không cánh đã bay mất nhanh hơn cả ảo thuật.
Ngay từ ngày đầu cải tạo, bữa ăn luôn luôn thiếu lại không có chất dinh dưỡng, sức lực anh em càng ngày càng lụn bại. Bụng đói triền miên đó là chuyện thường, khi bị thương các vết thương phải mất thời gian lâu gấp đôi gấp ba mới có thể lành. Cóc, nhái, thằn lằn, chuột, bọ, rắn rết, hay bất cứ con vật gì có thể cung cấp chất thịt cải tạo viên đều không chừa. Đã có nhiều anh em chết vì ngộ độc cóc tía, nấm độc v.v...
Sau Khi việc dựng nhà ở, hội truờng cho trại tạm xong, chúng tôi đắp lò rèn, đúc dụng cụ mộc. Cưa, đục, bào, đủ loại. Từ đó, chuyển sang đóng đồ dùng trong nhà. Lúc đầu bàn ghế còn thô sơ bằng gỗ tròn, dùng trong hội trường và nhà ở, dần dần chúng tôi phải vào sâu trong rừng tìm hạ các loại gỗ quí, như gõ, cẩm lai, Trắc v.v… Nghề dậy nghề, kỹ thuật đóng đồ gỗ của anh em cải tạo càng ngày càng cao. Mặc dù toàn bộ dụng cụ dùng đều do tự chế, chúng tôi vẫn xẻ ván từ những cây to hai ba người ôm, đóng thành những bộ sa-long, bàn ghế, tủ dựng quần áo, hay những chiếc giường thật đẹp, không thua gì những đồ bày bán trong các tiệm đồ gỗ nổi tiếng dọc đường Hồng Thập Tự ở Sàigòn trước năm 1975. Đồ sản xuất rất nhiều, cán bộ lấy đem về nhà riêng, hoặc đem bán kiếm tiền. Tiểu đoàn nào sản xuất được nhiều cán bộ tiểu đoàn đó giầu, lâu ngày trở thành một phong trào ganh đua giữa các cán bộ. Thi nhau bắt cải tạo đóng đồ gỗ đem bán.

Lần đầu tiên chúng tôi được viết thư cho gia đình cũng từ trại KàTum. Trước khi viết thơ, cả tiểu đoòn phải học tập về điều lệ và nội dung bức thơ được chấp thuận cho gởi. Những thơ không hội đủ tinh thần sẽ bị giữ lại.

1- Nội dung không được than thở, trái lại phải động viên tinh thần thân nhân, khuyên họ luôn nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp chính quyền địa Phương
2- Cổ võ tinh thần người thân khuyên họ phải tin tưởng vào chính sách cải tạo của đảng Cộng Sản Việt Nam.
3- Cho thân nhân biết, cai tạo viên được đối đãi tử tế, được cấp phát quần áo và lương thực rất đầy đủ.

Thăm nuôi.
Ba tháng trước, Chúng tôi được lệnh dựng một khu nhà tranh ngoài bìa rừng cách trại khoảng năm cây số. hai dẫy dài nối đuôi nhau thành hình chữ L, nằm lọt ở giữa là một căn nhà nhỏ, ba vách, vách trước để trống quay về hướng hai dẫy nhà dài, tất cả nằm trong một vòng rào kín, nay được biết đó là khu thăm nuôi. Căn nhà nhỏ nằm gần cửa hàng rào, làm chỗ cho thân nhân khi đến trại vào đăng ký. Lúc dựng căn này, tôi đã thấy hơi lạ, cán bộ muốn chúng tôi để trống bức vách nhìn ra hai dẫy nhà dài. Đến ngày có người nhà lên thăm tôi mới hiểu. Từ căn nhà nhỏ có thể dễ dàng kiểm soát mọi động tĩnh bên hai dẫy nhà ngang.

Đa số khi viết thơ về gia đình, ai cũng xin đồ ăn. Không ngoại lệ, tôi cũng xin nhà một lọ mắm ruốc, nghĩ thứ đó rẻ và có thể để được lâu không hư, một chai nước mắm, thuốc ngừa sốt rét, và một chút mật gấu nếu có. Được báo có người nhà tới thăm, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì sắp được gặp mặt người thân, lo vì không biết vợ con tôi có đi được không? Từ bao lâu nay tôi luôn mong ước được thấy lại người vợ mà tôi ngày đêm nhung nhớ. Chuyến thăm đầu, có ba tôi và đứa em trai. Nhưng tôi vui mừng hơn cả có lẽ vì có vợ tới, nàng còn bồng cả con gái đầu lòng của chúng tôi theo nữa.
Gia đình tôi quây quần cả bên cái bàn trong một gian của dẫy nhà ngang. Trong góc gian phòng, có bộ đội đeo AK ngồi canh nên chúng tôi đặc biệt cẩn thận từng lời nói. suốt hai tiếng đồng hồ tôi không rời vợ và đứa con gái vừa được hơn ba tháng. Nàng cứ nhìn tôi mà khóc chẳng nói được gì. Ba tôi đã gìa nhiều, ngày tôi đi ông còn rất trẻ trung . nay mới năm mươi mà tóc bạc trắng như đã trên lục tuần. Ông cứ thắc mắc mãi, vì sao tôi xin mật gấu. Cuối cùng tôi hạ nhỏ giọng cho ông biết tôi bị tra tấn cần mật gấu để trị nội thương . Vợ tôi nghe được, nước mắt càng dàn dụa. Hai tiếng thăm nuôi sao ngắn qua, giống như chỉ hai phút. Lúc chia tay tôi không ngăn được cảm xúc. Ba tôi cũng bùi ngùi dặn tôi nên bảo trọng. Vợ tôi bịn rịn chẳng muốn rời. Đường từ khu thăm nuôi về trại sao dài thăm thẳm. Các bạn khác vì xin quá nhiều đồ ăn phải gồng gánh nặng nề, có người phải đi dây chuyền hai gánh nên đi thật chậm. Tôi chỉ có một bao nhỏ xách tay cũng được nên không khó nhọc lắm trên đường về.

Tôi ở Katum ba năm, được thăm nuôi hai lần , mỗi lần ba tiếng . Lần thứ nhì vợ tôi đi cùng mẹ và đứa em gái lên trại. Canh da trâu.
Sang nay tiểu đoàn họp sớm, chúng tôi không những không phải đi rừng, còn được phát mỗi người một bộ đồ kaki mới. Tiểu đoàn ra lệnh:
1- Hôm nay không phải lao động, nhưng mọi người không đuợc mặc đồ cũ, rách rưới. Trong vòng 2 ngày, bất cứ lúc nào, sẽ có phái đoàn quốc tế gồm đại diện các nước Nga, Anh, Pháp, Hòa lan, Bungary tới thăm trại.
2- Trong trại phải hoạt động bình thường, và vui vẻ cười nói, không được nhăn nhó chán nản.
3- Cấm tuyệt đối không được tự ý tiếp xúc trò chuyện hay nêu câu hỏi với phái đoàn. Cán bộ đã chỉ định người và chuẩn bị sẵn các câu hỏi cho mấy người này.
4- Đặc biệt nếu ai dùng tiếng nước ngoài như Anh, Pháp v.v… nêu câu hỏi hay nói gì với phái đoàn sẽ bị trừng phạt nặng nề.
5- Người đã được chọn sẵn, phải nêu đúng những câu hỏi cán bộ soạn trước, không được sửa đổi lệch lạc .

Sau khi họp, về trại nghỉ nguyên ngày. Thật bất ngờ, các anh em trong tổ anh nuôi được lệnh đi lãnh đồ ăn. Mỗi đội ba ký lô da trâu và một rổ rau muống. Đã mấy năm không có thịt cá chi hết, nay bỗng có canh rau muống nấu da trâu, cộng thêm một bộ đồ kaki mới, còn được nghỉ xả hơi khỏi lao động. Đúng là đảng có lòng ưu ái cải tạo. Nhưng suốt hôm đó chẳng có ma nào tới. Gần trưa hôm sau mới thấy phái đoàn gồm ba nguời ngoại quốc được cán bộ đón đi xem hội trường. Họ đứng nói chuyện trên hội truờng một lúc, sau đó đi thăm nhà cán bộ rồi ra về. Không thắc mắc, không thăm viếng, không có câu hỏi cũng chẳng có trả lời.
Sau buổi đóng kịch hụt, ngoài việc lao động từ sáu giờ sáng đến sáu giờ tối, Kàtum không còn gì đáng nhớ. Tôi ở trại này khoảng trên ba năm, cuối năm thứ ba có mười mấy anh em được thả, số còn lại chuyển về Thành Ông Năm Hóc Môn. Tôi về Hóc Môn càng buồn hơn, một số bạn được đi phép năm ngày thăm nhà, tôi không có may mắn đó. Trại gần thành phố nên được canh giữ rất kỹ luỡng, không có lao động xa, chỉ làm việc trồng trọt dọn dẹp lặt vặt trong vòng rào trại. Tôi giết thời gian ở đây bằng cách học guitar với Linh, một anh bạn mới quen. Một buổi tối tôi buồn và nhớ vợ, ra sau dẫy nhà ngủ, ngồi một mình dưới gốc cây hát cho vơi sầu. Bài “chiều hành quân”, Linh nghe được dem cay dan da chiến ra dệm cho toi. Từ đó chúng tôi thường quây quần lén hát nhạc vàng cho nhau nghe. Tạ Kỳ Linh, là con trai lớn của nhà văn Tạ Tỵ, chúng tôi đổi ngược tên thật của anh lại thành “Tinh Kỳ lạ” cho hợp với cái tài chơi đàn xuất chúng, dù chỉ với cây đàn do chúng tôi tự dùng ván thông và gò nhôm làm thành. Ngoài ra tôi còn cắt nhôm làm kẹp tóc, lược, lắc đeo tay và khắc hình hay chữ trên đó. Khoảng mấy tháng ở đây vì ít phải lao động cực nhọc sức khoẻ tôi đã phần nào hồi phục.
Hơn ba năm từ ngày Cộng Sản chiếm Sàigòn, thành phố tráng lệ của miền Viễn Đông. Chúng tôi, những người con hiên ngang gánh vác trách nhiệm bảo vệ tự do cho miền Nam đã không dứt áo ra đi, đã không nỡ xa rời quê mẹ. Dù sao cũng vẫn cùng một giống nòi Hồng Lạc. Đất nước hợp nhất, không còn chiến tranh. Chiến tranh dứt thù hận cũng tiêu tan. Ở lại dù có khổ sở thế nào cũng vẫn là người dân nước Việt sống trên quê hương Việt Nam. Không lẽ Việt Cộng nay đã lấy được trọn cả nước lại đi giết tập thể hàng trăm ngàn người dân chúng tôi sao? Vì ý nghĩ đó, chúng tôi đã tự nguyện ở lại đem thân vào chốn lao tù, làm việc khổ sai đày đọa, cách biệt hẳn với xã hội bên ngoài. Nhưng hỡi ôi! Việt cộng dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam không giết chúng tôi tập thể. Chúng chưa muốn người dân Việt Nam kinh hãi, và nhìn rõ bộ mặt thật của Cộng Sản. Đảng đã thâm hiểm hơn gấp trăm gấp ngàn lần, đã đánh lừa gom những người con ưu tú của miền Nam vào các trại tù khổng lồ, và che mắt mọi người bằng mỹ danh trại “Cải Tạo”. Xã hội sẽ không còn người chống đối phản kháng những việc làm bán nước hại dân của chúng. Trong trại tù chúng không những hành hạ bắt làm việc nặng nhọc ngoài sức chịu đựng của con người, còn cướp hết những lương thực sản phẩm do tù nhân làm ra để họ ngày một đói, không chết vì rừng thiêng nước độc, bệnh hoạn không thuốc men, cũng chết dần vì thiếu đói, vì kiệt quệ, hao mòn trong lao động khổ sai, triền miên. không còn lầm lẫn nào lớn hơn lầm lẫn này. Cái ý nghĩ cùng một giống nòi Hồng Lạc mới mỉa mai làm sao!!! Cuối năm thứ tư tôi bị chuyển đi Phước Long.

Phước Long.
Phước Long là vùng cao nguyên, Trại cải tạo nằm sâu trong rừng, về sáng sương mù và khí lạnh rất lâu tan. Những khu rừng lồ ô thường nằm dưới thung lũng, thấp và thiếu ánh sáng nên ẩm ướt càng thêm ẩm ướt, lá lồ ô rụng thành một lớp dầy, lâu ngày mục nát rất thích hợp cho vắt sinh sống. Tôi ghét cay ghét đắng công tác lấy lồ ô, không phải vì nặng nhọc, chỉ vác hai cây dài đã nặng quằn vai, trong trại tù, có công tác nào mà không nặng nhọc? cũng không phải vì rừng lồ-ô ở khá xa trại, chặt dủ bốn cây vác về đã mất hơn hẳn nửa ngày còn mệt bở hơi tai, nghỉ nguyên buổi chiều cũng không lại sức. Tôi ghét đi lấy lồ ô vì rừng lồ ô đầy vắt. Bất cứ ngừa cách nào, bó chặt tay áo, cột kín ống quần v.v.. đều không thể tránh bị vắt cắn. Mỗi lần đi lấy lồ ô ít nhất cũng bị năm ba con hút no máu to phồng, đó là chưa kể hàng chục con khác mới vừa bắt đầu hút máu đã bị phát giác và bị giết ngay tại chỗ, thật khốn khổ hơn nữa nếu không may ta bị một con chui vào tai hay hậu môn.
Có lần chặt xong hai cây, róc sơ cành lá cho khỏi vướng, tôi gò lưng, è cẳng kéo ra ngoài trống chỗ có ánh sáng mặt trời, vì biết vắt rất kỵ ánh nắng, cảm thấy trên mu bàn chân vừa ngứa vừa đau vội cởi giầy ra xem, vừa lột được chiếc vớ tôi đã rùng mình, tóc gáy dựng dứng. Một cảm giac ớn lạnh thật khó tả, suốt đời tôi không bao giờ quên, chạy doc xương sống làm trán toát mồ hôi. Thấy trên bàn chân chín, mười con vắt bu kín đang đua nhau hút máu, con nào cũng đã căng tròn. Tôi vội vàng dùng luỡi dao gạt hết xuống, bằm nát, rồi lấp đất lên để khỏi phải nhìn máu của chính mình loang đầy mặt đất.
Một lần khác, nộp lồ ô xong trời đã chiều, ra giếng tắm, cởi áo mới thấy con vắt to căng tròn máu rớt từ sau lưng xuống, vì quá no không còn hút thêm được đã căng tròn như một viên bi nên tự động rớt ra.

Chúng tôi đã gầy gò vì thiếu ăn lâu ngày, bị mất máu như thế, với tôi là một cực hình ghê sợ nhất. Cái tệ hại bị vắt cắn không những chỉ mất số lượng máu đã bị hút, chỗ vắt cắn thường rất lâu lành, máu vẫn tiếp tục chảy dù con vắt đã bị chúng ta lấy ra. Trên miệng vắt tiết ra chất chống đông máu. Khi vắt đã nhả, trung bình phải mất ít nhất từ hơn nửa tiếng đến một tiếng máu mới có thể ngừng chảy.
Từ khi đến Phước Long, Tinh Kỳ Lạ và tôi ở khác đội, ít có dip gặp nhau. Việc học đàn với anh phải tạm gác lại. Các bạn cùng đội biết tôi từng mê chuyện kiếm hiệp Kim Dung, mỗi tối đều tìm cách mời tôi kể lại, họ nấu chè hoặc bất cứ món ăn gì có thể tìm được, đặc biệt để dành cho “thầy kể chuyện”. Tối nay buổi kể chuyện cũng tạm ngưng vì tập họp điểm danh bất thường. Hồi sáng đi cuốc cỏ ruộng mì tôi có gặp Linh, tôi chỉ chào hỏi qua loa và nhận ra Linh có vẻ vội vã. Không rõ như thế nào, nhưng Linh đã âm thầm sắp xếp với vợ qua mấy lần nuôi, và hôm nay chị Linh chạy xe Honda vào tận khu rừng thưa mang quần áo civil cho anh thay, hai người giả trang dân trong vùng cùng nhau trốn thoát về SàiGòn. Sau này tôi có đến khu chung cư Minh Mạng thăm nhưng không gặp linh, lúc đó đã đi Cà Mâu dò đường vượt biên, gặp chị Linh, tôi có gởi lời hỏi thăm anh. Nghe đâu anh cũng vượt biên an toàn và nay đang định cư tại Mỹ.
Xuyên Mộc, trại cuối cùng.

Chuyển về Xuyên Mộc chúng tôi ai cũng mặt mày ủ dột. Đây là trại tù do Công an coi. Ngày đầu vào trại một cán bộ khi tập họp chúng tôi đã tuyên bố rõ ràng: Các anh ngụy quân ngụy quyền chuyển về trại này đều thuộc thành phần còn ngoan cố, học tập lâu vẫn không có kết quả tốt. Đã qua nhiều lần thanh lọc còn lọt lại. Những ai học tập tốt đều đã được cho về đoàn tụ với gia đình. Còn các anh có thể phải ở đây mãi mãi.

Ở Xuyên Mộc khoảng năm tháng, người Thiếu úy cán bộ đại đội gọi tôi lên để nói chuyện rieng. Trong lòng hồi hộp không biết mình đã ăn nói sơ hở gì để ang-ten báo cáo. Kinh nghiệm mấy lần, khi bị gọi lên gặp riêng với cán bộ lần nào tôi cũng mang cái thân ốm đòn trở về. Cũng may lần này anh chàng cán bộ đại đội trưởng này cho tôi biết anh ta nghe một người bạn tù giới thiệu, tôi khéo tay, biết vẽ và xủi đồ nhôm. Anh ta muốn nhờ tôi xủi hình một cô gái và đóa hoa hồng vào mặt hộp quẹt máy cho anh. Tôi nhận lời ngay vì đây là dịp may khỏi bị đào đất khiêng cây hoặc làm những việc nặng nhọc khác. Hết quẹt máy này anh ta đưa quẹt máy khác, hết quẹt đến vòng, lắc, kẹp tóc v.v… Một thời gian mấy tháng tôi luôn được ngồi trong gốc cây mát làm đồ riêng cho anh ta. Một hôm đang cùng các bạn đào gốc cây anh ta lại đến gọi tôi ra nói chuyện riêng. Lần này vừa mở lời đã chặn đầu: Anh phải làm tốt một việc sau đây, tháng sau anh sẽ được đề nghị cho về, và nhớ phải giữ kín chuyện tôi nói với anh hôm nay, nếu không anh sẽ bị giữ lại học tập thêm. Tôi rất ngạc nhiên, hôm mới vào trại có một cán bộ đã nói tụi tôi có thể sẽ phải học tập suốt đời ở đây. Anh ta tiếp: Trong vòng một tuần anh phải viết cho tôi bài báo cáo về tất cả những hanh dộng va tu tuởng sai trai phản dộng của mọi nguời trong đội. Nếu bản báo cáo tốt anh sẽ được về. Tuyệt đối không được dấu diếm che đậy chuyện gì cả .
Đêm đó tôi trằn trọc mãi. Thi ra hắn muốn mình làm ang-ten. Thiệt là khôi hài, muốn tôi làm ăng-ten bán rẻ anh em, đừng hòng tôi làm chuyện đó! Nhưng nếu lỡ hắn ta nói thật thì sao đây? nghĩa là nếu tôi không viết báo cáo hắn có thể giữ tôi lại không? Không thể bỏ uổng dịp may hiếm có cũng không thể làm hại anh em. Vợ con tôi ở ngoài đang trông đợi tôi về, còn có gia đình tôi nữa. Thật là một đòn thâm độc. Suy nghĩ mãi tôi đã quyết định chờ tới ngày chót mới viết báo cáo. Trong báo cáo tôi viết: Tôi nhận thấy các bạn trong đội người nào cũng cố gắng hết sức lao động, học tập, chăm chỉ. Người nào cũng nôn nóng mong học tập mau về. Họ cố gắng nhiều quá nên mệt nhọc, công việc có hơi chậm lại. Ban đêm họ đều mệt, ngủ say không bàn tán xì xào gì được cả .
Một tuần sau, buổi sáng sớm khi tiểu đoàn tập họp đi lao động, 12 người được giữ lại trại cho lãnh giấy ra về trong đó có tôi. Về đến nhà gặp cha mẹ vợ con mấy tháng sau có người dắt mối nhờ lái ghe vượt biên. Tôi không ngần ngại nhận lời ngay. Cuối năm 1980 may mắn đã đưa được gia đình thoát nạn tới Indonesia và đi định cư năm 1981 . Một thời kinh hoàng tủi nhục của đời người đã qua, nay nhớ lại tôi vẫn còn kinh tởm cộng sản vô cùng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

KỲ QUAN THẾ GIOI

Thị trấn 150 tuổi nổi lên giữa hồ cạn ở Mỹ


Mực nước thấp kỷ lục tuần trước tại hồ Mead ở Mỹ khiến ngôi làng chìm nhiều thập kỷ nay nổi lên, gợi nhớ tới cuộc sống một thời của người dân nơi đây.



Thị trấn St. Thomas, bang Nevada nổi lên trên đáy của Mead, hồ chứa lớn nhất Mỹ, tuần trước. St.Thomas được thành lập năm 1865 và từng là nơi ở của 500 người. Năm 1918, 6 doanh nghiệp đã hoạt động tại đây, trong đó có khách sạn, quán cafe, cửa hàng… Thị trấn phát triển thịnh vượng và có kế hoạch xây dựng một khu du lịch. Khách qua đường thường dừng lại tại đây ăn uống, tiếp nhiên liệu hoặc sửa chữa ôtô. Tuy nhiên, năm 1938, người dân phải rời thị trấn vì con đập gần đó mới được xây và nước tràn vào khu dân cư, theo Weather.com. Ảnh: Getty
1

Một công trình thuộc St.Thomas ngâm dưới nước nhiều năm. Thị trấn nổi lên trong mùa khô năm 1946, 1947, 1952 và giữa thập kỷ 60 của thế kỷ 20. Ảnh: Getty
1

Mảnh vỡ xi măng dưới lòng hồ. Mỗi khi mực nước xuống, nhiều người từng có nhà ở St.Thomas trở về đây để thăm lại nơi ông bà, cha mẹ họ từng sống. Ảnh: Inquisitr
1Phóng to

Một phần của công trình còn trụ vững dù ngâm trong nước nhiều thập kỷ. Ảnh: Inquisitr
1

Gốc cây vẫn giữ nguyên vị trí nhưng chúng không thể sống vì nước ngập. Ảnh: Inquisitr
1

Bậc thang của một ngôi trường năm xưa. Ảnh: Getty
1

Khách sạn Gentry ở St. Thomas đầu thế kỷ 20. Ảnh: NPS
1

Luke Syphus (trái), cậu bé Osborne Gentry và Laura Gentry là những công dân đầu tiên của thị trấn. Ảnh: NPS


  1. Tu viện vàng trên núi dựng đứng độc nhất Thế Giới.


    Việc xây dựng một tu viện bế thế trên những vách núi đá dốc đứng là một kỳ công của người Miến Điện cổ xưa.





    Tu viện Phật giáo Taung Kalat ở Myanmar được coi là một trong những công trình tôn giáo được xây dựng ở nơi hiểm trở nhất thế giới.




    Tu viện này được xây dựng trên đỉnh nú Popa, một ngọn núi lửa đã tắt, từ nhiều thế kỷ trước.




    Tu viện tọa lạc ở độ cao 737m so với mặt đất. Muốn lên tới đây, du khách phải leo tổng cộng 777 bậc thang.




    Khi vượt qua thử thách này, du khách sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng toàn bộ khung cảnh rộng lớn từ đỉnh núi.

































  2. Khám phá tòa thành cổ kỳ vĩ nhất Việt Nam


    Thành nhà Hồ là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn nguyên vẹn trên thế giới, là chứng tích về sự tồn tại của kinh đô nước Đại Ngu.






    Nằm trên địa phận xã Vĩnh Long, huyện
    Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá, thành nhà Hồ (còn gọi là thành Tây Đô, thành An Tôn, thành Tây Kinh hay thành Tây Giai) là chứng tích về sự tồn tại của kinh đô nước Đại Ngu - quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ - từ năm 1400 - 1407. Ảnh: Cửa Nam thành nhà Hồ.





    Đây là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc đáo bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam, có giá trị và độc đáo nhất, duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn nguyên vẹn trên thế giới. Ảnh: Cửa Bắc thành nhà Hồ.





    Theo sử sách, thành Tây Đô được xây vào
    năm 1397 dưới triều Trần trong thời gian rất ngắn, chỉ khoảng 3 tháng.
    Các cấu trúc khác bên trong tòa thành như các cung điện, la thành phòng vệ bên ngoài, đàn Nam Giao... còn được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cho đến năm 1402. Ảnh: Cửa Đông thành nhà Hồ.





    Người quyết định chủ trương xây dựng
    thành là Hồ Quý Ly, lúc bấy giờ giữ cương vị Tể tướng, nắm giữ mọi quyền lực thực tế của triều đình lúc đó. Ông cho xây thành làm kinh đô mới với tên Tây Đô, nhằm buộc triều Trần dời đô vào đó trong mục tiêu phế bỏ vương triều Trần. Ảnh: Cửa Tây thành nhà Hồ.





    Năm 1400, vương triều Hồ thành lập, và
    Tây Đô là kinh thành của vương triều mới. Thành Thăng Long đổi tên là Đông Đô vẫn giữ vai trò quan trọng của đất nước. Vì vậy thành Tây Đô được dân gian quen gọi là thành nhà Hồ. Ảnh: Bên trong thành nhà Hồ.





    Thành Tây Đô ở vào địa thế khá hiểm trở,
    có lợi thế về phòng ngự quân sự hơn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá. Vị trí xây thành đặc biệt hiểm yếu, có sông nước bao quanh, có núi non hiểm trở, vừa có ý nghĩa chiến lược phòng thủ, vừa phát huy được ưu thế giao thông thủy bộ. Ảnh: Một đoạn tường thành nội.





    Như mọi thành quách bấy giờ, thành bao
    gồm thành nội và thành ngoại. Thành ngoại được đắp bằng đất, trên trồng tre gai dày đặc cùng với một vùng hào sâu có bề mặt rộng gần tới 50m bao quanh. Bên trong thành ngoại là thành nội có mặt bằng hình chữ nhật chiều Bắc - Nam dài 870,5m, chiều Đông - Tây dài 883,5m. Ảnh: Cận cảnh một đoạn tượng thành nội còn nguyên vẹn.





    Mặt ngoài của thành nội ghép thẳng đứng
    bằng đá khối kích thước trung bình 2 m x 1 m x 0,70 m, mặt trong đắp đất. Bốn cổng thành theo chính hướng Nam - Bắc - Tây - Đông gọi là các cổng tiền - hậu - tả - hữu (Cửa Tiền hay còn gọi là Cửa Nam, Cửa Hậu còn gọi là Cửa Bắc, cửa Đông Môn và cửa Tây Giai). Ảnh: Một đoạn tường đã
    sụp đổ.





    Các cổng đều xây kiểu vòm cuốn, đá xếp
    múi bưởi, trong đó to nhất là cửa Nam, gồm 3 cửa cuốn dài 33,8 m, cao 9,5 m, rộng 15,17 m. Các phiến đá xây đặc biệt lớn (dài tới 7 m, cao 1,5 m, nặng chừng 15 tấn). Ảnh: Cửa Nam của thành nhà Hồ.





    Theo sử liệu, trên thành còn xây tường
    bằng gạch mà khảo cổ học đã phát hiện khá nhiều, trên nhiều viên gạch còn khắc tên đơn vị các làng xã được điều động về xây thành. Ảnh: Mặt trên của tường thành nội.





    Trải qua nhiều thế kỷ, các cung điện, dinh thự trong khu vực nội thành đã bị phá huỷ. Trong các phế tích đáng chú ý có nền chính điện chạm một đôi tượng rồng đá rất đẹp dài 3,62 m.





    Thành nhà Hồ thể hiện một trình độ rất
    cao về kĩ thuật xây vòm đá thời bấy giờ. Những phiến đá nặng từ 10 đến 20 tấn được nâng lên cao, ghép với nhau một cách tự nhiên, hoàn toàn không có bất cứ một chất kết dính nào. Trải qua hơn 600 năm, những bức tường thành và cổng thành vẫn đứng vững. Ảnh: Phía trên một vòm cổng của thành nhà Hồ.





    Đây cũng là một khu khảo cổ quan trọng,
    nơi rất nhiều hiện vật quý giá của nhà Hồ đã được tìm thấy, như những viên đạn bằng đá, đồ gốm sứ, tượng điêu khắc... có giá trị thẩm mỹ cao.





    Được xây dựng và gắn chặt với một giai
    đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam, với những cải cách của vương triều Hồ và tư tưởng chủ động bảo vệ nền độc lập dân tộc, thành Nhà Hồ còn là dấu ấn văn hóa nổi bật của một nền văn minh tồn tại tuy không dài, nhưng luôn được sử sách đánh giá cao.





    Tháng 6/2011, thành nhà Hồ đã được
    UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Đây là Di sản văn hóa thế giới thứ 5 của Việt Nam sau phố cổ Hội An, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn và Hoàng thành Thăng Long.

    Vẻ đẹp của nhà thờ đá Phát Diệm


    Nhà thờ đá Phát Diệm được xây dựng từ năm 1875-1898, là một nhà thờ đẹp và độc đáo bậc nhất Việt Nam.

    Đây là một quần thể kiến trúc gồm 1 nhà thờ lớn, 5 nhà thờ nhỏ cùng nhiều công trình khác trên khuôn viên rộng 22ha ở thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Nét độc đáo của nhà thờ là phong cách kiến trúc mô phỏng đình chùa của người Việt cùng chất liệu xây dựng chủ yếu là đá và gỗ.

    Công trình đầu tiên trong khuôn viên nhà thờ là tòa Phương Đình, một công trình kiến trúc cao 25m, rộng 17m, dài 24m gồm ba tầng được xây dựng bằng đá phiến, được trang trí bằng nhiều tượng và phù điêu khắc chạm trên đá hình ảnh chúa Jesus và các vị thánh với những đường nét thanh thoát.


    Phía sau tòa Phương Đình là nhà thờ lớn. Nhà thờ này được xây dựng từ năm 1891 với tên chính thức là Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi, nay là nhà thờ Chính tòa của vị Giám mục Phát Diệm. Nhà thờ dài 74m, rộng 21m, cao 15m, có bốn mái và có năm lối vào dưới các vòm đá được chạm trổ.


    Trong nhà thờ lớn có 6 hàng cột gỗ lim nguyên khối, hai hàng cột giữa cao tới 11m, chu vi 2,35m, mỗi cột nặng khoảng 10 tấn. Gian thượng của thánh đường có một bàn thờ lớn làm bằng một phiến đá nguyên khối dài 3m, rộng 0,9m, cao 0,8m, nặng khoảng 20 tấn.


    Mái của nhà thờ lớn và Phương Đình đều không cao vút kiểu ngọn tháp như những nhà thờ Công giáo phương Tây truyền thống mà là dạng mái cong thấp như mái đình, mái chùa của người Việt.


    Mỗi mặt bên trái và bên phải của nhà thờ lớn lại có 2 nhà thờ nhỏ nằm liền kề, gồm nhà thờ Thánh Phêrô, nhà thờ Thánh Giuse, nhà thờ Thánh Bôcô và nhà thờ Trái tim Chúa Jesus. Mỗi nhà thờ có một thiết kế khác nhau, cả về ngoại thất lẫn nội thất.


    Đặc biệt, nằm phía sau khuôn viên nhà thờ Phát Diệm còn có một nhà thờ làm hoàn toàn bằng đá, từ nền, tường, cột, chấn song cửa với các phù điêu trang trí rất sinh động... Nhà thờ này được khởi công xây dựng từ năm 1883 với tên nguyên thủy là Nhà nguyện Trái tim Vô nhiễm nguyên tội Đức Mẹ.


    Phía trước nhà thờ là một hồ nước hình chữ nhật. Giữa hồ có một hòn đảo được bài trí công phu bằng cây cảnh và non bộ. Trung tâm của đảo là tượng Chúa Jesus.


    Nhà thờ Phát Diệm có tất cả 3 hang đá nằm cách nhau khoảng 100m, được tạo bằng những khối đá lớn nhỏ khác nhau giữ nguyên dáng vẻ tự nhiên. Trên các hang đá bài trí nhiều tượng thánh.


    Các tác phẩm điêu khắc đá ở nhà thờ Phát Diệm đã đạt đến sự hoàn mỹ, thể hiện tài năng của những người thợ làm đá Ninh Bình từ hơn 1 thế kỷ trước.


    Bên cạnh đó, nghệ thuật điêu khắc gỗ cũng góp phần làm nên giá trị kiến trúc độc đáo của nhà thờ.


    Hiện nay, tỉnh Ninh Bình và các nhà nghiên cứu Nhật Bản đang hoàn thiện hồ sơ để đề nghị UNESCO công nhận nhà thờ đá Phát Diệm là Di sản văn hóa thế giới.

Biển Đông : ASEAN đã cứng rắn hơn với Trung Quốc ?

Biển Đông : ASEAN đã cứng rắn hơn với Trung Quốc ?
Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị và đồng nhiệm Malaysia Anifah Aman tại hội nghị ASEAN, 06/08/2015.REUTERS/Olivia Harris

Sau 4 ngày họp, Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 48 và các cuộc họp liên quan đã kết thúc hôm 06/08/2015 tại Kuala Lumpur. Hoạt động bồi đắp đảo nhân tạo trong ý đồ quân sự hóa khu vực của Bắc Kinh đã nổi lên thành chủ đề tranh cãi căng thẳng, mà biểu hiện rõ nhất là những cuộc đấu khẩu công khai giữa Trung Quốc với Mỹ, Philippines và Nhật Bản.

Ngay trong nội bộ ASEAN, một số dấu hiệu cũng cho thấy là tranh cãi cũng gay gắt không kém, giữa một bên là những nước như Việt Nam hay Philippines, chủ trương là cần gởi tín hiệu mạnh mẽ về phía Trung Quốc, yêu cầu Bắc Kinh phải chấm dứt những hành động gây căng thẳng trên Biển Đông, và bên kia là những thành viên cho rằng cần phải mềm mỏng với đối tác số một của Đông Nam Á, tránh để cho vấn đề Biển Đông, vốn chỉ liên quan trực tiếp đến một nửa ASEAN, gây tổn hại cho toàn khối.
Tranh cãi gay gắt về Biển Đông trong nội bộ ASEAN
Theo giới quan sát, sự kiện bản Tuyên bố chung của Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN phải mất ba ngày mới được đúc kết xong, và chỉ được chính thức công bố tối 06/08/2015, đã nêu bật tính chất gay go của cuộc tranh cãi.
Trong một động thái khác thường, Ngoại trưởng Singapore Shanmugam, sáng 06/08, đã tiết lộ với báo chí là điểm gây bất đồng giữa các nước trong Hiệp hội Đông Nam Á là Biển Đông, một bất đồng nghiêm trọng tới mức mà vào lúc Ngoại trưởng Singapore phát biểu với báo chí, bản Tuyên bố chung vẫn chưa có, cho dù theo ông Shanmugam, văn kiện này phải sẵn sàng từ hôm trước.
Theo một số nguồn tin ngoại giao, tranh cãi trong hậu trường đã bùng lên giữa Việt Nam, Philippines, muốn ASEAN mạnh mẽ phản đối các hành động xây đảo của Trung Quốc trên Biển Đông, với « những người bạn của Trung Quốc » – bị tình nghi là Cam Bốt và Lào - kiên quyết chống lại.
Tuy nhiên, kịch bản năm 2012 – khi chủ tịch ASEAN là Cam Bốt, vì bênh Trung Quốc, đã sẵn sàng để cho Hội nghị Ngoại trưởng thất bại, không ra được Tuyên bố chung – lần này đã không tái diễn, và vào cuối ngày 06/08, khi Hội nghị Kuala Lumpur bế mạc, Bản Tuyên bố chung gây tranh cãi đã được công bố.
Như thông lệ đối với bất kỳ một giải pháp thỏa hiệp nào, tương tự như một ly nước không đầy, có người nhìn thấy nửa đầy, nhưng cũng có người nhìn thấy nửa vơi, bản Tuyên bố chung của Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 48 tại Kuala Lumpur cũng bị đánh giá theo nhiều cách.
Phản đối hành động của Trung Quốc nhưng không nêu tên
Báo Hồng Kông South China Morning số ghi ngày Chủ nhật 09/08/2015 chẳng hạn, đã nhận định rằng ASEAN đã thất bại trong việc đưa ra lời kêu gọi Trung Quốc ngừng việc quân sự hóa các đảo nhân tạo vừa bồi đắp tại Biển Đông.
Đối với tờ báo này, ASEAN vẫn bị chia rẽ nên đã không biến các lời nói thành hành động cụ thể được, Bản Tuyên bố chung của ASEAN đã tỏ ý đả kích các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông, nhưng lại không dám nêu đích danh Trung Quốc, và cũng không nói gì đến lời kêu gọi của Philippines, ủng hộ đề nghị của Mỹ đưa ra trước đó là ngừng cải tạo đảo đá, ngừng xây cất cơ sở, ngừng quân sự hóa.
Tuy nhiên, đối với nhiều quan sát viên khác, Hội nghị các Ngoại trưởng ASEAN lần này đã tương đối thành công trong việc bắn đi một tín hiệu cứng rắn hướng về Trung Quốc, vì không chỉ có Philippines, Việt Nam hay Mỹ, Nhật Bản là chỉ trích các hành vi gây căng thẳng của Trung Quốc tại Biển Đông, mà một số nước khác như Úc, Ấn Độ cũng đã tranh thủ diễn đàn ASEAN để bày tỏ thái độ bất đồng tình với các hành động gần đây của Bắc Kinh.
Thậm chí nước chủ nhà Malaysia, bình thường rất kín đáo trong vấn đề tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, lần này cũng đã công khai bác bỏ đề nghị của Bắc Kinh là không nên đề cập đến vấn đề Biển Đông tại các Hội nghị ASEAN.
Gs Ngô Vĩnh Long : ASEAN cứng rắn hơn với Trung Quốc
Giáo sư Ngô Vĩnh Long, trường Đại Học Maine (Hoa Kỳ), là một trong những nhà phân tích đánh giá rằng Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần này đã gặt hái được một số thành công trong vấn đề Biển Đông, nhờ vào vai trò tích cực của nước chủ nhà Malaysia, không để bị Trung Quốc hù dọa. Vai trò tích cực của Việt Nam cũng được Giáo sư Long ghi nhận, đối lập với những thái độ của Cam Bốt hay Lào đã bị Trung Quốc “mua chuộc”.
Sau đây, mời quý vị nghe bài phỏng vấn Giáo sư Ngô Vĩnh Long.


Ác mộng khủng khiếp của Trung Quốc tại biển Đông
                                                                           Lê Ngọc Thống
 06/08/2015






Chỉ cần 2 chiếc B-52 có lẽ cũng đủ trọng lượng để Mỹ cho Trung Quốc biết có nên hung hăng hay không trên đường băng mới xây dựng trái phép tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam.




Con số 7 chết chóc!


Việc 2 chiếc B-52 bay vào ADIZ mà Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố trên biển Hoa Đông cách đây đã hơn 1 năm, nhưng giá trị quân sự của chuyến bay thì vẫn còn rất nóng trong giới nghiên cứu quân sự không chỉ của Trung Quốc, Mỹ mà cả thế giới.
Qua sự kiện này, giới quan sát đã hiểu rõ rất nhiều vấn đề về khả năng quân sự của 2 cường quốc Trung, Mỹ.


Để bay vào ADIZ mà Trung Quốc lập trái phép, Mỹ không sử dụng F-22, B-1 hay B-2 vì đây là những loại máy bay tàng hình. Nếu sử dụng, hóa ra Mỹ sợ Trung Quốc nên chỉ lén lút mà không dám công khai.
Trong khi đó B-52 không phải máy bay tàng hình, do vậy bay vào đó là Mỹ công khai cho toàn bộ đồng minh và cả thế giới biết.


Cũng nên biết rằng khi Trung Quốc tuyên bố ADIZ trên biển Hoa Đông thì Bộ quốc phòng của họ đã chuẩn bị đầy đủ mọi phương tiện cần thiết chứ không phải nói suông, vì đây là tuyên bố tầm quốc gia của một siêu cường đang cố chứng minh cho thế giới biết sức mạnh của mình.


Khi đó, bất kỳ một chiếc máy bay nào xuất hiện tại khu vực trên đều sẽ bị phát hiện và nhắc nhở ngay để thể hiện uy danh cường quốc chứ không phải chuyện đùa.


Vì thế Mỹ dùng B-52 là đắc sách, là nước cờ cao, vừa kiểm tra năng lực “nhìn” của Trung Quốc, vừa đề phòng khỏi mất mặt nếu bị Trung Quốc phát hiện ra rồi phát lời cảnh báo. Tại sao vậy?
Đừng tưởng Trung Quốc sẽ không dám làm gì khi phát hiện B-52 của Mỹ bay vào ADIZ mà họ vừa tuyên bố, chúng ta đã từng chứng kiến tàu chiến của PLAN nhiều lần cắt mặt, khiến tàu chiến Mỹ phải chuyển hướng, hay vụ đụng độ với máy bay Mỹ khiến một phi công Trung Quốc thiệt mạng...


Nhưng rốt cuộc, Trung Quốc rõ ràng là không phát hiện ra B-52 vào ADIZ mà chỉ biết và phản ứng khi Mỹ công bố sau đó 7 tiếng đồng hồ.


\Oanh tạc cơ B-52 dẫn đầu đội hình tiêm kích F-16 và máy bay tác chiến điện tử EA-6


Mới đây, khi Mỹ đưa máy bay P-8A Poseidon và tàu chiến vào biển Đông “tuần tra” trước việc Trung Quốc bồi đắp trái phép các bãi cạn thành những căn cứ quân sự trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam thì lập tức bị Trung Quốc bám chặt, gọi loa cảnh cáo…


Hãng tin CNN đã tường thuật rất chi tiết sự kiện trên, khiến cho thế giới hiểu rằng Trung Quốc sẵn sàng cứng rắn với Mỹ trên Biển Đông.
Tuy nhiên, lại tuy nhiên, khi vị Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Mỹ, Đô đốc Scott Swift đi tuần tra và thị sát biển Đông trong 7 tiếng đồng hồ trên P-8A Poseidon thì giống như vụ B-52 bay vào ADIZ, sau khi Mỹ công bố, Trung Quốc mới cay cú phản ứng…
Như vậy, Trung Quốc không hề biết ông tướng Mỹ này đã làm gì trên biển Đông trong 7 tiếng đồng hồ.
Có điều gì đó trong sự trùng hợp 7 tiếng đồng hồ? Chỉ có Mỹ và Trung Quốc hiểu sâu sắc, chi tiết vì sao là con số 7 mà không phải là số 8 hay số 6...
Nhưng nếu như có ai đó hiểu rằng, một quốc gia bị “mù và điếc” mất 7 tiếng đồng hồ trong một cuộc chiến tranh hiện đại với vũ khí công nghệ cao như hiện nay là thảm họa thì cũng không sai.



Máy bay tuần tra săn ngầm P-8A Poseidon


B-52 của Mỹ khiến Trung Quốc không rét mà run!

Phát hiện và “nhìn thấy” máy bay B-52, trên thế giới này mới chỉ có Việt Nam làm được công khai. Nhưng Việt Nam phát hiện và “nhìn thấy" được B-52 không phải chỉ bằng kỹ thuật đơn thuần mà phải bằng cả chiến thuật.
Đó chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chiến thuật và công nghệ với tư tưởng tác chiến “những gì công nghệ không thể thì chiến thuật có thể…”


Với khả năng gây nhiễu của B-52 và các máy bay hộ tống, bằng kỹ thuật vạch nhiễu đơn thuần để “nhận biết” B-52 như Việt Nam đã làm là điều không tưởng.
Liên Xô lúc đó đã cấp cho Việt Nam những loại vũ khí phòng không gần như tốt nhất mà họ có, tuy nhiên trong ngày đầu của chiến dịch, Việt Nam đã bắn hàng trăm quả tên lửa nhưng hiệu suất chiến đấu quá thấp.


Điều đó chứng tỏ tuyên bố của Mỹ: B-52 là “pháo đài bay bất khả xâm phạm” và “đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá” không phải là không có cơ sở thực tế.
Nhưng với sự hỗ trợ của chiến thuật như cách bố trí các trạm radar từ thế địa lý, công tác thông tin tình báo, lối đánh sáng tạo, thậm chí lợi dụng sai lầm từ phương án tác chiến của đối phương... tên lửa Việt Nam mới vít cổ được nhiều B-52 như thế.


Như vậy, nếu nói rằng Việt Nam, một quốc gia nghèo nàn lạc hậu còn phát hiện được B-52 của Mỹ thì Trung Quốc lẽ nào lại không… là sự so sánh khập khiễng, là đánh giá quá thấp năng lực tác chiến điện tử của Mỹ.
“Tướng phòng lạnh” hay “Hỏa lực mồm” là những kẻ hung hăng coi thường đối thủ “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”. Nói chung, Trung Quốc không phải là Việt Nam.



Máy bay ném bom B-52 phối hợp tác chiến cùng tiêm kích hạm F/A-18


Có thể nói “Điện Biên Phủ trên không” không hẳn là cuộc tập kích đường không lớn và duy nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới. Nhưng chắc chắn, đây là một trận mà tác chiến điện tử của 2 bên đối địch diễn ra cực kỳ ác liệt và lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới cho đến nay.


Qua trận này, Việt Nam và Mỹ đã trả học phí bằng máu để có được những bài học kinh nghiệm cực kỳ quý giá, bổ ích cho mỗi bên. Do đó, chỉ Việt Nam mới đánh giá chính xác được mạnh yếu của B-52 và cũng chỉ Mỹ mới rút ra được điều gì cần phải khắc phục trên B-52.


Và một thực tế hùng hồn là dù đã tồn tại đã 60 năm, nhưng B-52 không bị loại khỏi biên chế mà qua mấy lần cải tiến, nó vẫn là loại máy bay ném bom chiến lược lợi hại của một cường quốc quân sự hàng đầu thế giới, giàu có cũng bậc nhất thế giới như Mỹ mới đáng ngạc nhiên.


Kể từ khi ra đời năm 1955, đến nay B-52 luôn gắn liền với chiến thắng, trừ một lần duy nhất bị bại trên bầu trời Hà Nội. Tuy thế, chẳng có người Việt Nam nào lại đánh giá thấp sự lợi hại, sức mạnh khủng khiếp của nó.


Trong một phi vụ oanh tạc máy bay B-52 thường đi thành nhóm 3 chiếc theo đội hình mũi tên, trên độ cao 9 - 10 km và ném gần 100 tấn bom, tương đương 138 quả bom, mỗi quả nặng 250 kg với mật độ dày đặc xuống một khu vực khoảng 2,5 km2.


Nếu mật độ bom rơi là khoảng 130 quả trên 1 km2, tức là cự ly trung bình giữa hai hố bom cạnh nhau là khoảng 80 mét, thì… không nghe tiếng máy bay.
Đối phương chỉ phát hiện được B-52 rải thảm khi tiếng rít đến kinh người của hàng trăm quả bom xé gió từ trên không trung lao xuống và mặt đất như bị chao đảo, rung chuyển hơn cả một trận động đất lớn nhất đã từng xảy ra.


Một khu vực rộng chừng 2,5 km2 sẽ trở thành bình địa, những hố bom chi chít như mặt trăng bị các thiên thạch bắn phá.
Vậy điều gì xảy ra nếu như cứ hết tốp này đến tốp khác đến thay nhau “rải thảm” mà hệ thống phòng không không thấy B-52 đâu để phóng tên lửa?




B-52 của Mỹ đang ném bom kiểu “rải thảm”


Báo chí Nga đăng tin rằng máy bay cường kích Sukhoi Su-24 của họ với tổ hợp gây nhiễu tiên tiến đã làm tê liệt hệ thống điều khiển chiến đấu Aegis của tàu chiến Mỹ Donald Cook trên Biển Đen thì chưa rõ thực hư.


Nhưng trên biển Hoa Đông, việc Trung Quốc không phát hiện được B-52 của Mỹ bay vào ADIZ mà họ ngang nhiên tuyên bố là sự thật.


Tại biển Đông, Trung Quốc không phát hiện được Đô đốc Scott Swift đi tuần tra và thị sát trong 7 tiếng đồng hồ trên P-8A Poseidon cũng là sự thật, thì chứng tỏ tác chiến điện tử của Mỹ không phải chuyện đùa.


Té ra khi cần tạo điều kiện để CNN tố cáo sự hung hăng của Trung Quốc cho thế giới biết thì Mỹ “giúp” Trung Quốc “thấy”, nhưng khi cần “bịt mắt” Trung Quốc thì Mỹ cũng thừa khả năng.


Nếu vậy, điều chắc chắn là mọi căn cứ quân sự mà Trung Quốc xây dựng trái phép trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam không thành vấn đề với B-52 của Mỹ là hiển nhiên.


Thậm chí ngay cả đảo Hải Nam, lực lượng phòng không Trung Quốc sẽ làm được gì hay chỉ mỗi nghe tiếng rít của bom?
Chiến tranh hiện đại mở màn bằng tác chiến điện tử, là đòn đánh khiến đối phương “mù và điếc”, là đòn đánh quyết định sự thành bại của cuộc chiến.


Bất kỳ quốc gia nào khi “không nhìn thấy” máy bay B-52, B-1 hay B2 của Mỹ thì chẳng cần đến bom hạt nhân cũng đều có nguy cơ bị Mỹ đưa về “thời kỳ đồ đá”.
Chỉ với 2 chiếc B-52 vừa tập trận ném bom hồi đầu tháng 7 tại Tây Thái Bình Dương có lẽ cũng đủ trọng lượng để Mỹ cho Trung Quốc biết có nên hung hăng hay không trên đường băng mới xây dựng trái phép tại quần đảo Trường Sa, nếu như chỉ biết được B-52 bay qua sau 7 tiếng đồng hồ.



Báo đảng Trung Quốc tấn công vào các cựu lãnh đạo chế độ


mediaPicture taken September 30, 2014. REUTERS/China DailyTừ trái qua phải: Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình trong lễ kỷ niệm lần thứ 65 Quốc khánh Trung Quốc.REUTERS/China Daily
Hôm nay 10/08/2015, Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc, đã có bài viết công kích gay gắt một số lãnh đạo của chế độ đã về hưu nhưng vẫn cố giữ ảnh hưởng trên chính trường. Đây là một động thái, được giới quan sát cho là dọn đường dư luận chuẩn bị cho một chiến dịch thanh lọc mới trong đảng của ban lãnh đạo Bắc Kinh hiện nay.
Với lời lẽ gay gắt, Nhân dân Nhật báo bình luận trong bài viết : « Một số lãnh đạo không chỉ sắp đặt những người họ che chở (vào những vị trí quan trọng), nhằm tạo môi trường thuận lợi giúp họ tiếp tục gây ảnh hưởng mà họ sau khi đã về hưu đã nhiều năm vẫn còn muốn can thiệp quá sâu vào rất nhiều vấn đề hệ trọng (của đất nước) ».
Bài báo ký tên một lãnh đạo cao cấp thuộc Tổng cục Chính trị quân đội Trung Quốc (Gu Bochong), nhấn mạnh, cách hành xử của những lãnh đạo về hưu này đã gây cản trở cho ban « lãnh đạo mới »" làm cho một số tổ chức bị phân chia bè phái và bị mất tinh thần, phá hoại sự gắn kết và năng lực của đảng".
Ngay khi được đăng tải, bài báo đã được dư luận tại Trung Quốc quan tâm đặc biệt. Nhiều bình luận trên các mạng xã hội đã suy diễn bài báo là dấu hiệu khai mào cho cuộc tấn công của Tập Cận Bình vào Giang Trạch Dân, cựu lãnh đạo đảng và Nhà nước Trung Quốc.
Thời gian gần đây, chiến dịch chống tham nhũng của Bắc Kinh đã trực tiếp tấn công vào hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của đảng, trong đó có cả những nhân vật cựu và đương nhiệm. Điển hình là trường hợp Chu Vĩnh Khang, người được cho là tay chân của ông Giang Trạch Dân trong thời gian từ năm 1989 – 2002, đã bị kết án tù chung thân hồi tháng Sáu vừa qua. Trước đó có, Bạc Hy Lai, người cũng được cho là nằm trong phe cánh với Chu Vĩnh Khang.
Sau khi rời khỏi chính trường năm 2002, ông Giang Trạch Dân vẫn có ảnh hưởng lớn đối với ban lãnh đạo của Hồ Cẩm Đào.
Ngoài ra trong đợt thanh lọc trong đảng vừa qua, một loạt quan chức từ cao cấp đến thấp được cho là người của Giang Trạch Dân hay Hồ Cẩm Đào đều lần lượt bị thất sủng hoặc rơi vào tầm ngắm của điều tra.

NGỌC NHI NGUYÊN * TRUNG CỘNG CHẠY ĐUA

Trung Cộng sắp theo gương Nga: Ráng chạy đua với Mỹ để rồi gục!

Ngoc Nhi Nguyen (Danlambao) - Năm 1945, Nga chứng kiến Mỹ thả 2 trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, mới biết quân đội Mỹ thực sự mạnh và vũ khí, khoa học của Mỹ tiến bộ vượt bực như thế nào. Stalin lúc đó mới hiểu muốn nhuộm đỏ toàn cầu thì Liên Xô bắt buộc phải có vũ khí hạt nhân mạnh hơn Mỹ, còn không chỉ cần xớ rớ Mỹ cho vài quả hạt nhân thì đảng cộng sản có vinh quang cỡ nào đi nữa cũng thành tro bụi. Thế là Nga ngừng các cuộc chiến xâm lược các quốc gia khác, và thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ khí với Mỹ bắt đầu.
Stalin đổ mọi tiền của nỗ lực vào việc chế tạo bom nguyên tử, nhưng chính cái cơ chế "hồng hơn chuyên", "trí thức là cục phân", "khỏi học mới làm chức lớn" và "độc tài kềm kẹp mọi loại tư tưởng tự do" khiến cho dân Liên Xô ngày càng ngu đi, ngày càng chỉ biết lo ăn chơi đàn đúm, quan chức thì chỉ biết ăn hối lộ, tham nhũng vơ vét làm giàu, người tài giỏi thật sự thì 1 là bị gán danh phản động bắt bỏ tù, hoặc đã trốn đi vượt biên tỵ nạn, hoặc bị trù dập lẹt đẹt bên dưới, nên mấy chục năm chạy đua vũ trang với Mỹ, Nga vẫn không sao bằng Mỹ và cuối cùng thì kinh tế kiệt quệ mà gục ngã! 
Ngày nay, Tàu Cộng lại đang đi vào vết xe đổ của Nga, phải chăng vì đó là bản chất của chế độ cộng sản, không cách nào tránh khỏi? 
Tàu Cộng học bài học của Nga, không bành trướng bằng quân sự nữa để khỏi phải chạy đua vũ trang với Mỹ. Ngược lại Tàu Cộng tránh mọi va chạm quân sự với Mỹ. Tàu Cộng bành trướng và chạy đua với Mỹ về kinh tế. Tàu Cộng vơ vét tiền bạc của người dân, bắt dân làm lao động khổ sai với đồng lương chết đói, rồi dùng tiền đó mua đất, mua nhà, mua doanh nghiệp, mua các nhân viên chính quyền các nước nào chịu bán nước (như Việt Nam) và bành trướng qua ngã này. 
Kinh tế của Tàu Cộng hiện nay lớn thứ 2 sau Mỹ, (Nhật đứng thứ 3, VN ta thì đứng gần bét!). Tàu Cộng có những lợi điểm sau:
1- Dân đông và đa số là dân nghèo, làm thì bằng 2-3 người khác nhưng lương thì chỉ bằng 1/100 các nước khác, nên sản xuất ra nhiều, giá thành rẻ, dễ xuất khẩu.
2- Nhân lực đông và rẻ cũng khiến các nước khác đầu tư, đem doanh nghiệp qua Trung Quốc mướn nhân công và nhà máy của TQ.
3- Đất rộng, xây dựng được nhiều, đáp ứng được các nhu cầu về nhà máy, cơ xưởng, đầu tư của nước ngoài.
4- Dân ngu bị nhồi sọ không dám chống đối nên tha hồ bóc lột, tha hồ lợi dụng, tha hồ xài như nô lệ, chết bỏ, nhà nước không tốn nhiều tiền cho an sinh hay bảo đảm xã hội.
5- Nhà nước làm luật rừng, thích thế nào bẻ thế ấy không ai phản kháng. Tha hồ cho vay tiền vô tội vạ, cho in tiền vô tội vạ, dân chúng bị cấm đi nước ngoài nên không cần ngoại tệ. Cho vay dễ dàng nên người dân nào cũng có thể vay hàng đống để mở doanh nghiệp, để sản xuất.
Nhưng đàng sau những lợi điểm đó, là hậu quả kinh khủng nhất mà nước cộng sản nào cũng gặp phải, đó là nợ công quá lớn và nợ xấu quá nhiều.
Khi 1 vài các doanh nghiệp lớn phá sản vì nợ không trả được, thì cổ phiếu xuống ào ào, qua 1 đêm có thể bốc hơi hoàn toàn trở thành vô giá trị, nên giới đầu tư vào thị trường chứng khoán TQ hoàn toàn không có niềm tin, khi thị trường vừa tuột dốc và nghe vài tin xấu là người ta ào ạt bán tống bán tháo, chứ không ai dám ngồi yên mà giữ hoặc đổ thêm tiền vào để giữ giá. 
Vào quý đầu năm 2015, kinh tế TQ đã vượt qua Mỹ để trở thành số 1 thế giới, nhờ giá thị trường cổ phiếu và bất động sản lên. Tin này không ai nói đến. Mỹ không muốn nói vì không muốn dân Mỹ nổi giận, họ đã quen với vị trí số 1 rồi. TQ cũng không công bố vì chế độ cộng sản là phải giấu diếm mọi tin tức sự thật, để dễ bề tuyên truyền nhồi sọ dân. Giới chuyên gia cũng không nhắc đến, chỉ ngồi yên theo dõi diễn biến.
Thì quả nhiên chưa đầy 6 tháng sau, thị trường cổ phiếu TQ tuột dốc thảm hại, chỉ trong 3 tháng mất trắng gần 30% giá trị! Nhà nước CSTQ vất vả bơm vào thêm gần 900 tỷ nhân dân tệ mà vẫn không cứu vãn nổi!! 
Các chuyên gia kinh tế hàng đầu thế giới đã biết trước chuyện này sẽ xảy ra, chỉ bình phẩm ngắn gọn rằng "Phát triển kinh tế mà không đi đôi với thay đổi chính trị phù hợp, thì chỉ là chiếc bong bóng thổi phồng lên bằng khí, trống rỗng, thổi căng quá mức thì sẽ vỡ tan thôi!" 
Chỉ tội nghiệp cho người dân Trung Quốc, bị đảng CSTQ nhồi sọ và lừa bịp, cứ tin là kinh tế nước nhà đang phát triển rực rỡ lắm, nên dồn tiền để dành vào đầu tư, với hy vọng làm giàu, nay lại 1 lần nữa trắng tay, sẽ phải đối diện với quãng đời còn lại sống trong đói nghèo và tăm tối!! 
9/8/2015

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG * TRIẾT LÝ HIỆN SINH



Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954-1975
(trên bình diện lý luận)
HUỲNH NHƯ PHƯƠNG


Để chọn một lý thuyết triết học và mỹ học đƣợc du nhập và có ảnh hƣởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học ở miền Nam Việt Nam những năm 1954-1975, có lẽ nhiều ngƣời sẽ không ngần ngại chọn chủ nghĩa hiện sinh. Ảnh hƣởng đó thể hiện ở chỗ đây là trào lƣu, tuy lúc đậm lúc nhạt, nhƣng đã hiện diện gần nhƣ trọn cả một giai đoạn lịch sử đen tối và phức tạp. Ảnh hƣởng đó thể hiện cả trên bình diện lý luận lẫn trên bình diện sáng tác, cả trong giới chuyên môn lẫn trong độc giả phổ cập, cả trong nhà trƣờng lẫn ngoài nhà trƣờng. Điều đó còn thể hiện ở chỗ đây là một ảnh hƣởng đa chiều, có thuận có nghịch, có hiện sinh và phản hiện sinh, có những sản phẩm chính cấp và sản phẩm thứ cấp, có những đứa con chính thức lẫn “những ngƣời con hoang”.



Khi chính quyền Ngô Đình Diệm “tiếp thu” miền Nam từ tay thực dân Pháp, lý thuyết triết học phƣơng Tây mà ngƣời Sài Gòn nghe nói đến đầu tiên không phải là chủ nghĩa hiện sinh, mặc dù đây là lúc chủ nghĩa này đang hình thành một trào lƣu sôi nổi ở Tây Âu. Lý thuyết đƣợc gia đình họ Ngô đề cao và quảng bá lúc đó là chủ nghĩa nhân vị (personnalisme) của Emmanuel Mounier. Nhƣng trong tiếp nhận của công chúng lúc đó, chủ nghĩa này quả thực là một cái gì mơ hồ. Một mặt, những cán bộ tuyên truyền của “phong trào Cách mạng quốc gia” do Ngô Đình Nhu lập ra đã giới thiệu lý thuyết của E. Mounier một cách phiến diện: một lý thuyết đi tìm con đƣờng thứ ba không thiếu thiện chí nhƣng cũng đầy ảo tƣởng đã bị bẻ quặt một cách cố ý sang con đƣờng thứ nhất để thành một lý thuyết chống Cộng sơ lƣợc và thiển cận. Trong khi đó, những trí thức hiểu biết nhất, tuy không thể không hƣởng ứng chủ trƣơng của một chế độ mà lúc đó họ chƣa nhận ra đầy đủ những nanh vuốt tinh thần của nó, hẳn cũng thấy ngƣợng ngùng khi lên tiếng quảng bá chủ nghĩa này bên cạnh những cán bộ tuyên truyền hạng hai.
Không kể những tài liệu tuyên truyền cuả “Trung tâm Nhân vị” ở Vĩnh Long, ngay những công trình nghiên cứu về Mounier và chủ nghĩa nhân vị lúc đó, nhƣ Học
thuyết xã hội nhân vị của Lê Thành Trị (1956), Những nhà văn hoá mới cuả Nguyễn Nam Châu (1958), giá trị thực sự còn lại cũng rất ít. Lý Chánh Trung từng phàn nàn rằng dƣới chế độ Ngô Đình Diệm hầu nhƣ không mấy ngƣời hiểu đƣợc thực chất tƣ tƣởng Mounier, khi mà chính tạp chí Esprit do ông này sáng lập lại bị cấm đoán ở đây. Cho nên, mặc dù có đề cập ở chỗ này chỗ khác vấn đề con ngƣời trong tƣơng quan với yếu tố “nhân vị”, yếu tố “cần lao”, giới trí thức Tây học ở miền Nam lúc đó hầu nhƣ giữ một thái độ “kính nhi viễn chi” với lý thuyết của Mounier. Phải hai năm sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, Lý Chánh Trung mới viết trên tạp chí Hành trình bài E. Mounier, con người cuả đối thoại1, với lời lẽ nồng nhiệt, trong ý hƣớng hoà giải những xung đột ở miền Nam lúc đó, nhằm vận động cho một cuộc cách mạng không cộng sản mà những ngƣời chủ trƣơng tạp chí này đề xuất. Trong khi chủ nghĩa nhân vị đƣợc đón nhận lạnh nhạt nhƣ thế và gần nhƣ bị “xoá sổ” trong đời sống văn hoá miền Nam sau cuộc đảo chính tháng 11-1963, thì chủ nghĩa hiện sinh, đến một cách muộn màng từ quê hƣơng cuả nó sau gần hai thập kỷ, càng ngày càng lôi cuốn một bộ phận lớn trí thức ở đây. Đáp ứng niềm say mê cuả bạn đọc đối với chủ nghĩa hiện sinh, những tờ tạp chí lúc đó nhƣ Đại học, Sáng tạo, Văn, Bách khoa…đều có những bài viết hay số báo đặc biệt về trào lƣu triết học và văn học này cùng những tác gia của nó nhƣ Jean-Paul Sartre, Albert Camus… Hỗ trợ có hiệu quả cho việc tìm hiểu và nghiên cứu đó là nỗ lực dịch thuật ngày càng sâu rộng những đứa con tinh thần của các tác gia hiện sinh. Về lý thuyết là các công trình cuả Nietzsche, Jaspers, Heidegger, Sartre… Về sáng tác là tiểu thuyết, kịch bản văn học của A. Camus, J.-P. Sartre, S. de Beauvoir, F. Sagan…
Từ tháng 10-1961 đến tháng 9-1962, trên tạp chí Bách khoa, dƣới bút hiệu Trần Hƣơng Tử, Trần Thái Đỉnh đã viết một loạt bài giới thiệu chủ nghĩa hiện sinh, về sau đƣợc tập hợp thành chuyên khảo Triết học hiện sinh (NXB Thời mới, Sài Gòn, 1967, tái bản 1968). Văn phong khúc chiết, cách dẫn giải linh hoạt của một ngòi bút am hiểu và có chủ kiến đã khiến cuốn sách của Trần Thái Đỉnh vƣợt ra ngoài ranh giới trƣờng ốc, đến với đông đảo bạn đọc và có một tác động không nhỏ thời ấy. Sau khi trình bày một cái nhìn tổng quan về chủ nghĩa hiện sinh, những đề tài và hai ngành
1 Hành trình số 9, tháng 12-1965. In lại trong Lý Chánh Trung: Ba năm xáo trộn, NXB Nam Sơn, Sài Gòn, 1967.
chính của nó, tác giả đã đi sâu phân tích quan niệm của Kierkegaard, Nietzsche, Husserl, Jaspers, Marcel, Sartre và Heidegger.
Là một linh mục, không có gì khó hiểu khi Trần Thái Đỉnh bày tỏ thiện cảm của mình đối với quan niệm của Kierkegaard, Jaspers, Marcel – những nhà hiện sinh hữu thần, và không che giấu thái độ ác cảm với Nietzsche, Sartre – những nhà hiện sinh vô thần. Ông nhận xét Sartre là ngƣời “lời lẽ hay quá đáng và thiếu tinh thần xây dựng”1. Theo ông, “triết lý của Sartre là triết lý cá nhân, tƣ kỷ, trƣởng giả, ngạo nghễ…”2. Thậm chí, Trần Thái Đỉnh còn gọi Sartre là “bạo tàn, độc ác và thiển cận”, đặc biệt trong vấn đề tƣơng chủ tính, tức là mối quan hệ giữa con ngƣời và tha nhân. Ông tán thành khái niệm tha-ngã, qua đó đề cao cả “cái tôi” lẫn “cái chúng ta” nhƣ G. Marcel luôn nhấn mạnh, trong khi Sartre và Camus thì khẳng định sự cô đơn và ngộ nhận nhƣ một định mệnh mà con ngƣời phải chịu đựng. Theo Trần Thái Đỉnh, triết học Sartre là một thứ “triết học nghẹt thở”, vì nó “không mở cho con ngƣời vƣơn lên tới Thƣợng đế”, là điều mà Jaspers và Marcel luôn đề cập qua khái niệm “siêu việt tính” và “bao dung thể”. Về mặt này, quả là Sartre đã đi theo con đƣờng của F. Nietzsche: “Thƣợng đế đã chết!”. Mà khi Thƣợng đế đã chết, thì con ngƣời không còn gì để bấu víu và đƣợc phép làm mọi sự.
Nhƣ vậy, dƣới mắt nhìn của Trần Thái Đỉnh, triết học Sartre là một thứ triết học phiến diện vì nó đã cắt đứt mối liên hệ của con ngƣời cả về chiều ngang lẫn chiều dọc: về chiều ngang, nó không mở rộng sang tha nhân; về chiều dọc, nó không nâng tầm lên Thƣợng đế. Giới thiệu chủ nghĩa hiện sinh, Trần Thái Đỉnh tỏ ra chịu ảnh hƣởng cách đánh giá của Mounier đối với Sartre. Ngƣời sáng lập chủ nghĩa nhân vị đã gọi triết học Sartre là “triết học thoái thác” (philosophie de dégagement) thay vì là triết học dấn thân (philosophie d’engagement). Theo Mounier, chủ nghĩa hiện sinh hữu thần mới đích thực là hiện sinh chủ nghĩa, còn chủ nghĩa hiện sinh vô thần chỉ là vô hiện sinh chủ nghĩa (inexistentialisme). Và chính Trần Thái Đỉnh xem chủ nghĩa nhân vị của Mounier là “một cố gắng để tổng hợp những ƣu điểm của hai thuyết hiện sinh và mác-xít, đồng thời ra sức tránh những tệ đoan (hiểu là cực đoan – HNP) của
1 Trần Thái Đỉnh: Triết học hiện sinh, NXB Thời mới, Sài Gòn, 1968, tr. 380. 2 Trần Thái Đỉnh: Sđd, tr. 384.
hai thuyết này”1. Sự phê phán tính chất vô thần của Sartre, nhƣ vậy, không phải không có âm hƣởng của chính sách chống vô thần của chế độ Việt Nam cộng hoà lúc đó. Điều đó cũng cắt nghĩa việc lúc đầu Trần Thái Đỉnh không quan tâm lắm đến Heidegger có lẽ vì cho rằng Heidegger là vô thần và tiêu cực, nhƣng sau khi đọc Thư về nhân bản chủ nghĩa thì ông thay đổi thái độ. Ông phát hiện rằng triết học Heidegger là một “tiền môn” của đức tin, hay ít ra nó cũng không trái với đức tin Ky-tô giáo.
Đồng thời, cũng phải thấy rằng, là một tu sĩ và một nhà giáo thuần thành, Trần Thái Đỉnh khó mà chia sẻ nhân sinh quan nhuốm màu bi đát và thái độ nổi loạn của Sartre cũng nhƣ của Simone de Beauvoir và F. Sagan. Ngay những dòng đầu tiên của Triết học hiện sinh, Trần Thái Đỉnh đã viết: “thuyết hiện sinh có chứa đựng rất nhiều mầm mống tốt trộn lẫn với nhiều mầm mống xấu: chính những vẻ tốt đẹp kia đã quyến rũ thanh thiếu niên, nhƣng vì họ chƣa đủ tinh tƣờng để phân biệt, cho nên họ nuốt luôn cả những chất độc pha trộn nơi đó”2. Kết thúc chƣơng “Sartre – hiện sinh phi lý”, Trần Thái Đỉnh còn bình luận: “Sartre thiếu tình yêu, nhƣng ông sống xa hoa, với một gia tài vào hạng lớn. Ngƣời con tinh thần của Sartre là Sagan cũng thuộc hàng trƣởng giả, thừa tiền thừa bạc, đã hƣởng tất cả những gì mà dục tình con ngƣời có thể thèm ƣớc. […] Ngày nay cũng vậy, hễ hết nếp sống trƣởng giả, thì cái nọc hiện sinh của Sartre cũng sẽ hết thời. Dân cần cù Việt Nam đòi một triết học hợp với một sinh hoạt của mình hơn”3. Nghe nhƣ tác giả gần với những nhà đạo đức ngày xƣa và ngày nay luôn kêu gọi tẩy chay văn hoá lai căng để giữ gìn bản sắc dân tộc.
Ông vẫn giữ lập trƣờng và niềm tin đó khi viết chƣơng “Biện chứng pháp ngày nay” trong Biện chứng pháp là gì?. Mặc dù tán thành Sartre và Hyppolite trong cuộc tranh luận với Garaudy và Vigier về phép biện chứng, Trần Thái Đỉnh vẫn chỉ trích quan niệm về con ngƣời của Sartre: “Con ngƣời theo tƣ tƣởng Sartre là con ngƣời vô cùng cô đơn, không bao giờ thông cảm đƣợc với tha nhân: đối với Sartre, tha nhân vẫn giữ y nguyên bộ mặt phi ngã mà Hegel đã mặc cho. Lập trƣờng triết hiện sinh của Sartre đã rõ: con ngƣời chỉ có thể lần lƣợt là đứng nhìn (être-regardant), hoặc là bị nhìn (être-regardé). Không thể nào có hai cùng đứng nhìn, cho nên Sartre luôn bị ám
1 Trần Thái Đỉnh: Sđd, tr. 375. 2 Trần Thái Đỉnh: Sđd, tr. 10. 3 Trần Thái Đỉnh: Sđd, tr. 349.
ảnh bởi tha nhân, sợ tha nhân ăn cắp mất chủ thể tính của ông, sợ tha nhân biến ông thành bị nhìn, tức thành sự vật”1. Nếu Trần Thái Đỉnh chƣa chú ý thích đáng đến vai trò của Heidegger trong sự phát triển của tƣ tƣởng hiện sinh, thì Lê Tôn Nghiêm – lúc đó cũng là một linh mục và giáo sƣ Đại học Văn khoa Sài Gòn – lại dành một sự quan tâm sâu sắc cho triết gia này. Ông đã dành ba công trình khá dày dặn để tìm hiểu triết học Heidegger: Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương (NXB Lá Bối , Sài Gòn, 1970); Đâu là căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger (NXB Trình Bầy, Sài Gòn, 1970). Ở cuốn thứ nhất, tác giả giới thiệu Heidegger nhƣ là lời giải đáp cho những vấn nạn và bế tắc của triết học phƣơng Tây. Ở cuốn thứ hai, trong một phối cảnh rộng hơn theo tiến trình tƣ tƣởng từ thời Cận đại, Lê Tôn Nghiêm đã cho thấy những đóng góp của Heidegger trong việc trả lời những câu hỏi của Kant trong Phê phán lý tính thuần tuý về vấn đề con ngƣời (Tôi có thể biết gì?, Tôi phải làm gì?, Tôi đƣợc phép hy vọng gì?), từ đó tiến đến giải quyết câu hỏi then chốt làm nền tảng cho việc trả lời ba câu hỏi trên: “Thế nào là tính thể con ngƣời”, nhằm đặt nền móng cho khoa nhân thể học (tức nhân học, anthropologie – HNP). Khác với Trần Thái Đỉnh có một văn phong mạch lạc, sáng rõ và dễ tiếp nhận, Lê Tôn Nghiêm lại diễn đạt những vấn đề triết học chuyên sâu khá nặng nề. Cũng khác với Trần Thái Đỉnh, ông thƣờng dõi theo mạch tƣ duy triết học nội tại mà ít liên hệ với bối cảnh đời sống văn hoá bao quanh. Đi sâu vào những vấn đề chuyên biệt và bắt lấy nguồn mạch uyên nguyên của triết lý cũng là hƣớng đi của Tạp chí Tư tưởng – cơ quan luận thuyết của Viện Đại học Vạn Hạnh – khi tổ chức số báo đặc biệt về hiện tƣợng học của Husserl (số 1 bộ mới, ngày 01-6-1969) với những bài viết của Phạm Công Thiện (Hiện tượng học và hiện tượng học Husserl), Ngô Trọng Anh (Vấn đề thực tại trong hiện tượng học Husserl) và Lê Tôn Nghiêm (Môi trường tiên nghiệm trong hiện tượng học Husserl về cuộc đời).
Đến công trình Những vấn đề triết học hiện đại (NXB Ra khơi, Sài Gòn, 1971), Lê Tôn Nghiêm dành một chƣơng viết về “Phong trào hiện sinh với xã hội học”, trong đó ông trình bày chủ nghĩa hiện sinh gắn với lý thuyết xã hội học của Max Weber. Lê Tôn Nghiêm đã dành những lời lẽ nồng nhiệt cho hai ông tổ của triết học
1 Trần Thái Đỉnh: Biện chứng pháp là gì, NXB Văn mới, Sài Gòn, 1973, tr. 199.
hiện sinh: “Kierkegaard và Nietzsche bàng hoàng kinh sợ khi chứng kiến rõ ràng rằng nhân loại đang lăn xuống hố thẳm và hai ông đã cố gắng đánh thức thế giới đang ngủ say. Họ là những nhân vật tối cần cho chúng ta có thể thực hiện đƣợc những kinh nghiệm quyết liệt. Hiện giờ họ vẫn chƣa đạt đƣợc mục tiêu của họ là đánh thức nhân loại dậy”1. Sau đó, tác giả phân tích bốn chi lƣu của chủ nghĩa hiện sinh mà ông định danh là: triết học về tính thể của Heidegger, triết học về sinh hoạt cảm xúc của Scheler, hữu thể học có tính hiện tƣợng luận của Sartre và triết học hiện tƣợng luận lƣỡng tính của Merleau-Ponty.
So với Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm ít có thiên kiến với những nhà hiện sinh vô thần và ông cũng trình bày chủ nghĩa hiện sinh trong tƣơng quan với chủ nghĩa Marx một cách thanh thản. Chẳng hạn, ông viết: “Một cách tổng quát, Merleau-Ponty đã nhìn lý thuyết mác-xít nhƣ một phƣơng thức lý thuyết rất hùng hậu, nhƣng nó phải đƣợc sử dụng để tiện lợi cho công cuộc khám phá thêm và phải đƣợc duyệt xét lại theo ánh sáng của những điều kiện lịch sử khác nhau khi đem áp dụng ở đó”2. Cùng giảng dạy ở Ban Triết học phƣơng Tây của Trƣờng Đại học Văn khoa Sài Gòn nhƣ Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm và là khoa trƣởng trƣờng này vào những năm cuối của cuộc chiến tranh, Lê Thành Trị đã biên soạn chuyên khảo Hiện tượng luận về hiện sinh (Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xb, Sài Gòn, 1969; Trung tâm học liệu Bộ Văn hoá Giáo dục và Thanh niên tái bản, Sài Gòn, 1974). Mô phỏng nhan đề hai tác phẩm Hiện tượng luận về Tinh thần của Hegel và Hiện tượng luận về tri giác của Merleau-Ponty, cuốn sách này gây cho ngƣời đọc cảm tƣởng rằng tác giả vận dụng hiện tƣợng luận để mô tả hiện sinh con ngƣời, nhƣng thực chất đây là một tổng kết về diễn trình của triết học hiện sinh, từ ý nghĩa tổng quát của nó đến sự biểu hiện ở những triết gia tiêu biểu: Kierkegaard, Nietzsche, Jaspers, Sartre, Heidegger.
Tác giả Hiện tượng luận về hiện sinh vừa kết hợp giới thiệu cuộc đời và hành trạng của các triết gia, vừa phân tích những đặc trƣng tƣ tƣởng của họ. Chẳng hạn trong chƣơng “J.-P. Sartre hay là tiếng sét đêm trƣờng đến giấc mơ đại đồng cho nhân loại”, có các tiểu mục: “Ngƣời con hoang đàng”, “Tính tình và nhân cách”, “Văn nghiệp của Sartre”, “Trên con tàu hƣ vô”, “Ý thức là khởi điểm”, “Thổi hƣ vô vào vũ
1 Lê Tôn Nghiêm: Những vấn đề triết học hiện đại, NXB Ra khơi, Sài Gòn, 1971, tr. 158. 2 Lê Tôn Nghiêm: Sđd, tr. 209.
trụ”… Sau những tiêu đề có tính chất “văn chƣơng” nhƣ vậy là những nội dung khá chuyên sâu và chi tiết. Theo chỗ chúng tôi đƣợc biết, cuốn sách này của Lê Thành Trị chỉ có tác động hạn chế trong phạm vi nhà trƣờng đại học, chứ không gây ảnh hƣởng sâu rộng nhƣ những cuốn sách của Trần Thái Đỉnh và nhất là của Nguyễn Văn Trung. Trƣớc và sau đó, Lê Thành Trị đã công bố L’Idée de la Participation chez Gabriel Marcel (1961), Luận lý toán học đại cương (1966), Đường vào triết học (1971)…, nhƣng có lẽ Hiện tượng luận về hiện sinh là công trình đỉnh cao của ông.
Nói đến chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam, cần phải dành một chỗ quan trọng cho Nguyễn Văn Trung, không chỉ vì ông là một trong những giáo sƣ triết học viết nhiều về trào lƣu này mà còn vì các tác phẩm của ông có một tiếng vang lớn trong những năm tháng đó. Có thể nói Nguyễn Văn Trung là nhịp cầu chính dẫn chủ nghĩa hiện sinh đi vào xã hội miền Nam và toả ra đến tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên. Cùng làm việc với Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lê Thành Trị ở Ban Triết học phƣơng Tây thuộc Trƣờng Đại học Văn khoa Sài Gòn, nơi mà ông từng giữ cƣơng vị Trƣởng ban và Khoa trƣởng, Nguyễn Văn Trung không có một chuyên khảo riêng về chủ nghĩa hiện sinh nhƣ những đồng nghiệp nói trên. Nhƣng tƣ tƣởng hiện sinh, đặc biệt là tƣ tƣởng J.-P. Sartre, bàng bạc và thấm đẫm trong hầu hết những công trình nghiên cứu triết học và văn học cũng nhƣ những bài báo của Nguyễn Văn Trung, thể hiện cả trong thái độ chính trị và những hoạt động xã hội của ông.
Cũng là ngƣời Ky-tô hữu nhƣ Trần Thái Đỉnh, nhƣng Nguyễn Văn Trung có một lập trƣờng khác hẳn về chủ nghĩa hiện sinh. Nếu ngƣời trƣớc thiên về chủ nghĩa hiện sinh hữu thần, thì ngƣời sau ngả về chủ nghĩa hiện sinh vô thần. Sau khi du học ở châu Âu về nƣớc, trong những bài báo đầu tiên trên tạp chí Đại học, Nguyễn Văn Trung đã quảng bá và vận dụng chủ nghĩa hiện sinh vào việc phân tích, đánh giá một số hiện tƣợng văn nghệ. Sau đó, trong những công trình Triết học tổng quát, Đưa vào triết học, Lược khảo văn học, Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết…, ông đã nhiều lần giới thiệu tƣ tƣởng J.-P. Sartre.
Bạn đọc miền Nam làm quen với những khái niệm “dấn thân”, “chọn lựa”, “nguỵ tín”… một phần là nhờ những cuốn sách nhập môn triết học của Nguyễn Văn Trung. Về lý luận văn học, chắc chắn ông đã tham khảo Qu’est-ce que la littérature? của J.-P. Sartre khi viết Lược khảo văn học (tập I: Những vấn đề tổng quát): cuốn trên đặt vàgiải quyết vấn đề viết là gì, viết để làm gì, viết cho ai; thì cuốn dƣới mở rộng thêm: viết là gì, viết cái gì, tại sao viết, viết thế nào, viết cho ai. Tất nhiên, về mặt lý thuyết, Nguyễn Văn Trung không chỉ vận dụng Sartre mà còn giới thiệu tƣ tƣởng văn học của Heidegger, Barthes…Về mặt thực tiễn, ông luôn bám sát để soi sáng những hiện tƣợng văn học Việt Nam. Cũng vậy, trong tập II (Ngôn ngữ văn chƣơng và kịch) và tập III (Nghiên cứu và phê bình văn học), Nguyễn Văn Trung giới thiệu những quan niệm của Sartre bên cạnh những quan niệm của P. Valéry, A. Robbe-Grillet, Ch. Mauron, G. Bachelard, L. Goldmann… trong ý hƣớng vận dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra từ lịch sử văn học. Có thể nói, cho đến thời điểm ấy, ở nƣớc ta, đây là bộ sách lý luận văn học cập nhật những tƣ tƣởng hiện đại một cách hệ thống nhất. Ra đời trƣớc bộ Lược khảo văn học, chuyên khảo Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết, khi bàn về nhân vật và quan niệm về con ngƣời, cuộc đời trong tiểu thuyết, đã khái quát thành ba quan niệm chủ yếu: (1) niềm tin có con ngƣời, (2) hoài nghi con ngƣời và (3) vắng bóng con ngƣời. Quan niệm thứ hai chính là của các nhà văn hiện sinh. Để dẫn chứng về nội dung và kỹ thuật thể hiện của quan niệm đó, tác giả đã phân tích Buồn nôn của Sartre và Kẻ xa lạ của Camus. Ảnh hƣởng của phân tâm học hiện sinh cũng để lại dấu vết khá rõ trong Ca tụng thân xác, Ngôn ngữ và thân xác của Nguyễn Văn Trung.
Với Nguyễn Văn Trung, Sartre không chỉ là một đối tƣợng nghiên cứu mà còn là một chỗ dựa tinh thần, một nguồn chia sẻ và lời giải đáp cho những vấn đề của con ngƣời tại thế, trong hoàn cảnh sống cụ thể. Trong bài Sartre trong đời tôi, ông viết: “Sartre khao khát tìm ra một triết học đem tới cho cuộc đời trƣớc mặt một ý nghĩa đích thực. Nói cách khác, Sartre coi triết học là một cái gì quan trọng, cần thiết, gắn liền với đời sống; không phải chỉ là một thứ đấu võ lý luận hay suy tƣởng trừu tƣợng”1. Ông đã tìm thấy ở Sartre một hƣớng suy nghĩ phù hợp với ngƣời trí thức dấn thân: “Chúng ta không có thời đại nào khác, ngoài thời đại hiện nay của chúng ta. Có thể có thời đại khác thanh bình hơn, đẹp hơn, nhƣng đó không phải thời đại của ta, thời đại có chiến tranh nóng lạnh giữa hai khối, thời đại có mối đe doạ thƣờng xuyên của bom nguyên tử, thời đại đế quốc chủ nghĩa, thực dân xâm lăng… Chúng ta không
1 Nguyễn Văn Trung: Sartre trong đời tôi, Bách khoa số 267-268, ngày 15-02 và 01-3-1968, tr. 32.
có quyền lựa chọn hoàn cảnh, thời đại, nhƣng chỉ có thể lựa chọn trong hoàn cảnh, thời đại của ta”1. Việc tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh của Nguyễn Văn Trung và một số trí thức khuynh tả ở miền Nam cũng là một quá trình tƣơng ứng với hai giai đoạn phát triển trong tƣ tƣởng của Sartre. Giai đoạn đầu gắn liền với những bài viết của Nguyễn Văn Trung khi cộng tác với tạp chí Đại học và những công trình biên khảo trƣớc 1965, có thể thấy rõ ảnh hƣởng của những suy tƣ triết học trong Hữu thể và hư vô. Giai đoạn sau gắn liền với những hoạt động làm báo Hành trình, Đất nước, đậm nét ảnh hƣởng của Phê phán lý trí biện chứng và các tạp chí Les Temps modernes, J’accuse. Quá trình thay đổi đó trong thái độ của Nguyễn Văn Trung đối với Sartre không hẳn là một sự cắt đứt hay gián đoạn trong nhận thức mà là một sự vận động có sự tác động của chính hoàn cảnh, tƣơng tự nhƣ thái độ của Sartre đối với Flaubert.
Chính là trong cảm hứng gợi lên từ tƣ tƣởng dấn thân của Sartre và phần nào tƣ tƣởng phản kháng của Camus mà Nguyễn Văn Trung và những ngƣời cùng khuynh hƣớng trong các tạp chí Hành trình, Đất nước, Trình bầy đã chọn lựa tƣ thế của những ngƣời trí thức dấn thân và phản kháng tiêu biểu ở miền Nam. Nhƣ một phát biểu của Sartre khi trả lời phỏng vấn của báo Le Point: “Tôi không tin rằng ngƣời ta có thể là một ngƣời trí thức mà không tả”2. Quả thật là một điều kỳ lạ: trong khi các nhà nghiên cứu ở miền Bắc thƣờng nhìn thấy chủ yếu ở Sartre khía cạnh phi mác-xít, thì ở miền Nam những ngƣời trí thức khuynh tả lại tìm thấy ở Sartre một chỗ dựa và một nguồn động viên để đến gần với cuộc đấu tranh dân tộc do những ngƣời cộng sản lãnh đạo. Không phải là ngẫu nhiên, khi trên số báo cuối cùng của tạp chí Trình bầy, sau những kỳ bị tịch thu liên tục và trƣớc khi phải đình bản vì sắc luật 007 của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, chủ nhiệm kiêm chủ bút Thế Nguyên đã cho đăng lại bản dịch Văn học của những tình thế cực đoan, trích từ Situations II của J.-P. Sartre3.
Tuy nhiên, trong phong trào hoà bình, dân tộc và dân chủ lúc đó, những ngƣời trí thức khuynh tả ngày càng thấy chủ nghĩa hiện sinh là cái áo quá chật đối với những suy tƣ của họ về thời cuộc, đất nƣớc và con ngƣời. Nguyễn Ngọc Lan và Lý Chánh Trung bận bịu với những bài bình luận chính trị nóng hổi tính thời sự, hầu nhƣ không
1 Nguyễn Văn Trung: Bđd, Bách khoa số 269-270, này 15-3 và 01-4-1968, tr. 19. 2 Jean-Paul Sartre: Trí thức và cách mạng, Trình bầy số 14, ngày 15-02-1971. 3 Trình bầy số 42, ngày 02-9-1972.
viết gì về chủ nghiã hiện sinh. Một số cây bút thuộc thế hệ trẻ hơn vừa trân trọng phẩm chất trí thức của Sartre, vừa kháng cự lại những ảo tƣởng của chủ nghĩa hiện sinh. Nguyễn Trọng Văn nhìn thấy văn chƣơng hiện sinh nhƣ một thứ “làm dáng trí thức” và cảnh báo về hậu quả không mong muốn của sự truyền bá chủ nghĩa hiện sinh, qua hình ảnh “những ngƣời con hoang của Nguyễn Văn Trung”. Thế Nguyên phê phán văn chƣơng hiện sinh nhƣ là hệ quả của tính chất snốpbít trong xã hội miền Nam.
Sau hơn 30 năm nhìn lại, một cách tổng quát, có thể nói chủ nghĩa hiện sinh đã để lại ảnh hƣởng trong đời sống xã hội miền Nam ở ba bình diện sau đây:
Một, trên bình diện lý thuyết triết học và văn học: chủ nghĩa hiện sinh gắn liền với sự hình thành một đội ngũ những nhà nghiên cứu, chủ yếu trong giới đại học, thuộc hai thế hệ: thế hệ thứ nhất với Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lê Thành Trị, Tam Ích…; thế hệ thứ hai với Vũ Đình Lƣu, Thế Phong, Nguyễn Trọng Văn, Đặng Phùng Quân, Huỳnh Phan Anh, Trần Xuân Kiêm, Trần Công Tiến, Nguyễn Quốc Trụ, Trần Nhựt Tân, Nguyễn Nhật Duật…Có lẽ chƣa và sẽ không có giai đoạn nào ở nƣớc ta mà chủ nghĩa hiện sinh đƣợc nghiên cứu sâu rộng, dƣới nhiều góc độ nhƣ vậy. Và chúng tôi mạo muội nghĩ, trong thời điểm đó, có lẽ ít có xứ sở nào ngoài Âu Mỹ mà chủ nghĩa hiện sinh đƣợc nghiên cứu kỹ lƣỡng đến mức ấy. Tuy nhiên, về mặt phê bình hiện sinh, chƣa có nhiều công trình đặc sắc. Những tác phẩm của Lê Tuyên, Đỗ Long Vân chủ yếu là vận dụng phân tâm học hiện sinh soi sáng thế giới nghệ thuật của những nhà thơ cổ điển, chứ không phải là phê bình trực tiếp những sáng tác văn học đƣơng thời.
Hai, trên bình diện sáng tác văn học: chủ nghĩa hiện sinh đã đem lại cho văn học miền Nam những thay đổi đáng kể, với quan niệm nghệ thuật về con ngƣời cô đơn trong một thế giới phi lý, với ngôn ngữ và kỹ thuật mô tả hiện tƣợng luận. Đây có thể là ảnh hƣởng tự phát, nhƣng cũng có thể là ảnh hƣởng tự giác, ở những nhà văn trực tiếp đọc lý thuyết và sáng tác văn học hiện sinh Tây Âu. Đây là nhận xét của Cung Tích Biền, một ngƣời trong cuộc: “Do có đồng khí tƣơng cầu, chủ nghĩa hiện sinh đã có đất gieo mầm tại miền Nam một thời. Nó là dòng chảy, từ tƣ duy đến hành động, thái độ sống; nơi mỗi cá thể thành những tập thể quần chúng; từ cục bộ trí thức đã lan toả đến một tầng lớp xã hội; ảnh hƣởng trực tiếp đến nhiều lãnh vực văn
chƣơng nghệ thuật, âm nhạc, hội họa”1. Chúng tôi có cảm nhận là trên bình diện sáng tác, độc giả Sài Gòn đọc Camus nhiều hơn Sartre và do đó, ảnh hƣởng của Camus về mặt nghệ thuật có lẽ sâu sắc hơn. Phạm Công Thiện tinh tế khi nhận xét rằng “về con ngƣời thì Sartre cho rằng hiện hữu có trƣớc yếu tính (L’existence précède l’essence), nhƣng về nghệ thuật văn nghệ thì Sartre gián tiếp cho rằng yếu tính có trƣớc hiện hữu (L’essence précède l’existence)”2. Nói theo ngôn ngữ ngày nay, thì sáng tác của Sartre phần nào có yếu tố minh họa cho triết học. Ba, trên bình diện thái độ sống: ảnh hƣởng của chủ nghĩa hiện sinh cũng hết sức phức tạp. Một mặt, không thể chối cãi rằng nó dẫn đến phản ứng “nổi loạn”, “tận hƣởng cuộc đời” của một bộ phận thanh niên nông nổi không tìm thấy đƣờng đi trong chiến tranh, nhƣ Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Trọng Văn đã từng chỉ ra. Mặt khác, cũng phải thừa nhận rằng nó gợi lên những suy tƣ, trăn trở về thân phận con ngƣời, ý thức trách nhiệm trƣớc tình cảnh đất nƣớc và chọn lựa thái độ ứng xử cũng nhƣ hành động nhập cuộc vì tha nhân. Có thể nói chủ nghĩa hiện sinh đã đáp ứng nỗi ƣu tƣ của con ngƣời và khao khát tự khắng định khuôn mặt tinh thần của mình trong điều kiện nƣớc sôi lửa bỏng của dân tộc, đòi hỏi ngƣời trí thức không thể đứng “bên dòng lịch sử”. Họ đã sống cái triết lý đó chứ không phải làm công việc dịch thuật hay thông tin thuần túy bằng ngôn ngữ lãnh đạm của học thuật. Từ những ảnh hƣởng trên bình diện lý thuyết nhƣ khuôn khổ mà bài viết này tự giới hạn, có thể rút ra những nhận xét gì?
Thứ nhất, có thể khẳng định rằng đại học miền Nam, tập trung là các trƣờng Đại học Văn khoa Sài Gòn và Huế, Viện Đại học Đà Lạt, Viện Đại học Vạn Hạnh, đóng một vai trò rất quan trọng. Việc giới thiệu và giảng dạy rộng rãi, đa dạng các khuynh hƣớng triết học và văn học hiện sinh, một phần thỏa mãn nhu cầu có tính thời thƣợng của công chúng, phần khác đáp ứng một đòi hỏi về kiến thức toàn diện mà đại học trang bị cho sinh viên. Trên thực tế, Nguyễn Văn Trung không chỉ nghiên cứu, giảng dạy về chủ nghĩa hiện sinh mà cả về triết học Phật giáo (Biện chứng giải thoát trong Phật giáo), Marx (Nhận diện Marx), Lenin (Bài học cách mạng của Lenin), Althusser (Đọc Althusser)… Cũng vậy, Trần Thái Đỉnh còn nghiên cứu, giảng dạy về triết học
1 Cung Tích Biền: Hiện sinh, một thời kỷ niệm. Trong Về một dòng văn chương, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr. 69. 2 Phạm Công Thiện: Ý thức mới trong văn nghệ và triết học, NXB An Tiêm, Sài Gòn, 1966, tr. 46.
Descartes, Kant, biện chứng pháp Platon, Hegel, Marx… Lê Tôn Nghiêm còn viết về Socrate, triết học cổ đại và trung đại… Việc phổ biến chủ nghĩa hiện sinh trong bối cảnh một nền đại học mới xây dựng muốn cập nhật những tƣ tƣởng phƣơng Tây hẳn là điều dễ hiểu. Thứ hai, có những sự phân hóa rất lớn trong việc tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam. Theo chúng tôi, ít nhất cũng có đến ba sự phân hóa. Một, là sự phân hóa giữa những ngƣời tán dƣơng chủ nghĩa hiện sinh hữu thần với những ngƣời ủng hộ chủ nghĩa hiện sinh vô thần. Tất nhiên đây không phải là sự phân hóa dứt khoát, với ranh giới tuyệt đối theo nghĩa đã chọn Kierkegaard thì không chọn Nietzsche, đã Marcel thì không Sartre, hay ngƣợc lại. Hai, là sự phân hóa giữa những ngƣời tán thành chủ nghĩa hiện sinh vô thần trong thái độ với Sartre và Camus. Những ngƣời khuynh hữu chia sẻ quan đỉểm triết học và văn nghệ của Camus hơn là Sartre. Những ngƣời khuynh tả thì ngƣợc lại. Ba, là sự phân hóa giữa chính những ngƣời yêu thích Sartre: một phía tìm cách nối dài văn chƣơng phi lý, hƣ vô; phía kia thì đẩy lý thuyết dấn thân đến hành động trong một quan niệm “tri hành hợp nhất”.
Thứ ba, nhƣ một hệ quả của tình hình đó, là sự chuyển hóa và đa dạng trong cách nhìn và tiếng nói lý giải chủ nghĩa hiện sinh. Chẳng hạn trong vấn đề con ngƣời, có những cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau giữa những ngƣời nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh. Ở cuối thập niên 50, Nguyễn Nam Châu đề cao Marcel, Mounier và xếp Sartre, Camus vào “văn nghệ nhân bản duy vật” (Sứ mệnh văn nghệ, NXB Đại học, Huế, 1958). Nhƣng đến cuối thập niên 60, Đặng Phùng Quân giới thiệu trân trọng Marcel mà không thấy nhất thiết phải quy kết Sartre (Hiện hữu tha nhân với Gabriel Marcel, NXB Đêm Trắng, Sài Gòn, 1969). Lý Chánh Trung viện dẫn nhiều Marcel để làm căn cứ cho sự hòa giải giữa đức tin Ky-tô giáo và tinh thần dân tộc (Tôn giáo và dân tộc, NXB Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1973). Từ góc độ đạo đức luận, Vũ Đình Lƣu nghiêng về Camus hơn Sartre vì cho rằng Camus “có cái khôn ngoan lịch lãm của Đông phƣơng”1. Đi tìm những dị điểm và đồng điểm giữa chủ nghĩa hiện sinh và triết học phƣơng Đông, triết học Phật giáo cũng là nỗ lực của nhiều học giả nhƣ Tam Ích, Thích Đức Nhuận, Bùi Giáng, Tuệ Sỹ, Ngô Trọng Anh… Ngƣời giải quyết vấn đề con ngƣời và tha nhân uyển chuyển và thỏa đáng nhất, theo thiển ý,
1 Vũ Đình Lƣu: Nền tảng đạo đức luận của Sartre và Camus, Văn số 25, 1965, tr. 39.
chính là Trần Văn Toàn. Trong hai cuốn sách Xã hội và con người (NXB Nam Sơn, Sài Gòn, 1965), Tìm hiểu đời sống xã hội NXB Nam Sơn, Sài Gòn, 1967), ông đã thể hiện một cuộc đối thoại triết lý thầm lặng và hòa nhã giữa chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa Marx và rút ra những đúc kết từ tinh hoa của cả hai.
Nhƣ vậy là chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam đã đƣợc tiếp cận từ nhiều cách nhìn khác nhau, những cách nhìn chắc chắn không thoát khỏi sự tác động của bối cảnh xã hội cũng nhƣ lập trƣờng chính trị của ngƣời viết, nhƣng hầu hết đều cho thấy tinh thần độc lập và tự trọng của ngƣời trí thức, nói theo những suy nghĩ riêng của mình mà không rập khuôn, một giọng.
Chủ nghĩa hiện sinh là triết học của một thời đại không lặp lại. Việc tiếp nhận, truyền bá, vận dụng nó cũng là “cơ duyên” của lịch sử. Nó đã đến trong cái bối cảnh bi đát của xã hội miền Nam những năm 1954-1975, khi con ngƣời khao khát tự do và quyền sống mong muốn suy tƣ về chính tự do và thân phận làm ngƣời. Sau chiến tranh, hoàn cảnh xã hội đã thay đổi, chủ nghĩa hiện sinh không còn chỗ đứng trong sinh hoạt trí thức.
Nhƣng đến cuối những năm 80, vấn đề con ngƣời lại thu hút những ngƣời cầm bút, âm hƣởng hiện sinh lại đƣợc dấy lên trong sáng tác, đặc biệt của những nhà văn trẻ. Có thể nói những ray rứt hiện sinh, trong khung cảnh một đời sống hòa bình với nhiều nghịch cảnh, đã trở lại bằng con đƣờng hình tƣợng. Cùng với điều đó, sáng tác của Sartre, Camus… đƣợc hòa nhập vào đời sống văn học, nhƣ những thành tựu khác của văn học thế giới. Chậm hơn một bƣớc, ngƣời ta thấy có nhu cầu đọc lại chủ thuyết này trên bình diện lý luận. Có lẽ đó là lý do dẫn đến việc tái bản những cuốn sách của K. Jaspers (Triết học nhập môn), M. Heidegger (Tác phẩm triết học), Trần Thái Đỉnh (Triết học hiện sinh), Lê Tôn Nghiêm (Đâu là căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger), Nguyễn Văn Trung (Ca tụng thân xác), Bùi Giáng (Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại)… Việc xuất hiện lại trong muộn màng những cuốn sách đó là một dấu hiệu tốt đẹp cho đời sống văn hóa tinh thần của đất nƣớc. Nhƣng hoàn cảnh đã khác, tâm thế con ngƣời cũng khác, thì việc đọc lại những công trình ấy chắc hẳn sẽ dẫn ngƣời ta đến những thu hoạch khác với giai đoạn 1954-1975.
HUỲNH NHƢ PHƢƠNG

NGUYỄN BẮC SƠN

Thứ Tư, ngày 05 tháng 8 năm 2015


Nhà Thơ Nguyễn Bắc Sơn Đã Ra Đi Tại Phan Thiết, VN



Mai ta đụng trận ta còn sống

Về ghé sông Mao phá phách chơi

Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm

Đốt tiền mua vội một ngày vui

Ngày vui đời lính vô cùng ngắn

Mặt trời thoắt đã ở phương Tây

 **Bài thơ làm sau 1975

Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc

Vô tình ngang một quán cà phê

Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn

Mải mê tán dóc chẳng cho về


Về đâu, đâu cũng là đâu đó

Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ
Ba nghìn thế giới cũng chưa to   
Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, từng nổi tiếng trước năm 1975 với những bài thơ “ngông” vừa từ trần tại tư gia ở thành phố Phan Thiết, Việt Nam, vào sáng ngày 4 tháng 8 năm 2015, theo tin của Báo Tuổi Trẻ Online hôm Thứ Ba cho biết.

Bản tin báo Tuổi Trẻ viết rằng, “Theo tin từ nhà thơ Nguyễn Như Mây - một bạn thơ đồng hương Bình Thuận, nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn trong 2-3 năm nay bị bệnh suy tim, gần đây trở nặng và đã ra đi vào 9g sáng nay, 4-8, tại nhà riêng (43/17 đường Trần Lê, Phường Đức Long, TP. Phan Thiết). Hiện linh cữu nhà thơ quàn tại nhà, gia đình đang chuẩn bị tang lễ và chưa có thông tin lễ viếng cụ thể.”

Cũng theo báo Tuổi Trẻ thì “Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn tên thật Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1944 tại Phan Thiết,...”

Báo Tuổi trẻ cũng cho biết thêm chi tiết về tang lễ của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn như sau:

“Theo tin từ gia đình, 19g ngày 4-8 sẽ làm lễ nhập quan nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, lễ viếng bắt đầu ngay sau đó đến hết ngày 5-8. 6g ngày 6-8 sẽ di quan nhà thơ hỏa thiêu tại Vũng Tàu.”

Nhà văn Đặng Tiến, trong bài viết về Nguyễn Bắc Sơn được đăng trên trang mạng Thơ Tân Hình Thức vào năm 2005, nói về nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn trước và sau năm 1975. Trong đó xin được trích mấy đoạn sau đây để tưởng niêm đến nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn.

“Vào khoảng 1970, khi thơ Nguyễn Bắc Sơn xuất hiện và gây ngạc nhiên, nhiều người cho rằng có hơi hướm thơ Quang Dũng, có lẽ vì đề tài chiến tranh và lời thơ bi tráng. Nhưng xét kỹ thì không đúng: thơ Quang Dũng lãng mạn và lý tưởng, thơ Nguyễn Bắc Sơn ngược lại, phi lãng mạn và phi lý tưởng. So với các nhà thơ khác, mà chúng tôi vừa trích dẫn, thơ Nguyễn Bắc Sơn cũng có nét khu biệt, là chất bụi đời, mà nhà thơ tự cho là “du đãng”. Tống Biệt Hành là thơ để đời; Nguyễn Bắc Sơn là thơ bụi đời. Độc Hành Ca là loại thơ “miếu đền”, Nguyễn Bắc Sơn là thơ lề đường, quán sá. Xã hội, hoàn cảnh Miền Nam thời đó đã tạo một nguồn cảm hứng như thế và chỗ đứng cho một thể loại bất cần đời như thế. Và dư luận thời đó, của những nhà văn tên tuổi có thế lực văn học, lập trường chính trị vững vàng, như Võ Phiến trên Bách Khoa, Chu Tử trên báo Sống, Doãn Quốc Sĩ trên báo Văn, đã đồng loạt hoanh nghênh.

Sau 1975 Nguyễn Bắc Sơn có bài Một Ngày Nhàn Rỗi:

Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc
Vô tình ngang một quán cà phê
Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn
Mải mê tán dóc chẳng cho về
Về đâu, đâu cũng là đâu đó
Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ
Ba nghìn thế giới cũng chưa to

Vẫn một giọng thơ, một cốt cách, một phong thái. Võ Phiến, hai mươi năm sau cuộc chiến, có đủ bình tâm và khoảng cách để nhìn lại thơ văn và tâm tình một thời đại và thông hiểu thấu đáo hiện tượng Nguyễn Bắc Sơn, trước sau như nhất, “cũng cái ngông nghênh ấy”:

“Ngày trước trong chiến tranh, ông kể chuyện chơi trò nổ súng cắc cù rất độc đáo; ngày nay hòa bình thiên hạ hớt hơ hớt hải lăn xả vào cuộc giành giật đồng tiền, thì ông nói chuyện hớt tóc cạo râu: lại rất độc đáo.

Thành thử giữa ông Nguyễn Bắc Sơn trong chiến tranh và ông Nguyễn Bắc Sơn sau chiến tranh vẫn có một chỗ nhất trí. Tuy hai mà một. Do hoàn cảnh khác nhau nên đề tài câu chuyện khác nhau; nhưng phong thái vẫn một thôi. Phong thái ấy khiến cho thời chiến ông là kẻ phản chiến, thời bình ông thành kẻ phản lao động. Thực ra thơ ông phát biểu về một thái độ sống, không phải chỉ là một thái độ đánh nhau hay một thái độ làm lụng. Sống là nhẹ, không phải chỉ riêng: đánh nhau là giỡn, là nhẹ. Đời không có nghĩa phải quấy. Một khi đời đã không có nghĩa, thì mọi hoạt động ở đời (kể cả chiến tranh) đều vô nghĩa. Hoặc giả nó có được trao cho ý nghĩa thì ông cũng không lý đến. Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ; bắn nhau cắc cụp lỡ có trúng đạn chết tươi cũng là chuyện nhỏ thôi”.(1994)” (ngưng trích) (nguồn: http://www.thotanhinhthuc.org)

*******



Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi


Nguyễn Bắc Sơn


Lòng suối cạn phơi một bầy đá cuội
Rừng giáp rừng gió thổi cỏ lông măng
Đoàn quân anh đi những bóng cọp vằn
Gân mắt đỏ lạnh như tiền sắc mặt
Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng chân đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời …
Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic
Kẻ thù ta ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo
Hãy tránh xa ra ta xin tí điều
Lúc này đây ta không thèm đánh giặc
Thèm uống chai bia thèm châm điếu thuốc
Thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh
Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình
Ăn muối đá mà hăng say chiến đấu
Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm chi cho lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu
Những cột khói giả rừng thiêng uốn khúc
Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết
Và máu xương làm phân bón rừng hoang.

*******



Mật Khu Lê Hồng Phong


Nguyễn Bắc Sơn


Tướng giỏi cầm quân trăm trận thắng
Còn ngại hành quân động Thái An
Cát lún bãi mìn rừng lưới nhện
Mùa khô thiếu nước lính hoang mang
Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui
Ngày vui đời lính vô cùng ngắn
Mặt trời thoắt đã ở phương Tây
Nếu ta lỡ chết vì say rượu
Linh hồn chắc sẽ thành mây bay
Linh hồn ta sẽ thành đom đóm
Vơ vẩn trong rừng động Thái An
Miền Bắc sương mù giăng bốn quận
Che mưa giùm những đám xương tàn.

*******



Người Hoa Khôi Áo Rách


Nguyễn Bắc Sơn


rồi một hôm gió bấc có ai ngờ
ai lãng đãng ngờ chi cơn gió bấc
cây bạch đàn trước cửa nhà em đang còn hay đã mất
sao anh hình dung như có vết thương
đang loang ra trong vũng nước vô thường
truyền tín hiệu đến ngậm ngùi vô tận
anh có nghe chuyện đời em lận đận
những chuyến đi buôn những chuyến xe đò
tiếng nói sau lưng lời chua chát nhỏ to
dòng lệ em khô nhưng vẫn là dòng lệ mặn
đã qua chưa ôi cái thời đăng đẳng
đứng bên kia sông cũng ngó thấy điêu tàn
băng giá chuyển mình băng giá mau tan
tiếc câu thơ anh không đủ làm cho đời em ấm cúng
tiếc loài người bày ra xích xiềng huyển mộng
đến nỗi quên mình là hạt giống vô biên
câu chuyện tình như ngọn gió miên miên
thổi ấm Kinh Thi thổi lạnh hồn Kinh Dịch

*******



TIỄN BIỆT NGUYỄN BẮC SƠN


Nguyễn Lương Vỵ


Bạn đã về với diệu âm bay
Phan Thiết nắng rưng rưng sáng nay
Chớm thu chưa lạnh trời phương ấy
Mà buốt lòng ta ở chốn này
Mà nhớ lắm câu thơ bạt mạng
Một thời sặc máu của quê hương
Hồ trường say ngất trời ưu hận
Ngâm tràn cho đỡ bớt bi thương
Mà nhớ lắm câu thơ bầm dập
Một thời khô huyết của ly tan
Chiến tranh? Dấu hỏi không lời đáp
Chỉ có mồ ma réo ngập tràn
Mà nhớ lắm câu thơ phiêu hốt:
Mắt người như cánh hoa sen xanh (*)
Diệu âm Bát Nhã Ba La Mật
Hẹn sẽ về cùng bạn hòa thanh.

Calif. 2:30 AM, 04.08.2015

Ghi Chú:

Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn (tên thật là Nguyễn Văn Hải), sinh năm 1944 tại Phan Thiết, từ trần lúc 9 giờ sáng ngày 04.08.2015 tại quê nhà (theo tin từ nhà thơ Võ Chân Cửu qua email). 2 tập thơ tiêu biểu: Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi (NXB Đồng Dao, Sài Gòn, 1972)- Ở Đời Như Một Nhà Thơ Đông Phương (NXB Trẻ, Sài Gòn, 1995).

(*) Mắt người như cánh hoa sen xanh
Mắt của rừng nai mắt của tình
Một sáng ta về ngây ngất nhớ
Âm thầm thu phát những âm thanh.
(Diệu Âm - Nguyễn Bắc Sơn)

Nguồn : Viêt báo on line

TIN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 
Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ thăm Đức Tăng thống Thích Quảng Độ

RFA

2015-08-06










Tin từ Văn phòng đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tại Paris cho biết ông Tom Malinowski, Trợ lý Ngoại trưởng đặc trách Dân chủ Nhân quyền và Lao động đã ghé thăm Thượng Phụ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền viện, thành phố Hồ Chí Minh, nơi Đức Tăng thống bị quản thúc tại chùa trong nhiều năm qua.
Đi cùng với ông Tom Malinowski là Bà Rena Bitter Tổng Lãnh sự Mỹ, trợ lý đặc biệt Rodney Hunter và Charles Sellers, trưởng phòng Chính Trị Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh.
Cuộc gặp gỡ diễn ra vào sáng thứ Tư ngày 05 tháng 8 trong hơn một giờ. Đức Tăng thống Thích Quảng Độ cho biết là trong tinh thần rất cởi mở và thân mật. Đức Tăng thống không tiết lộ tất cả các chi tiết của các cuộc thảo luận, nhưng cho biết ông đã bày tỏ mối quan tâm của mình để trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ về một loạt các vấn đề bao gồm cả quyền tự do tôn giáo, phát triển, nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam.
Cũng trong dịp này bà Rena Bitter Tổng Lãnh sự Mỹ tổ chức một buổi cơm thân mật và mời nhiều nhà bất đồng chính kiến tham dự tại tư gia.



Phỏng vấn Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ về cuộc gặp trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ


Ỷ Lan, thông tín viên RFA, Paris

2015-08-08








08082015-us-assis-visi-vene-th-q-do-ylan.mp3




Từ trái Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Tom Malinowski và Bà Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ, Rena Bittern tại Thanh Minh Thiền Viện ngày 5 tháng 8, 2015
Photo courtesy IBIB
Ngày thứ tư 5 tháng 8 vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, Đặc trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, ông Tom Malinowski cùng bà Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ Rena Bitter đến vấn an và trao đổi với Đức Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, về tình hình tôn giáo và nhân quyền. Chúng tôi đã làm cuộc phỏng vấn Đức Tăng Thống để hiểu rõ nội dung cuộc gặp gỡ này.
Ỷ Lan : Kính bạch Đức Tăng Thống, theo tin Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế loan tải thì ông Tom Malinowski, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Đặc trách Dân chủ, Nhân quyền, và Lao động đã đến Thanh Minh Thiền Viện vấn an Đức Tăng Thống. Xin Đức Tăng Thống cho biết Phái đoàn Hoa Kỳ gồm những ai và cuộc gặp gỡ xẩy ra như thế nào ?
Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ : Thưa Cô Ỷ Lan, đúng như cô nói, ngày mồng 5 tháng 8, ông Tom Malinowski, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Đặc trách Dân chủ, Nhân quyền, và Lao động đã đến Thanh Minh Thiền Viện thăm tôi vào lúc 11 giờ. Tháp tùng ông Thứ trưởng còn có bà Rena Bitter, Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ, ông Rodney Hunter, Phụ tá đặc biệt của Thứ trưởng, và ông Charles R Sellers, Tham tán Chính trị toà Tổng Lãnh sự. Cuộc gặp gỡ rất thân mật và cởi mở trên một tiếng đồng hồ.
Ỷ Lan : Bạch Đức Tăng Thống Vì sao có cuộc viếng thăm này ? Đức Tăng Thống đã nói gì với Thứ trưởng Ngoại giao Hoa kỳ? Và Phái đoàn phản ứng ra sao ?
Thích Quảng Độ : Tôi trình bày một số vấn đề liên quan đến Việt Nam kể cả việc vi phạm tự do tôn giáo của nhà cầm quyền Cộng sản, vấn đề giao thương, phát triển và dân chủ hoá Việt Nam. Riêng bản thân tôi vẫn tiếp tục bị quản chế tại Thanh Minh Thiền Viện với sự kiểm soát thường trực của những mật vụ khá lộ liễu.
Tôi cũng nói rằng Hà Nội không nên sợ hãi việc chấp nhận đa nguyên chính trị. Đa nguyên là của báu, chứ không là sự hăm doạ. Tôi xác nhận rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không là kẻ thù của Việt Nam Cộng sản. Bởi vì chúng tôi yêu quê hương Việt
Thích Quảng Độ
Lý do nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất là vì họ sợ không thể kiểm soát khối quần chúng Phật giáo. Thế nhưng chính sách này đã thất bại, bởi vì Phật giáo có lịch sử 2000 năm trên đất nước. Phật giáo đã thành một phần máu thịt với tâm lý, văn hoá và bản sắc của nhân dân. Phật giáo đã hiện hữu từ lâu trước chế độ Cộng sản, và Phật giáo còn tồn tại cả sau khi chế độ Cộng sản sụp đổ.
Tôi cũng nói rằng Hà Nội không nên sợ hãi việc chấp nhận đa nguyên chính trị. Đa nguyên là của báu, chứ không là sự hăm doạ. Tôi xác nhận rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không là kẻ thù của Việt Nam Cộng sản. Bởi vì chúng tôi yêu quê hương Việt. Nếu chúng tôi đòi hỏi tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do hội họp và tự do lập hội, không phải vì chúng tôi là “thế lực xấu” phá hoại chính quyền, mà bởi vì chúng tôi mang niềm tin tưởng nhân quyền là dụng cụ để xây dựng một xã hội thịnh vượng và âu lo cho con người, căn cứ trên pháp quyền và sự tôn trọng lẫn nhau. Chúng tôi tin rằng ai cũng có quyền tham dự để định hướng số phận mình cũng như tương lai của xứ sở.


Năm nay là năm Đại hội lần thứ 10 của GHPGVN Thống nhất. Tôi đã chỉ thị cho Ban chỉ đạo Viện Hoá Đạo chuẩn bị cho ĐH hoàn mãn. Tuy nhiên tôi cũng nhấn mạnh là ĐH sẽ là đại hội tinh thần. Vì ĐĐTTT Thích Huyền Quang đã nói : “Ngày nào còn Cộng sản, ngày ấy chúng ta không thể nào tổ chức ĐH được !”. Và cũng đã nói rằng : Đạo Phật không thể thăng hoa nơi giang sơn nô lệ. Và Dân tộc không thể hạnh phúc nơi áp bức, đói nghèo
Thích Quảng Độ
....Năm nay là năm Đại hội lần thứ Mười của GHPGVN Thống nhất. Tôi đã chỉ thị cho Ban chỉ đạo Viện Hoá Đạo chuẩn bị cho Đại hội hoàn mãn. Tuy nhiên tôi cũng nhấn mạnh là Đại hội sẽ là đại hội tinh thần. Vì Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang đã nói : “Ngày nào còn Cộng sản, ngày ấy chúng ta không thể nào tổ chức Đại hội được !”. Và cũng đã nói rằng : “Đạo Phật không thể thăng hoa nơi giang sơn nô lệ. Và Dân tộc không thể hạnh phúc nơi áp bức, đói nghèo”

Tôi chào đón sự thắt chặt mối bang giao Mỹ Việt, nhưng tôi mong mỏi Hoa kỳ tiếp tục xem nhân quyền như nền tảng của sự bang giao hai nước. Đây là sức mạnh đòn bẩy mà Hoa Kỳ giúp Việt Nam bước lên đường cải cách. Có rất nhiều quốc gia thường đãi bôi chuyện nhân quyền nhưng lại tránh né giải quyết thực tế để làm ăn với chế độ Cộng sản. Tôi thì tin cậy và tín nhiệm Hoa Kỳ không đi vào con đường ấy.
Nhân cuộc gặp gỡ, tôi đã trao cho Phái đoàn Hoa Kỳ tài liệu “The situation of the Unified Buddhist Church of Vietnam – Tình hình Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất”, và hai trang Nhận xét của tôi cùng lời đề xuất Hoa Kỳ giúp đỡ cho tiếng nói Dân chủ và Nhân quyền Việt Nam, cũng như quan tâm tới các tôn giáo tại Việt Nam, mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là một trong những sức mạnh chủ yếu của quần chúng có tín ngưỡng.
Một sự kiện vi phạm nhân quyền cụ thể, tôi đã gọi Cư sĩ Lê Công Cầu, Tổng Thư ký Viện Hoá Đạo, từ Huế vào Saigon phụ tá tôi trong việc tiếp đón Phái đoàn Hoa Kỳ. Thế nhưng Công an Huế đã bao vây, canh gác, ra lệnh cấm không cho Cư sĩ rời Huế trong hai ngày 4 và 5 tháng 8. Lấy lý do là “Chúng tôi không muốn ông gặp Phái đoàn Hoa Kỳ”. Cư sĩ Lê Công Cầu đã viết văn thư báo động sự cư xử bất hợp pháp này gửi ông Đại sứ Hoa Kỳ yêu cầu can thiệp.
Ỷ Lan : Xin Đức Tăng Thống cho thính giả Đài Á châu Tự do được biết sức khoẻ Đức Tăng Thống hiện nay như thế nào ? Đức Tăng Thống và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất có dự tính gì cho việc hoạt động sắp tới ? Và Đức Tăng Thống có lời gì nhắn nhủ đến Phật giáo đồ và đồng bào các giới trong và ngoài nước ?
Thích Quảng Độ : Năm nay tôi đã 88 tuổi, và sống trong tình trạng quản chế. Tuy nhiên, tôi vẫn lãnh đạo Giáo hội.


Xin các Phật tử đừng có lo. Chỉ lo là Phật tử tín tâm không bền, bồ đề tâm không kiên cố, bị những tà thuyết ma mị lôi kéo, đánh mất bản chất của người con Phật.

Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, như lời Phật dạy.
Tuy nhiên tôi biết rất rõ là đa số Phật tử đã bị áp lực của chính quyền. Và đời sống kinh tế đe doạ miếng cơm manh áo, đe doạ tương lai của con em, mà đành thúc thủ trước thời cuộc. (5 chữ nghe không rõ).
Năm nay là năm Đại hội lần thứ Mười của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Tôi đã chỉ thị cho Ban chỉ đạo Viện Hoá Đạo chuẩn bị cho Đại hội hoàn mãn. Tuy nhiên tôi cũng nhấn mạnh là Đại hội sẽ là đại hội tinh thần. Vì Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang đã nói : “Ngày nào còn Cộng sản, ngày ấy chúng ta không thể nào tổ chức Đại hội được !”. Và cũng đã nói rằng : “Đạo Phật không thể thăng hoa nơi giang sơn nô lệ. Và Dân tộc không thể hạnh phúc nơi áp bức, đói nghèo”
Kính mong tất cả đồng bào Phật tử hãy hy sinh thân mình và trông vào công cuộc Giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn.
Ỷ Lan : Xin cám ơn Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ.



KINH TẾ TRUNG CỘNG


Tại sao Trung Quốc phá giá tiền lúc này?

  • 7 giờ trước




Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc nói họ muốn tỷ giá hối đoái được điều tiết bởi thị trường nhiều hơn


"Thật là chuyện không nên xảy ra ở một nước Trung Quốc mới," một bản tin gửi vào hộp thư của tôi sáng nay viết thế.
Tôi đã đọc được nhiều nhận xét tương tự kể từ khi Trung Quốc phá giá đồng nội tệ vào hôm qua, và rồi lại phá giá tiếp vào hôm nay thứ Tư.
Phân tích gia chuyên về tiền tệ Philippe Gelis nói với tôi: "Việc Trung Quốc nhanh chóng quay ngoắt trở lại trong chính sách tiền tệ cho thấy tình hình kinh tế của nước này đang tới điểm cấp bách. Trung Quốc đã lựa chọn một cuộc chiến tiền tệ rõ ràng."
Hãy nhìn vào những con số: Trung Quốc ngày hôm qua phá giá 1,9% và sang hôm nay lại thêm 1,6% nữa.
Trung Quốc đặt tỷ giá riêng cho tiền tệ của mình, nhưng nay lại nói rằng cơ chế mới mà Bắc Kinh áp dụng sẽ hướng tới việc để thị trường điều chỉnh nhiều hơn.
Thế nhưng đó là những lần phá giá nhỏ trong một chương trình lớn.
Các lần phá giá vừa rồi cũng dường như không có ảnh hưởng ngay lập tức tới việc xuất khẩu.





Ngân hàng DBS Bank trong bản tin buổi sáng hàng ngày viết: "Việc phá giá thích hợp là 10-30%, và phải duy trì trong một năm thì xuât khẩu mới bắt đầu cho thấy có sự thay đổi."

Tại sao lại là lúc này?

Nhưng câu hỏi không phải là vì sao Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ, mà là vì sao phá giá vào lúc này?
Trung Quốc đã bị áp lực quốc tế đòi phải để đồng nội tệ của mình được điều tiết theo thị trường, thay vì do chính phủ kiểm soát trong nhiều năm.
Hoa Kỳ là nước chỉ trích Trung Quốc mạnh mẽ nhất. Washington nói Bắc Kinh giữ đồng nhân dân tệ ở mức thấp giả tạo nhằm thúc đẩy xuất khẩu.
Như vậy, về mặt lý thuyết thì Trung Quốc nói họ đang làm những gì Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế muốn. Theo ngôn từ của ngân hàng trung ương Trung Quốc thì nước này hiện cho phép đồng nhân dân tệ được định giá linh hoạt hơn.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nói cơ chế mới của Trung Quốc trong việc định giá tham khảo hàng ngày cho đồng nhân dân tệ là một "bước đi đáng hoan nghênh".
Chúng ta nên nhớ rằng Trung Quốc muốn được góp mặt trong câu lạc bộ tiền tệ toàn cầu của IMF, điều mà họ không thể đạt được nếu không để tỷ giá hối đoái cho thị trường điều tiết nhiều hơn.





Cho nên, về mặt lý thuyết thì Hoa Kỳ hẳn cũng phải hoan nghênh bước đi này.
Thế mà Bộ Ngân khố Hoa Kỳ nói: "Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi xem những thay đổi này được thực hiện ra sao, và sẽ tiếp tục thúc đẩy Trung Quốc đi tiếp tiến trình cải tổ... Bất kỳ bước thoái lui nào khỏi việc cải tổ sẽ đều là một diễn biến gây lo lắng."

Cần thời gian để tái cân đối

Một số kinh tế gia nói rằng việc chọn thời điểm để phá giá đồng tiền có vẻ như quá bất ngờ, một phản ứng tự động, không suy tính trước các kết quả yếu kém hơn dự đoán trong lĩnh vực xuất khẩu.
Số liệu công bố hồi cuối tuần rồi cho thấy xuất khẩu giảm hơn 8% so với năm ngoái. Giới phân tích nói các quan chức Trung Quốc rõ ràng là lo lắng về việc phải làm thế nào để tái cân đối nền kinh tế, và việc dịch chuyển từ xuất khẩu sang tiêu thụ là quá trình tốn nhiều thời gian hơn họ dự kiến.





Nhưng các nhà máy Trung Quốc thì thuê hàng triệu nhân công, và bất kỳ cú giảm mạnh nào cũng đều có thể ảnh hưởng tới đời sống của người lao động, dẫn tới tình trạng mất việc hàng loạt, mà điều đó sẽ khiến chính phủ mất lòng dân, thậm chí có thể dẫn tới tình trạng bạo loạn xã hội.
Thực tế là việc tái cân đối thì cần phải có thời gian để diễn ra, nhưng có vẻ như thời gian để nền kinh tế tự làm mới mình, theo cách nhìn của các quan chức Trung Quốc, là quá dài.
Bước đi của Trung Quốc đã gây ảnh hưởng tới cả khu vực.
Các đồng tiền tệ ở Á châu đều xuống giá so với trước. Do vậy bước đi này có thể coi như một cuộc đua xuống đáy - một cuộc đua mà không ai giành được phần thắng, như nhận định trong một bản tin của DBS:
"Vậy là Trung Quốc trở lại việc lo sản xuất hàng hóa, vốn đem lại lợi nhuận ở mức thấp hơn - những thứ hàng đang ngày càng trở nên dư thừa so với nhu cầu tiêu thụ của thế giới... Điều đó khó lòng kéo dài được."
Nhưng Trung Quốc nói họ không tìm cách quản lý các thị trường tiền tệ - trong tuyên bố của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc có ghi "Nhìn vào tình hình kinh tế quốc tế và trong nước, hiện không có cơ sở để thấy đồng nhân dân tệ sẽ mất giá lâu dài."
Việc thị trường có tin như thế không sẽ phụ thuộc vào bước đi tiếp theo của Trung Quốc.

Ai được, ai mất khi TQ phá giá tiền?






Hôm thứ Tư, ngân hàng trung ương Trung Quốc hạ mức "trung bình chính thức" của đồng nhân dân tệ xuống 1,6%, một đô la Mỹ ăn 6,3306 nhân dân tệ.
Mức trung bình là tỷ giá hối đoái mang tính định hướng, trên cơ sở đó việc mua bán có thể tăng hoặc giảm 2% trong ngày giao dịch.
Cho tới hôm thứ Ba, tỷ giá này chỉ duy nhất do Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) xác định.
Nay, tỷ giá hối đoái sẽ được dựa trên những diễn biến thị trường toàn cầu qua đêm và về việc đồng nhân dân tệ vào lúc đóng cửa ở phiên giao dịch trước được mua bán với giá nào.
PBOC, vốn nói việc điều chỉnh giá xuống 1,9% hôm thứ Ba là lần điều chỉnh 'một lần rồi thôi', đã tìm cách trấn an các thị trường tài chính hôm thứ Tư.
"Nhìn vào tình hình kinh tế quốc tế và quốc nội, hiện không có cơ sở gì để nói là đồng nhân dân tệ sẽ xuống giá trong thời gian dài," PBOC nói trong một tuyên bố.

Được và mất

Tuy việc phá giá khiến các thị trường quốc tế chấn động, nhưng việc xuống giá với tổng cộng hơn 3% chưa có tác động lớn gì cho hầu hết các công ty.
Nhưng việc xuống giá thêm nữa có lẽ sẽ thay đổi số phận của một số doanh nghiệp trong và ngoài Trung Quốc. Dưới đây là một số loại đối tượng có thể thua hoặc thắng trong tình thế đó:
Thắng
  • Các nhà xuất khẩu Trung Quốc, nhất là các công ty may mặc và xe hơi, sẽ được tăng sức cạnh tranh.
  • Các nhà bán lẻ nước ngoài sẽ có nguồn cung cấp hàng từ Trung Quốc với mức giá rẻ hơn; các công ty có sử dụng dịch vụ , sản phẩm, bộ phận thiết bị Trung Quốc cũng trong tình thế tương tự.
  • Du khách nước ngoài tới Trung Quốc được lợi khi đổi tiền sang đồng nhân dân tệ.
Thua
  • Các công ty Trung Quốc có các khoản nợ bằng ngoại tệ sẽ phải trả lãi nhiều hơn, nhất là các công ty bất động sản và các phương tiện chính quyền địa phương đi thuê mua.
  • Các hãng hàng không Trung Quốc đang nợ bằng ngoại tệ và phải chi trả rất nhiều tiền để mua nhiên liệu bằng đồng đô la Mỹ.
  • Các nhà xuất khẩu hàng vào Trung Quốc, nhất là các mặt hàng xa xỉ, bởi hàng sẽ trở nên đắt đỏ hơn đối với khách hàng Trung Quốc. 
  • http://www.bbc.com/vietnamese/business/2015/08/150812_china_yuan_winners_losers
 

Việt Nam đối mặt với chiến tranh tiền tệ?

  • 12 tháng 8 2015




Ngân hàng trung ương của Việt Nam đã phá giá VND hai lần trong nửa đầu năm nay


Động thái phá giá tiền tệ của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã gây chấn động cho các thị trường tài chính thế giới trong 24 tiếng qua.
Đồng nhân dân tệ đã được điều chỉnh tỷ giá tham chiếu so với USD xuống 1,9% hôm 11/8, trước khi tiếp tục giảm thêm 1,6% ngày 12/8.
Nhiều hãng tin tài chính lớn như Financial Times, Bloomberg, cho rằng hành động của Bắc Kinh đang châm ngòi cho một 'cuộc chiến tiền tệ' trong khu vực, khi hàng loạt các quốc gia châu Á bất ngờ phải đối mặt với áp lực phá giá tiền tệ để giữ tính cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu.
Động thái của Trung Quốc được cho là bước đi nhằm tạo tiền đề cho phép các tác nhân thị trường đóng vai trò lớn hơn trong việc xác định tỷ giá hối đoái.

Bất lợi cho Việt Nam

Sáng 12/8, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra thông báo điều chỉnh nâng biên độ tỷ giá USD/VND lên gấp đôi, từ 1% lên 2%.
Điều này đồng nghĩa với việc giá mua bán USD của các ngân hàng có thể biến động trong phạm vi từ 21.240 đồng đến 22.106 đồng.
Ngân hàng trung ương của Việt Nam giải thích động thái này là nhằm đảm bảo tính linh hoạt cho tỷ giá trước các tác động của thị trường quốc tế và đảm bảo cho khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
"Với đặc thù Trung Quốc là đối tác chiếm tỷ trọng thương mại lớn của Việt Nam thì việc điều chỉnh tỷ giá đồng nhân dân tệ sẽ có tác động bất lợi tới nền kinh tế Việt Nam", thông cáo viết.
Kết thúc phiên giao dịch sáng 12/8, chỉ số VN-Index dừng lại ở mức 604,24 điểm, giảm 8,81 điểm (-1,44%).
Trả lời BBC ngày 12/8, ông Vũ Thanh Phong, một chuyên gia chứng khoán trong nước, cho biết "tình hình hiện tại không tích cực cho lắm".
Ông cho biết thị trường đã diễn biến xấu kể từ khi đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương tại Hawaii không mang lại kết quả như kỳ vọng.
"Tuy nhiên việc ngân hàng trung ương Trung Quốc phá giá nhân dân tệ ngày hôm qua đã khiến thị trường bị bất ngờ", ông nói.
"Điều này gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam cũng như thế giới, nhất là về mặt kinh tế."
"Về mặt nhập khẩu, Việt Nam vẫn chưa giải quyết được vấn đề nhập siêu với Trung Quốc, và nếu đồng nhân dân tệ tiếp tục yếu hơn thì trong tương lai vấn đề nhập siêu sẽ nghiêm trọng hơn nữa."
"12 năm trước Việt Nam là thị trường xuất khẩu lớn thứ 15 của họ, tính đến quý 1 năm nay thì Việt Nam đã là thị trường xuất khẩu lớn thứ 7 của Trung Quốc và đây là điều rất đáng lo ngại," ông nói.

'Không ngờ trước'





Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trước đó đã thông báo sẽ không điều chỉnh tỷ giá VND nhiều hơn 2% trong năm nay.
Tuy nhiên, theo ông Phong, cơ quan này đã "không tính được hết biến động tỷ giá trong năm nay".
"Sự tăng giá của đồng đôla đã khiến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dùng hết 2% trong nửa năm đầu", ông nói.
"Hôm qua thì việc Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ tiếp tục nằm ngoài dự kiến của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam".
"Trong điều kiện tỷ giá biến động quá mạnh này, nếu tiếp tục bảo vệ tỷ giá tiền đồng thì cái giá phải trả rất lớn và cụ thể là dự trữ ngoại hối sẽ bị tiêu tốn", ông nói.
"Nếu Ngân hàng Nhà nước cố giữ giá trị tiền đồng thì năm sau sẽ có biến động rất mạnh về tỷ giá."
"Việc Trung Quốc phá giá tiền tệ nằm ngoài dự đoán chủ quan của Việt Nam cũng như thế giới và việc không giữ cam kết 2% đầu năm hoàn toàn có thể chấp nhận được."
Nhận định về điều mà các báo nước ngoài gọi là nguy cơ xảy ra chiến tranh tiền tệ trong khu vực, giới chuyên gia cho rằng những yếu tố làm xảy ra chiến tranh tiền tệ hiện nay "có thể nhiều hơn những năm trước."
http://www.bbc.com/vietnamese/business/2015/08/150812_vn_facing_currency_war


Việt Nam ảnh hưởng gì khi TQ phá giá đồng nhân dân tệ

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-08-12

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Hình ảnh bên ngoài một cửa hàng đổi ngoại tệ tại Hồng Kông vào ngày 12 Tháng Ba 2015
Hình ảnh bên ngoài một cửa hàng đổi ngoại tệ tại Hồng Kông vào ngày 12 Tháng Ba 2015 (minh họa)
AFP


Việt Nam lâu nay nhập siêu từ Trung Quốc; mới hôm qua ngày 11 tháng 8, Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh cho phá giá đồng nhân dân tệ gần 2% để giúp tăng xuất khẩu bị giảm sút của nước này.
Như thế thị trường Việt Nam sẽ chịu những tác động gì?
Biện pháp phá giá đồng Nhân dân tệ
Biện pháp cho phá giá gần 2% đồng nhân dân tệ mà Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đưa ra vào ngày 11 tháng 8 được hầu hết các cơ quan truyền thông quốc tế loan đi.
Theo hãng thông tấn Reuters thì sau khi có thông báo cho phá giá đồng nhân dân tệ của Bắc kinh, chứng khoán tại Châu Á và Châu Âu sụt giá vì giới đầu tư quan ngại về những hệ quả của biện pháp được đưa.
Đón nhận từ phía Việt Nam
Theo một số các chuyên gia kinh tế- tài chính tại Việt Nam thì biện pháp cho phá giá đồng nhân dân tệ của Trung Quốc không có gì đáng ngạc nhiên vì giới này từng dự báo trước.
Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành từ Hà Nội có ý kiến:
“ Thực sự tôi thấy không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm vì tình hình Trung Quốc trong mấy lúc sau này có giảm yếu đi. Trong mấy tháng vừa rồi xuất khẩu, ngoại thương của Trung Quốc cũng giảm khá nhiều 7-8% và nền kinh tế Trung Quốc cũng chạy chậm lại. Việc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phá giá trong thởi điểm này và trong tình hình kinh tế Trung Quốc như thế thì cũng có lý do của nó thôi, chứ không có gì mà ngạc nhiên cho lắm.”
Và giáo sư Vũ Văn Hóa, trưởng Khoa Kinh tế- Tài chính, Đại học Quản lý Kinh doanh Hà Nội, cũng có đánh giá tương tự như chuyên gia Bùi Kiến Thành:
Thực ra việc phá giá đồng nhân dân tệ cũng không ngoài dự đoán của các chuyên gia kinh tế Việt Nam đâu. Bởi lẽ trong mấy tháng gần đây kinh tế của Trung Quốc đang suy giảm xuống. Theo chúng tôi nghĩ thì biện pháp này cũng để làm thế nào tăng xuất khẩu của Trung Quốc lên
GS Vũ Văn Hóa
“Thực ra việc phá giá đồng nhân dân tệ cũng không ngoài dự đoán của các chuyên gia kinh tế Việt Nam đâu. Bởi lẽ trong mấy tháng gần đây kinh tế của Trung Quốc đang suy giảm xuống. Theo chúng tôi nghĩ thì biện pháp này cũng để làm thế nào tăng xuất khẩu của Trung Quốc lên. Cái đó theo số học và cơ học thì nếu đã phá giá tiền tệ thì chắc chắn xuất khẩu sẽ tăng.”
Tác động đối với Việt Nam
Theo hai chuyên gia kinh tế- tài chính vừa nêu thì biện pháp phá giá đồng nhân dân tệ của Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh là một cách làm mang tính toàn cầu, thế nhưng thị trường Việt Nam lâu nay lệ thuộc vào Trung Quốc nên biện pháp đó chắc chắn sẽ có tác động đến mậu dịch với nước láng giềng Việt Nam.
Ông Bùi Kiến Thành đưa ra nhận định:
“Đối với Việt Nam khi hàng hóa của Trung Quốc lại còn rẻ hơn nữa vì nhân dân tệ rẻ hơn thì sẽ tạo tình hình cạnh tranh còn mãnh liệt hơn nữa đối với hàng Việt Nam. Như vậy Việt Nam phải tính vấn đề làm thế nào xây dựng nội lực của mình để có thể cạnh tranh được với hàng Trung Quốc. Đó là việc mà từ nhiều năm nay mình cần phải lưu tâm nhưng mỉnh làm chưa tới nơi, tới chốn thôi.
Vấn đề ngoại thương ( giữa Việt Nam) với Trung Quốc không chỉ là chính ngạch không mà còn tiểu ngạch, ngoại ngạch. Nói cách khác là buôn lậu qua những cửa khẩu mà biên giới của Việt Nam không được kiểm tra chặt chẽ. Đó là vấn đề khác nữa.
Đối với Việt Nam, tất nhiên hàng Trung Quốc rẻ hơn một chút cũng là vấn đề nhưng không phải là vấn đề chính yếu đối với Việt Nam. Vấn đề đối với Việt Nam là làm sao phải kiểm soát được ngoại thương, không bị ảnh hưởng quá nhiều do buôn lậu, đem hàng Trung Quốc vào Việt Nam với giá rẻ mạt không phải giá thị trường. Đồng thời những ‘rac thải’ của Trung Quốc gửi qua Việt nam để Việt Nam gặp những vấn đề sức khỏe, an toàn của dân tộc Việt Nam; vì những thực phẩm đưa qua hoặc là hư thối hay còn có chất độc nữa.
Đối với Việt Nam không chỉ là vấn đề tiền tệ mà còn vấn đề an toàn thực phẩm, sức khỏe của người dân.Tổng thể là Việt Nam chưa có biện pháp gì để thực sự có lực lượng đủ năng lực để đối phó với hàng của Trung Quốc tràn vào

Ông Bùi Kiến Thành
Đối với Việt Nam không chỉ là vấn đề tiền tệ mà còn vấn đề an toàn thực phẩm, sức khỏe của người dân.
Tổng thể là Việt Nam chưa có biện pháp gì để thực sự có lực lượng đủ năng lực để đối phó với hàng của Trung Quốc tràn vào.”
Và trình bày về thực trạng của Việt Nam trong mối tương quan kinh tế với Trung Quốc của giáo sư Vũ Văn Hóa:
“Thị trường Việt Nam tiếp xúc với biên giới Trung Quốc khá dài cho nên mậu dịch tiểu ngạch cũng như đại ngạch rất lớn. Đây là một bất lợi rất lớn cho nền kinh tế của Việt Nam bởi lẽ hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam sẽ rẻ đi rất nhiều. Do đó nó lại tăng nhập siêu của Việt Nam lên. Năm ngoái Việt Nam đã nhập siêu của Trung Quốc 17-18 tỷ đô la rồi. Bây giờ theo đà này thì Việt Nam sẽ nhập siêu của Trung Quốc khoảng 33 tỷ đô la. Đó là điều rất nguy hại cho nền kinh tế Việt Nam.
Thế mạnh của Việt Nam đối với hàng xuất khẩu vào Trung Quốc không nhiều; chủ yếu là hàng nông sản, thực phẩm và khoáng sản chưa chế biến nên rất rẽ. Thứ hai nữa lưu lượng xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc không nhiều.”
Biện pháp của Hà Nội
Giáo sư Vũ Văn Hóa cho rằng chính phủ Việt Nam mà cụ thể là Bộ Công Thương Việt Nam cũng có những biện pháp đối phó với những diễn tiến từ phía Trung Quốc, cũng như điều mà theo lời của vị chuyên gia này là những ‘đòn bất ngờ’ từ phía Trung Quốc.
Tuy nhiên theo ông Bùi Kiến Thành thì dù lâu nay luôn có những cảnh báo về tình trạng nguy hiểm về kinh tế- thương mại từ phía Trung Quốc, thế nhưng dường như cơ quan chức năng Việt Nam và các doanh nghiệp trong nước phản ứng rất thụ động. Ông Bùi Kiến Thành có ý kiến:
“ Việt Nam bị thụ động rất nhiều, chỉ có phản ứng, phản ứng thôi! Chúng ta thấy ngoại thương của Việt Nam với Trung Quốc bị âm rất nhiều: xuất ít mà nhập vào quá nhiều! Như vậy cần phải có chính sách để cân đối lại nhưng chưa có. Nói chung xuất khẩu của Việt Nam rất yếu; trong hai năm 2013, 2014 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam có đến 7o% do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cả mấy trăm ngàn doanh nghiệp xuất chưa được 30%. Trong số 30% đó còn có bao nhiêu phần trăm tạm nhập, tái xuất nguyên liệu. Nói chung năng lực xuất khẩu của Việt Nam quá kém. Chẳng những năng lực xuất khẩu mà năng lực sản xuất cũng quá kém nên hàng Trung Quốc vào lấn át thị trường trong nước, và Việt Nam cũng không có hàng gì đề xuất khẩu ra. Như vậy trong những năm tới sẽ rất nguy hiểm với Hiệp định Xuyên Thái Bình Dương hay Cộng đồng ASEAN mở rộng. Thuế quan một số bằng không thì hàng nước ngoài ùa vào Việt Nam như một làn sóng thần mà Việt Nam không có gì để bán ra ngoài thì vô cùng nguy hiểm cho nền kinh tế.
Đó là việc mà nhà cầm quyền cần nên cảnh giác, cố gắng làm sao xây dựng nội lực của Việt Nam để có gì xuất khẩu.”
Ý kiến của doanh nghiệp
Trong cuộc trả lời phỏng vấn của chúng tôi cách đây chưa đầy một tháng, ông Diệp Thành Kiệt, phó chủ tịch Hiệp hội Da Giày- Túi xách Việt Nam, cho rằng vẫn có cơ hội cho các doanh nghiệp thuộc hai ngành dệt may và da giày mà ông tham gia lâu nay; tuy nhiên vấn đề là tận dụng các cơ hội đó như thế nào.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/china-delavu-yuan-by-2pct-08122015050522.html

 

Hạ giá tiền Việt theo Trung Quốc có tác dụng hai mặt

Nam Nguyên, RFA
2015-08-12

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
ledangdoanh-620.jpg
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
file photo


Ngay sau khi Trung Quốc phá giá Nhân Dân Tệ tổng cộng gần 4% trong hai ngày liên tiếp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hôm 12/8/2015 cũng quyết định hạ giá tiền Đồng bằng cách tăng gấp đôi biên độ tỷ giá USD/VNĐ từ 1% lên 2%. Điều này đồng nghĩa với việc giá mua bán USD của các ngân hàng có thể đưa lên mức cao nhất là 22.106 đồng/ một USD. Trong nửa đầu năm 2015, Việt Nam đã điều chỉnh tỷ giá hai lần vào tháng 1 và tháng 5 tổng cộng 2%.
Nam Nguyên phỏng vấn Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội về cuộc chiến tranh tiền tệ mà Việt Nam đang đối mặt. Từ Hà Nội, trước hết TS Lê Đăng Doanh đưa ra nhận định:
TS Lê Đăng Doanh: Ngân hàng Nhà nước đã nới biên độ của tỷ giá thêm 1% nữa và đó là biện pháp kịp thời năng động của Ngân hàng Nhà nước trước việc Trung Quốc đã phá giá đồng nhân dân tệ 1,9% và sáng nay (12/8) họ lại phá giá tiếp 1,6% nữa.
Biện pháp đó của Việt Nam là biện pháp cần thiết vì Việt Nam xuất và nhập khẩu đối với thị trường Trung Quốc rất là lớn đặc biệt là nhập khẩu từ Trung Quốc.
Chắc chắn việc phá giá đồng bạc Trung Quốc sẽ tác động khá mạnh đến cán cân thương mại của Việt Nam. Việc xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc sẽ trở nên khó khăn hơn.
TS Lê Đăng Doanh, Hà Nội
Cho nên chắc chắn việc phá giá đồng bạc Trung Quốc sẽ tác động khá mạnh đến cán cân thương mại của Việt Nam. Việc xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc sẽ trở nên khó khăn hơn, bởi vì hàng hóa của Việt Nam sẽ đắt lên 4% và điều này sẽ có tác động đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Doanh nghiệp Việt Nam phải giảm giá thành mới có thể xuất khẩu được, bởi vì phía nhập khẩu Trung Quốc sẽ không sẵn sàng để nâng giá bán lên theo mức độ như vậy. Còn về hàng nhập khẩu thì Việt Nam phải tăng cường chống buôn lậu mới có thể đối phó với làn sóng hàng hóa rẻ của Trung Quốc tràn vào Việt Nam.
Nam Nguyên: Thưa Tiến sĩ, mỗi khi Việt Nam điều chỉnh tỷ giá điều chỉnh biên độ thì ở nước ngoài gọi là phá giá, hạ giá. Như vậy từ đầu năm đến nay Việt Nam coi như đã phá giá tiền đồng 4%. Thưa hiểu như vậy có đúng không?
TS Lê Đăng Doanh: Không, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ có điều chỉnh tỷ giá 2%, còn bây giờ thì nới cái biên độ ra và tùy theo các ngân hàng thương mại họ muốn nới lên hay muốn giữ thì tùy họ. Chứ không phải là chính thức phá giá, một biện pháp để mở rộng biên độ trao đổi tiền tệ và cho phép các ngân hàng thương mại có thể phản ứng một cách linh hoạt hơn.
Về nhập khẩu, Việt Nam phải tăng cường chống buôn lậu mới có thể đối phó với làn sóng hàng hóa rẻ của Trung Quốc tràn vào Việt Nam.
TS Lê Đăng Doanh, Hà Nội
Về mặt thực tế thì nó cũng tương đương như việc phá giá đồng bạc thêm 1% nữa, nhưng mà đấy là biện pháp có tính chất linh hoạt và kịp thời của Ngân hàng Nhà nước Việt nam.
Tôi cũng xin lưu ý rằng biện pháp này chắc chắn sẽ làm cho tăng thêm chi phí để trả nợ công vì nợ công của Việt Nam được trả bằng đồng Đô La và nếu như điều chỉnh tỷ giá và nới biên độ như thế này thì nợ công sẽ tăng thêm nữa.
Nam Nguyên: Như Tiến sĩ vừa nói thì Việt Nam có biện pháp điều chỉnh tỷ giá, nới biên độ để đối phó với việc Trung Quốc phá giá tiền. Kinh tế Việt lệ thuộc lớn vào kinh tế Trung Quốc, Trung Quốc là bạn hàng rất lớn của Việt Nam. Vậy thì ngoài việc điều chỉnh tỷ giá nới biên độ, chống buôn lậu thì Việt Nam còn có thể làm gì khác hơn nữa?
TS Lê Đăng Doanh: Sẽ phải thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 19 của Chính phủ ngày 12/3/2015 để nâng cao năng lực cạnh tranh; các cơ quan nhà nước phải giảm các thủ tục phiền hà, giảm chi phí về thời gian và tiền bạc, để cho các doanh nghiệp có thể giảm chi phí nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tôi nghĩ đây là một cuộc chiến sống còn và đòi hỏi nỗ lực rất lớn của cơ quan nhà nước, của mỗi một viên chức cũng như là của tất cả các doanh nghiệp.
Nam Nguyên: Thông tin cũng nói là chuyện Trung Quốc phá giá tiền sẽ gây ra một vòng luẩn quẩn, nhiều nước trong đó có Việt Nam cũng đều hạ giá đồng tiền của mình để đối phó. Thưa Tiến sĩ nhận định gì về chuyện này?
TS Lê Đăng Doanh: Rõ ràng là Trung Quốc đã bắt đầu khởi động một cuộc chiến tarnh tiền tệ và tôi nghĩ rằng đây là bắt đầu của vòng xoáy, còn vòng xoáy ấy sẽ đi đến đâu và Trung Quốc sẽ được gì, sẽ mất gì thì điều đó còn phải có thời gian để tính toán xem xét.
Rõ ràng là Trung Quốc đã bắt đầu khởi động một cuộc chiến tarnh tiền tệ và chắc chắn thị trường tài chính thế giới sẽ có biến động và phản ứng không lường trước được.
TS Lê Đăng Doanh, Hà Nội
Tôi thấy rằng, chắc chắn thị trường tài chính thế giới sẽ có biến động và sẽ có phản ứng trước tình hình mà mọi người không lường trước được là trong hai ngày liên tiếp Trung Quốc đã phá giá đồng bạc hai lần.
Nam Nguyên: Thưa. Về ý kiến cho rằng Trung Quốc đang xuất khẩu lạm phát  vào Hoa Kỳ và các nước khác. Tiến sĩ nhận định gì?
TS Lê Đăng Doanh: Về việc Trung Quốc xuất khẩu lạm phát thì đấy là một cách nói. Bởi vì Trung Quốc phá giá đồng bạc thì các đồng tiền khác cũng phải có điều chỉnh theo, chứ nếu không thì họ bị thiệt quá.
Còn về thực chất thì Trung Quốc 6 tháng vừa qua đã có giảm lượng xuất khẩu tới 8,3%, cho nên Trung Quốc phải có biện pháp để duy trì xuất khẩu nếu không thì họ sẽ mất công ăn việc làm và nếu không có thì sản xuất trong nước của họ sẽ bị ngưng trệ và đấy là điều mà Trung Quốc đang muốn tránh.
Nam Nguyên: Xin phép được hỏi câu chót, thưa bản thân Tiến sĩ có ngạc nhiên với những quyết định mau lẹ dồn dập của Trung Quốc hay không?
TS Lê Đăng Doanh: Tôi thực tình lấy làm bất ngờ, phản ứng ngày đầu tiên thì tôi không bất ngờ lắm và tôi nghĩ họ sẽ làm sau khi xuất khẩu của họ bị giảm như vậy. Nhưng mà họ làm đến ngày thứ hai liên tiếp thì tôi thấy hơi ngạc nhiên.
Nam Nguyên: Cảm ơn TS Lê Đăng Doanh đã trả lời Đài RFA.






http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-weakens-currency-to-cope-with-china-nn-08122015104028.html


Thứ năm, 13/08/2015

TQ phá giá đồng Nhân dân tệ, các thị trường tài chính rúng động

Sau khi xảy ra vụ tuột dốc của thị trường chứng khoán Trung Quốc và kim ngạch xuất khẩu trong tháng trước bị sụt gần 9%, ngân hàng trung ương Trung Quốc không có chọn lựa nào khác hơn là để cho đồng Nguyên giảm giá.
Sau khi xảy ra vụ tuột dốc của thị trường chứng khoán Trung Quốc và kim ngạch xuất khẩu trong tháng trước bị sụt gần 9%, ngân hàng trung ương Trung Quốc không có chọn lựa nào khác hơn là để cho đồng Nguyên giảm giá.
Ngân hàng trung ương Trung Quốc hôm nay đã phá giá đồng Nhân dân tệ gần 2%, xuống mức thấp nhất so với đồng đôla Mỹ trong 3 năm qua
Trung Quốc hôm nay để cho đồng Nguyên còn gọi là Nhân dân tệ giảm giá sang tới ngày thứ nhì liên tiếp, làm rúng động các thị trường tài chánh toàn cầu và có thể gây căng thẳng với các đối thủ cạnh tranh trên trường quốc tế. Thông tín viên Mil Arcega của đài VOA tường thuật.
Giá đồng Nguyên trên thị trường hôm nay giảm 1,6% sau khi giảm gần 2% trong ngày hôm qua, là mức sút giảm trong một ngày lớn nhất trong vòng một thập niên.
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, tức ngân hàng trung ương của nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới này, tuyên bố việc giảm giá chỉ có tính chất tạm thời và có mục đích làm cho giá trị của đồng Nguyên phù hợp nhiều hơn với các yếu tố thị trường. Ngân hàng này hôm nay nói rằng “Trong tình hình kinh tế quốc tế và quốc nội hiện giờ, không có cơ sở cho một xu hướng giảm giá kéo dài của đồng Nguyên.”
Các nhà đầu tư ở Á Châu đã có phản ứng tiêu cực, với giá chứng khoán sút giảm tại Hồng Kông, Thượng Hải và Tokyo. Các chỉ số chính của thị trường ở Mỹ và Âu Châu cũng đã sút giảm trong ngày hôm qua.
Các chuyên gia kinh tế nói rằng sau khi xảy ra vụ tuột dốc của thị trường chứng khoán Trung Quốc và kim ngạch xuất khẩu trong tháng trước bị sụt gần 9%, ngân hàng trung ương Trung Quốc không có chọn lựa nào khác hơn là để cho đồng Nguyên giảm giá.
Ông Jasper Lewis, một nhà phân tích của công ty CMC Markets, nói rằng điều này giúp cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc rẻ hơn nhưng gây thiệt hại cho các công ty nước ngoài làm ăn ở Trung Quốc.
"Giờ đây những mặt hàng xuất khẩu đó sẽ tương đối đắt hơn bên trong Trung Quốc, và cũng như vậy, hàng xuất khẩu của Trung Quốc sẽ tương đối rẻ hơn. Vì thế cho nên đó là một điều bất lợi cho những công ty này, là những công ty vốn đã gặp khó khăn trong việc làm ăn ở Trung Quốc do nền kinh tế của nước này tăng trưởng chậm lại."
Đồng Nguyên giảm giá làm cho giá trị của đồng đô la Mỹ gia tăng, và kết quả là giá cả của những loại nông khoáng sản mua bán bằng đồng đô la Mỹ, như dầu lửa, đã bị giảm mạnh.
Tuy nhiên, một số người cho rằng những lợi ích dài hạn của một nền kinh tế Trung Quốc lành mạnh sẽ vượt trội những tác động tiêu cực đối với những nước phát triển như Hoa Kỳ. Ông Gus Faucher, một chuyên gia kinh tế của Công ty Dịch vụ Tài chánh PNC, cho biết như sau.
"Tôi nghĩ rằng đây là một khó khăn ngắn hạn đối với Hoa Kỳ. Nhưng về lâu về dài, tôi nghĩ rằng nó là một diễn tiến tích cực đối với Hoa Kỳ và tôi nghĩ rằng nền kinh tế Mỹ đủ mạnh để ứng phó."
Ông Faucher cho biết diễn tiến mới nhất này có thể phương hại chút đỉnh cho thương mại của Mỹ với Trung Quốc, nhưng nó có ích cho việc tái cân bằng nền kinh tế toàn cầu.
Những người khác, như ông Francis Lun – một chiến lược gia đầu tư ở Hồng Kông, cảm thấy ngạc nhiên trước điều họ cho là những phản ứng quá đáng.
"Thật ra 2% không có ý nghĩa gì cả. Trên cơ bản, nếu chúng ta có một sự giảm giá 10%, thì nó sẽ có một ý nghĩa nào đó, nhưng chỉ giảm 2% thì nó chỉ có một ảnh hưởng hết sức nhỏ đối với nền kinh tế."
Mặc dầu vậy, nhiều nhà phân tích e rằng nếu đồng Nguyên tiếp tục giảm giá, giới tiêu thụ Trung Quốc và những nhà đầu tư sở hữu những tài sản ở Trung Quốc sẽ bị thiệt hại nặng.
 http://www.voatiengviet.com/content/trung-quoc-pha-gia-nhan-dan-te-cac-thi-truong-tai-chinh-rung-dong/2914765.html





Trung Quốc ngày thứ 2 liên tiếp phá giá đồng nhân dân tệ


media 
Nhân dân tệ và đô laReuters
Hôm nay, 12/08/2015, ngày thứ 2 liên tiếp, Trung Quốc tiếp tục thả nổi để  tỷ giá trao đổi của đồng nhân dân tệ với đồng đô la Mỹ giảm mạnh. Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã quyết định tỷ giá tham chiếu : 6,3306 nhân dân tệ ăn 1 đô la, so với mức vừa hạ hôm trước là 6,2298 tệ đổi 1 đô la. Đây là đợt phá giá đồng tiền mạnh nhất kể từ năm 2005.
 Thông tín viên Delphie Sureau  tại Thượng Hải :
Trong hai ngày Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã hạ 3,5% tỷ giá giá đồng nhân dân tệ so với đồng đô la Mỹ.  Quyết định phá giá kỷ lục đồng nội tệ lần này nhằm mục đích giúp giảm giá thành các sản phẩm xuất khẩu sản xuất tại Trung Quốc.
Đó là ưu tiên của chính phủ Trung Quốc sau khi những chỉ số kinh tế của tháng Bảy sụt giảm đáng báo động : Xuất khẩu giảm 8,3% trong một năm và giảm 12% đối với hàng xuất sang châu Âu, đối tác thương mại hàng đầu của Trung Quốc.
Đồng Nhân dân tệ hạ giá sẽ giúp duy trì các công ty sản xuất hàng hóa tại Trung Quốc. Vì trước chi phí sản xuất tăng cao, một số công ty đã cho chuyển nhà máy đến các nước trong khu vực Đông Nam Á hoặc Ấn Độ.
Nhưng trái lại, việc hạ giá đồng tiền này sẽ làm cho các sản phẩm nhập khẩu vào Trung Quốc trở nên đắt hơn trong khi vốn dĩ sức mua của người dân trên thị trường nội địa đã giảm không đủ bù đắp cho thâm hụt xuất khẩu.
 http://vi.rfi.fr/chau-a/20150812-trung-quoc-lan-thu-2-pha-gia-dong-nhan-dan-te
 

TS. MAI THANH TRUYẾT *TRƯỜNG ĐAI HỌC SƯ PHẠM SÀI GÒN

Hình DHSP Saigon trước 1975


Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn

Về lại Việt Nam năm 1973, việc làm đầu tiên của tôi khi đặt chân đến Sài Gòn là chỉ vài ngày sau, tôi đi mua chiếc xe đạp với giá 25.000 Đồng. Sau khi đi “chu du” gần hai tháng trường để nhìn lại những hình ảnh cũ trên đường phố cùng viếng thăm bè bạn sau bao năm xa cách. Trong suốt giai đoạn nầy, tôi vẫn còn mãi mê với quá khứ, vẫn còn mộng du (ban ngày) với nhiều cảnh cũ người xưa, những hình ảnh đã mang tôi về một quá khứ của tuổi thanh niên trong suốt thời gian tôi vắng mặt nơi quê nhà.

Hình DHSP Saigon trước 1975
Trong tôi, vẫn còn rất nhiều hình ảnh thân thương tôi đã đánh mất gần mưới năm qua, và lần lượt đượt thấy lại qua những so sánh trong ký ức xa xưa và các hình ảnh hiện tại trước mắt. Tôi đã sống lại kỷ niệm nơi trường tiểu học Trương Minh Ký, góc đường Nguyễn Thái Học và Trần Hưng Đạo (đường Kitchener và Galliéni), nơi trường Petrus Trương Vĩnh Ký, Đại học Khoa học, đường Cộng Hòa (đường Nancy), nơi Đại học Y Khoa, đường Trần Quý Cáp (đường Richard) và Cơ thể Học Viện đường Minh Mạng v.v…








 
Ban Văn Chương Sinh Ngữ , Sử Địa


Ban Khoa Học
Cũng xin nhắc lại vào thời điểm nầy, bộ mặt Sài Gòn hầu như đổi khác, không còn nét thơ mộng như xưa, và người thành phố dường như đang mang nặng nỗi ưu tư nào đó trên nét mặt mỗi khi xuôi ngược trên đường phố. Có lẽ người dân Sài Gòn lo sợ cho một sự việc không lành cho miền Nam thân yêu trong những ngày sắp tới!

Hình Trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn sau1975


Vì sao?
Vì Hoa Kỳ mới vừa ký kết Hiệp định Paris với Cộng sản Bắc Việt ngày 27 tháng Giêng năm 1973…và hình ảnh một nửa quê hương của Đất Nước sắp sửa lọt vào tay họ. Họ đây chính là Cộng sản Bắc Viết. Đây đó, văng vẳng những dư âm của các dự mưu chạy ra khỏi nước của nhiều người quen mà tôi nghe được mỗi lần ghé thăm. Những lời trách nhẹ của gia đình, tại sao tôi lại trở về giữa lúc dầu sôi lữa bỏng nầy, càng làm cho tôi mang them một tâm trạng bất an! Và còn nhiều nhiều nữa!
Đó là tâm trạng của đứa con Việt ở những ngày tháng đầu tiên trở về quê Mẹ!
Trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn: Duyên hay Nghiệp?
Trước nỗi hoang mang của người Sài Gòn, bầu không khí nơi đây dường như ngừng động lại qua những tin đồn tiêu cực cho tương lai miền Nam, tuy có hơi dao động, nhưng cuối cùng rồi tôi cũng phải đi tìm một chỗ để làm việc, mặc dù nhiều bè bạn và người quen đã giới thiệu tôi vào những nơi “công quyền”, nhưng đều bị tôi từ chối.
Trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn sau1975  - Ảnh Lê Thanh Hoàng Dân


Một hôm, khi đạp xe trên đường Duy Tân và khi quẹo qua công trường Dân Chủ (Con Rùa) tôi thấy một bảng ghi “Viện Đại Học Sài Gòn”. Ghé mắt nhìn vào, tôi quyết định vào thăm Viện. Bước lên lầu một, tôi gặp Cô thơ ký nhìn tôi và hỏi:
Ông muốn gặp ai?
Tôi ở ngoại quốc về, muốn viếng thăm Viện và xin gặp Ông Viện Trưởng.
Sau đó, Cô bảo tôi phải ghi tên và ghi mục đích viếng thăm để Cô vào trình GS Viện Trưởng. Ngồi chờ chưa đầy 5 phút sau, tôi thấy đích thân GS Trần Văn Tấn, người tôi chỉ nghe tên chứ chưa hề gặp mặt, đứng trước mặt tôi và mời tôi vào văn phòng. Sau vài câu chuyện mào đầu, ông hỏi tôi đã có ý định làm việc ở đâu chưa?



Tr
Tôi trả lời rằng:” Vì tình hình và không khí chộn rộn lúc nầy cho nên tôi muốn tìm một nơi tương đối yên ổn để “ẩn thân”. Và tôi tiếp: “Tôi muốn vào dạy học ở một trường nào đó trong giai đoạn nầy…”
Ông nói ngay không do dự là nơi đây có hai trường thích hợp với khả năng của anh mà tôi có thể sắp xếp cho anh được Đó là, Đaị học Khoa Học và Sư Phạm. Nhưng ở Đại học Khoa Học có nhiều phức tạp, không khí nhiều khi “căng thẳng” vì một số ít nhân sự còn bon chen và ở nơi đây có quá nhiều “cây cổ thụ”; còn nơi Sư Phạm thì có anh em. Sau nầy tôi mới hiểu chữ “anh em” của Ông VIện Trưởng là vì nơi trường Sư phạm có nhiều giáo sư tốt nghiệp từ Pháp.
Trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn sau1975
Khi nghe được chữ “anh em”, tôi lấy quyết định ngay tức khắ
Ông nói ngay không do dự là nơi đây có hai trường thích hợp với khả năng của anh mà tôi có thể sắp xếp cho anh được Đó là, Đaị học Khoa Học và Sư Phạm. Nhưng ở Đại học Khoa Học có nhiều phức tạp, không khí nhiều khi “căng thẳng” vì một số ít nhân sự còn bon chen và ở nơi đây có quá nhiều “cây cổ thụ”; còn nơi Sư Phạm thì có anh em. Sau nầy tôi mới hiểu chữ “anh em” của Ông VIện Trưởng là vì nơi trường Sư phạm có nhiều giáo sư tốt nghiệp từ Pháp.
Khi nghe được chữ “anh em”, tôi lấy quyết định ngay tức khắc và xin Ông Viện Trưởng (Quyền Viện Trưởng thì đúng hơn, vì sau đó, tôi được biết, GS Tấn không bao giờ làm Viện Trưởng vì có “quan hệ” thân mật với “một” người yêu của Hoàng Thượng thời bấy giờ).
Làm thủ tục và chỉ vừa hơn một tuần lễ là tôi nhận được giấy tờ chính thức của Tổng Ủy Công Vụ gửi giấy trình diện trường Đại học Sư Phạm. Ai dám nói con rùa Hành chánh của VNCH chậm lục đâu?
Âu cũng là Duyên?
Trường ĐAI HỌC SƯ PHẠM SÀI GÒN
Trường ĐHSP Sàigòn tọa lạc tại số 280, đường Cộng Hòa, quận 5, Sàigòn, giáp với phía sau trường Đại học Khoa học (ngày nay là đường An Dương Vương, Tp Hồ Chí Minh).
Trường ĐHSP Sàigòn tọa lạc tại số 280, đường Cộng Hòa, quận 5, Sàigòn, giáp với phía sau trường Đại học Khoa học (ngày nay là đường An Dương Vương, Tp Hồ Chí Minh).
Trường được thành lập bắt đầu từ niên khóa 1958-1959, theo hệ 3 năm. Để được nhận vào học năm thứ nhất, sinh viên phải qua một kỳ thi tuyển.
Niên học đầu tiên nầy, nhà trường cũng chấp nhận cho vào học ngay năm thứ 2 những sinh viên Đại học Văn khoa, it nhất đã đỗ bằng Dự bị và những ai đang theo học trường Cao đẳng Sư phạm muốn chuyển trường.
Cổng trường DHSP Saigon


Từ niên khóa 1962-1963 trở đi, học kỳ theo hệ 4 năm: Sinh viên phải đậu ít nhất là chứng chỉ Dự bị Văn khoa hoặc Dự bị Khoa học rồi mới được nộp đơn dự kỳ thi tuyển vào Đại học Sư phạm, Mỗi năm trường tổ chức một kỳ thi tuyển vào khoảng cuối tháng 7 (sau khi đã có kết quả kỳ thi Dự bị ở Đại học Văn khoa và Đại học Khoa học), mỗi khóa thi tuyển trường sẽ chọn lại cho mỗi ban từ 25 đến 30 sinh viên, sau khi trúng tuyển các sinh viên nầy sẽ tiếp tục học thêm 3 năm nữa và khi ra trường, tốt nghiệp với văn bằng "Giáo sư Trung học Đệ nhị cấp".
Từ năm 1972, Trường ĐHSP Saigon bắt đầu tổ chức thêm kỳ thi tuyển vào các ban Toán, Lý Hóa và Anh Văn cho các ứng viên vừa đậu tú tài toàn phần. Học kỳ sau khi trúng tuyển là 2 năm cho đệ nhất cấp và 4 năm cho đệ nhị cấp. Năm đầu tiên được gọi là năm "dự bị".
Sau ngày 30/04/1975 hệ thống học Dự bị Văn khoa hay Khoa học trước rồi mới được dự kỳ thi tuyển vào ĐHSP không còn nữa mà tất cả các thí sinh đều thi tuyển thẳng vào ĐHSP sau khi đã đậu bằng tú tài toàn phần.
Sinh viên ĐHSP được cấp học bổng nhưng phải ký giấy cam kết , sau khi tốt nghiệp sẽ phục vụ cho trường Trung học nhà nước ít nhất là 10 năm. Số tiền học bổng cũng được tăng lên dần theo với đà lạm phát, lúc đầu mỗi sinh viên được lãnh mỗi tháng 700 đồng VN, từ khoảng năm 1960/1961 số tiền học bổng là 1500 đồng VN và đến năm 1970 thì mỗi 70 thì mỗi sinh viên được lãnh khoảng 3000 đồng VN mỗi tháng.
(Người viết: Phạm Thị Nhung)
Từ 1958-1962 theo hệ 3 năm gọi là Cao Đẳng Sư phạm. Khóa 3 năm cuối cùng: 1962-1965. Tiếp theo là 2 khóa 4 năm: 1963-1967 và 1964-1968. Như thế năm 1966 không có sinh viên ra trường.
Từ 1966 trở đi bắt đầu khóa 3 năm + 1 năm chứng chỉ dự bị Văn khoa hoặc Khoa học. Như thế năm 1965 không có thi tuyển.(Bổ túc của Vũ Lưu Xuân)
Những cải tổ theo chiều hướng giáo dục mới

Từ năm 1972 trở đi, một số giáo sư tốt nghiệp hoặc tu nghiệp từ Pháp và Mỹ trở về làm cho bộ mặt trường Sư phạm có thêm sinh khí mới. Đó là:Lê Bảo Xuyến (Bà Lê văn) (Anh văn-Huntington Beach- Hoa Kỳ), Nguyễn Thị Đủ (Giáo dục-Việt Nam), Nguyễn Thị Phương (Hóa học- Rennes-Pháp), Mai Thanh Truyết (Hóa học-Houston-HK), Lê Thanh Hoàng Dân (Giáo dục Sư phạm-Việt Nam), Lê Quang Tiếng (Toán – Pasadena-Hoa Kỳ), Trần Kim Hạnh (Vạn vật-Giáo dục-Texas), Bùi Thị Lạng (Hải dương học-Việt Nam), Trần Kim Nở (Anh văn-Giáo dục-Dallas), Phạm Văn Quảng (Anh văn-Tâm lý giáo dục-Westminster-HK), Dương Kim Sơn (Tâm lý gia đình-Anh Văn-Toronto-Canada), Lê Thành Việt (Anh văn-Scramento-HK), Dương Thiệu Tống (Tâm lý giáo dục-Việt Nam). Nguyễn Hữu Phước (Giáo dục-Huntington Beach-HK). (Danh sách có thể còn thiếu vì tác giả viết theo ký ức).
Khởi sắc như thế nào?
Có thể nói đây là một cố gắng của Ban Giám đốc trường và các giáo sư về nước trong khoảng thời gian trên. Đứng đầu là Khoa trưởng Trần Văn Tấn (1930-2014), giáo sư Toán và có thể nói, ông là người giáo sư đã từng đi nghiên cứu, hội thảo về giáo dục trên hầu hết các quốc gia tiến bộ và đang phát triển trên thế giới. Từ đó, ông có một tầm nhìn rất thoáng cho giáo dục Việt Nam. Những buổi họp Hội đồng khoa thể hiện một tinh thần cởi mở, các thành viên phát biểu và góp ý thoải mái. Từ đó sáng kiến của luồng gió mới từ ngoại quốc về được lắng nghe.
Xin đan cử một vài cải cách sau đây:
Áp dụng phương pháp kiểm soát liên tục đề làm giảm bớt áp lực của sinh viên trong kỳ thi cuối học kỳ (được thử nghiệm ở Ban Khoa học).
Mở lớp Tiến sĩ giáo dục tại trường để các giáo sư tốt nghiệp tại các quốc gia ngoài Hoa Kỳ có điều kiện thẩm thấu một phương pháp và quan niệm giáo dục mới, nhứt là trong ngành sư phạm.
Lớp Tiến sĩ trên cũng là một phương tiện để các giáo sư tốt nghiệp tại Việt Nam hay chưa có bằng Tiến sĩ có điều kiện thăng tiến kiến thức và nghề nghiệp.
Về thực nghiệm và phương pháp giảng dạy trung học qua thí nghiệm: Trường đã thành lập các ban tu chính để cập nhật hóa những thí nghiệm mới thay thế cho chương trình thí nghiệm quá xưa. Ban Hóa học đã đi đầu trong lãnh vực nầy.
Thử ứng dụng một hình thái giáo dục mới như điều chỉnh khoảng cách giữa Thầy – Trò để giảm bớt những lề lối cổ điển và khắc khe trong quan niệm Quân-Sư-Phụ khô cứng của tinh thần Nho giáo. Từ đó, tạo điều kiện cho sinh viên đối thoại với người thầy một cách thoải mái hơn, để rồi, người thầy biết thêm về tâm tư, nguyện vọng của sinh viên. Do đó, hiệu năng của việc giảng dạy sẽ tăng hơn.
Đó là một số cải cách ban đầu. Nhưng tiếc thay, cuộc can qua của đất nước xảy ra chì một thời gian ngắn sau khi trường Sư Phạm bắt đầu chuyển hướng mới trong hai niên học cuối cùng của miền Nam.
Rồi những hình thái giáo dục từ thời thực dân, từ thời đầu của thế kỷ 20, cộng thêm lề lối “giáo dục xã hội chủ nghĩa” biến trường Sư phạm đương thời (sau hơn 36 năm qua) thành một nơi đào tạo ra người thầy giáo, không phải để khai tâm, khai trí hay đào tạo sinh viên thành một giáo viên giảng dạy, mà thực sự “chế tạo” một thế hệ thanh niên thành công cụ rao giảng cho chế độ, nói tốt cho chế độ, còn việc giảng dạy chuyên môn trở thành thứ yếu.
Trường Sư phạm cũng phải chịu cùng chung số phận trên. Chế độ thi tuyển rập khuôn theo miền Bắc thời chiến tranh, nghĩa là áp dụng chính sách “hồng hơn chuyên”, chính sách duyệt xét lý lịch có công với cách mạng hay là “ngụy”. Về nội dung đề thi luôn luôn đề cao xã hội chủ nghĩa, chiên tranh chống Mỹ, triết lý Mác Lenin là “vô địch”, là “đỉnh cao của thời đại”. Ngay cả trong các đề thi chuyên môn cũng đậm nét hận thù như những câu hỏi hoàn toàn “không giáo dục” như “một chiếc máy bay B-52 bị quân ta bắn rơi, thử xét xem có bao nhiêu đinh ốc trong máy bay đó (đề thi năm 2007…ghi lại theo trí nhớ)”. Còn các câu hỏi về khoa học là nhưng câu hỏi từ chương có trong “sách giáo khoa” in sẳn, hàng năm tuy có “hiệu đính” nhưng những lỗi lầm trong sách năm trước vẫn còn nhan nhản hiện lên trên sách mới vừa “hiệu đính” mà sinh viên cũng phải học. Người thầy tuy có thấy sai nhưng vẫn phải dạy giống như trong sách, không được “góp ý”. Chính vì vậy mà số người sau khi tốt nghiệp một vài năm, vì sự ray rứt của lương tâm đành bỏ dạy đi làm nghề khác.
Trường Sư phạm đã được đổi lốt vì bị thay thế mái ngói gạch nung âm dương cổ kính bằng những “viên gạch plastic màu đỏ chói” vô tri vô giác, thể hiện rõ não trạng xã hội chủ nghĩa mới.
Tôi tiếc cho ngôi trường Sư phạm của tôi cũng như tôi tiếc cho một người nằm xuống là BS Dương Quỳnh Hoa vì tin tưởng vào cách mạng xã hội chủ nghĩa mà những ngày cuối đời phải sống trong ray rứt và chết đi trong quên lãng, mặc dù, một thời, Bà đã đuợc phủ lên chiếc áo “Bộ trưởng Y tế” của “cái gọi là” “Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam”.
Mai Thanh Truyết
Ghi chú: Giáo sư Lê Tấn Lộc (Montreal-Canada) đính chánh lại về tên gọi của Trường trong niên khóa 1958 – 1962.
Trường ĐHSP được chính cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký nghị định thành lập, năm 1958 và ghi rõ ràng danh xưng rõ ràng là TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM.
Nghị định cho phép các sinh viên xuất ngoại năm 1960 sang Pháp tiếp tục học trình cũng ghi rõ sinh viên năm thứ mấy của Trường ĐHSP (Nghị định số 988-TTP/KH ngày 8 tháng 10 năm 1960 của Phủ Tổng Thống. Tôi còn lưu giữ Nghị định nầy).
Và các sinh viên tốt nghiệp từ năm 1958 vẫn được cấp Văn Bằng Tốt Nghiệp Đại Học Sư Phạm. (nếu tốt nghiệp)
Văn bằng nầy cho phép các đương sự được tuyển dụng làm giáo sư trung học đệ nhi cấp "chuyên khoa" (tùy môn theo học) CHÍNH NGẠCH.
Thân mến,
Lê Tấn Lộc, Triết 1/1958

PHẠM ĐÌNH LÂN * NHẬT BẢN



NHỮNG YẾU TỐ VƯƠN LÊN CỦA NHẬT BẢN
PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.




Nguồn hình : Shinto - Savitri Devi

Nhật Bản là một quần đảo ở Đông Bắc Á Châu. Như người Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam, người Nhật thuộc hoàng chủng. Nước Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản nằm trong vùng khí hậu ôn đới nên da người Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản tương đối sáng hơn da người Việt Nam sống trong vùng khí hậu nhiệt đới.

Khác với Việt Nam và Triều Tiên, Nhật Bản không hề bị người Trung Hoa đô hộ dù rằng người Nhật từng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đời nhà Đường (618 – 906). Trường An (Chang-an) tức Tây An bây giờ (Sian) từng là kinh đô ánh sáng ở Đông Á một thời. Vào thế kỷ thứ VI, các sư tăng Triều Tiên truyền giảng Phật Giáo ở Nhật Bản. Phật Giáo phát triển song song với Thần Đạo cổ truyền của dân tộc Nhật. Chữ kana xuất hiện vào thời đại Heian (794 – 1185). Vào thời đại này vai trò của Nara suy giảm trước Heian-kyo tức là Kyoto (Tây Kinh), nơi các Nhật hoàng ngự, cho đến năm 1868 khi Nhật Hoàng Meiji (Minh Trị) thiên đô về Edo và đổi thành Tokyo (Đông Kinh) để bắt đầu cuộc canh tân xứ sở theo các nước phương Tây.

Vào thế kỷ XIX Nhật Bản, Xiêm La (Thái Lan) và Thổ Nhĩ Kỳ là ba quốc gia Á Châu duy nhất không bị các cường quốc Âu Mỹ xâm chiếm. Sau cuộc canh tân của Meiji, Nhật trở thành một quốc gia kỹ nghệ duy nhất ở Á Châu. Nhật đánh bại Trung Hoa năm 1894 và buộc nước này phải ký hiệp ước Shimonoseki năm 1895. Năm 1904 Nhật áp đảo quân Nga ở Mãn Châu. Năm 1905 hải quân Nhật đánh bại hạm đội Nga trên eo biển Tsushima. Nga phải ký hiệp ước Portsmouth, nhường phân nửa đảo Sakhalin phía nam cho Nhật. Nhật đô hộ Triều Tiên năm 1910 và trờ thành một trong 05 cường quốc thắng trận trong đệ nhất thế chiến mặc dù không tham chiến. Nhật tiếp quản những vùng đất do Đức chiếm hữu ở Trung Hoa và các hải đảo trong Thái Bình Dương. Trong đệ nhị thế chiến Nhật xâm chiếm một phần lãnh thổ Trung Hoa, toàn thể các quốc gia Đông Nam Á và đe dọa cả Úc Đại Lợi. Ngày 07-12-1941 Nhật tấn công Pearl Harbor (Trân Châu Cảng). Hoa Kỳ tham chiến giúp cho các nước dân chủ Tây Âu chống lại phát xít Đức - Ý - Nhật. Ngày 06 và 09-08-1945 Hoa Kỳ dội bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki. Nhật là quốc gia phát xít cuối cùng phải đầu hàng vô điều kiện trước quân Đồng Minh ngày 14-08-1945.

Từ địa vị của một cường quốc trong ngũ cường sau đệ nhất thế chiến bên cạnh Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Ý, năm 1945 Nhật trở thành quốc gia chiến bại. Đất nước bị tàn phá vì bị oanh tạc; kinh tế kiệt quệ vì gây một cuộc chiến tranh trên một phạm vi rộng lớn cách xa đất nước họ trên 6000 km. Họ phải chịu nhiều cay đắng của một quốc gia chiến bại. Không bao lâu kinh tế Nhật được ổn định. Kỹ nghệ bắt đầu bành trướng mặc dù có nhiều ngành kỹ nghệ bị ngăn cấm. Nhật chuyển kỹ nghệ thời chiến sang kỹ nghệ thời bình với những thành quả viên mãn. Đến năm 1960 kỹ nghệ đóng tàu của Nhật vượt qua kỹ nghệ đóng tàu của Anh. Vào thập niên 1970 kỹ nghệ điện tử của Nhật cạnh tranh ráo riết với kỹ nghệ điện tử Hoa Kỳ. Từ thập niên 1980 về sau kỹ nghệ xe hơi của Nhật vượt hẳn kỹ nghệ xe hơi Hoa Kỳ. Nhật là quốc gia có nền kinh tế phồn thịnh sau Hoa Kỳ mà thôi.

Vấn đề chúng ta muốn biết là yếu tố nào đã làm cho nước Nhật vươn lên?

1. Yếu tố địa lý



Nhật Bản là quần đảo không có biên giới chung với Trung Hoa nên không bị khống chế của quốc gia to lớn và đông dân này trong quá khứ. Vào thế kỷ thứ XIII người Mông Cổ xâm chiếm Trung Hoa. Họ đem quân đi đánh Nhật Bản nhưng chiến thuyền của họ bị bão đánh chìm hai lần nên họ từ bỏ ý đồ xâm lăng quần đảo Nhật. Người Nhật cám ơn những Thần Phong mà họ gọi là Kami Kaze đã cứu xứ họ khỏi họa xâm lăng của Mông Cổ.

Dân hải đảo quen với đời sống cô lập. Họ phải phấn đấu nhiều để phá vỡ sự bao vây của biền cả và núi rừng trùng điệp. Sự đấu tranh sinh tồn của họ đòi hỏi họ phải có nhiều sáng kiến và tinh thần phiêu lưu mạo hiểm. Không có võ khí thì họ phải nghĩ ra võ thuật để tự vệ. Họ thương yêu nhau, giúp đỡ nhau và đoàn kết với nhau để đương đầu lại với ngoại cảnh và quyết chiến với kẻ gian manh đến cướp phá xóm làng của họ.


2. Tinh thần học hỏi và sáng tạo

Người Nhật theo Phật Giáo Đại Thừa của Trung Hoa qua trung gian các sư tăng Triều Tiên. Nhưng đạo Phật ở Nhật là một dạng “Tin Lành” trong Phật Giáo Đại Thừa. Zen (Thiền) được đại chúng hóa ở Nhật. Zen được phổ biến vào thế kỷ XII đồng thời với những phái Thiền thời nhà Lý ở Việt Nam. Zen làm cho người Nhật kiên nhẫn, trầm tĩnh, chịu đựng, thư thả, lạc quan trước mọi thử thách thường xuyên trên đất nước họ: động đất, núi lửa, cuồng phong, sóng thần và sự vật lộn với cuộc sống trong một quốc gia nhỏ hẹp, đông dân với 85% diện tích do núi và rừng chiếm ngự. Zen giúp cho người Nhật biến đất nưóc họ thành một tiên cảnh đầy hoa thơm cỏ lạ đáng yêu và đáng sống mặc dầu phải đối đầu với những thử thách cam go từng ngày. Sự yêu thương cây cỏ của người Nhật nói lên phần nào sự trân quí nhân tài và ưa chuộng sức mạnh tập thể dân tộc của họ.

Các sư tăng Nhật học thuật uống trà của người Trung Hoa và đã biến thuật uống trà thành Trà Đạo (Chanoya) với những nghi thức phức tạp dành cho những người trí thức, trưởng giả, phong lưu theo học suốt cả đời họ. Phật Giáo có phát triển nhưng không vì thế mà Thần Đạo (Shintoism) bị triệt tiêu.

Người Nhật tạo ra chữ kana dựa vào Hán tự.

Hiến pháp 1889 của Nhật không do Quốc Hội Lập Hiến soạn thảo và thông qua mà do một nhóm chuyên viên dưới sự điều khiển của Ito soạn thảo. Họ thích ứng với sinh hoạt dân chủ dễ dàng sau năm 1945 với bản hiến pháp 1946 không do người Nhật soạn thảo mà do một nhóm luật gia Hoa Kỳ làm ra. Đó là hiến pháp hiện hành.

Họ học phương pháp tổ chức và quản lý kinh doanh theo lối Hoa Kỳ nhưng lúc nào cũng tìm cách vượt qua những quốc gia đã dạy họ bằng những sáng tạo riêng có nhiều hiệu quả hơn. Ngày nay Hoa Kỳ cũng phải nhìn nhận phương pháp quản lý của Nhật có nhiều ưu điểm làm cho Hoa Kỳ không thể xem thường được.


3.- Tinh thần kỷ luật và tôn kính lãnh đạo

Thần Đạo tạo cho người Nhật một niềm tin vô điều kiện rằng người lãnh đạo của họ là dõng dõi của Amaterasu (Thái Dương Thần Nữ). Người lãnh đạo của Nhật ngày xưa không phải là vua hay hoàng đế thông thường mà là Thiên Hoàng (Tenno, Mikaido). Trong thời phồn thịnh của nhà Đường nhiếp chánh Shotuku (574-622) của Nhật không xem Trung Hoa là Thiên triều mà chỉ xem đó là xứ mặt trời lặn và Nhật là xứ mặt trời mọc .

Do sự tôn kính xuất phát tự đáy lòng của người Nhật đối với Thiên Hoàng mà từ đời Thiên Hoàng đầu tiên Zimmu năm 600 trước Tây Lịch đến nay chỉ có một dòng lãnh đạo mà thôi. Dòng lịch sử trong sáng này không được tìm thấy ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Từ năm 1185 đến 1867, ngót 700 năm liền Thiên Hoàng vô quyền trước các tướng quân (shogun). Từ năm 1603 đến 1867 Nhật Bản đặt dưới sự cai trị của các tướng quân dòng Tokugawa. Thiên Hoàng vô quyền nhưng không vị tướng quân nào lật đổ Thiên Hoàng cả. Năm 1867 tướng quân Yoshinobu Tokugawa từ chức và trao quyền cho thái tử Mitsu Hito nắm quyền để canh tân xứ sở. Đó là Thiên Hoàng Meiji lên ngôi khi mới lên 15 tuổi. Toàn dân ủng hộ vị Thiên Hoàng trẻ hoàn thành sứ mạng lịch sử trước sự đe dọa của sức mạnh kỹ thuật của các liệt cường Âu-Mỹ.

Thái Tử Yoshihito Shinno lên ngôi năm 1912 dưới niên hiệu Taisho. Thiên Hoàng Taisho bị bệnh bẩm sinh (1), sức khỏe rất kém nên mọi việc nước đều do các quần thần trông coi. Các triều thần không vì thế mà mưu toan soán ngôi hay gây khuynh đảo chánh trị trong triều. Trái lại tất cả đều hết lòng với Thiên Hoàng và đất nước. Dưới triều Thiên Hoàng Taiso, Nhật là một trong Ngũ Cường chiến thắng trong đệ nhất thế chiến mặc dù Nhật chỉ tuyên chiến với Đức chớ không hề gởi quân sang chiến đấu trên chiến trường Âu Châu như Anh, Pháp, Hoa Kỳ và Ý. Hiệp ước Versailles cũng dành cho Nhật nhiều quyền lợi của Đức trên bán đảo sơn Đông (Shantung) và trên các hải đảo Thái Bình Dương.

Tinh thần kỷ luật và tôn kính cấp chỉ huy cũng là tinh thần võ sĩ đạo (bushido) mà các hiệp sĩ (samurais) được huấn luyện ngay từ khi biết cầm võ khí trong tay.Tinh thần đó làm cho người Nhật tiến gần với Đức thời Bismarck cũng như dưới thời Adolf Hitler sau này. Hiến pháp 1889 của Nhật mô phỏng theo hiến pháp của Đức. Hiến pháp này bị hủy bỏ để được thay thế bằng hiến pháp 1946 do các nhà luật học của quân đội Đồng Minh (2) chiếm đóng soạn ra nhằm dân chủ hóa nước Nhật và biến Nhật hoàng trở thành người lãnh đạo với quyền hành tượng trưng trong chế độ quân chủ lập hiến đại nghị. Dù vậy người Nhật vẫn tôn thờ Nhật hoàng trong tâm trí của mình.
4. Đáp ứng kịp thời trước hoàn cảnh mới

Nếu vội vã kết luận người Nhật bảo thủ hay cấp tiến thì e rằng sự kết luận chỉ đúng ở một tỷ lệ chừng mực nào đó thôi. Người Nhật kết hợp TÂN-CỔ một cách hài hòa.

Về chánh trị chế độ dân chủ vẫn được duy trì và tôn trọng.

Về tôn giáo Thần Đạo vẫn có ảnh hưởng lớn trong đời sống của người Nhật. Các đền đài cổ xưa vẫn được bảo trì như những di sản văn hóa lâu đời của xứ sở. Tượng Phật khổng lồ bằng đồng cao 11,40 m, nặng 122 tấn ở Kamakura được đúc từ thế kỷ XII nay vẫn còn nguyên vẹn. Tượng Phật ở Kamakura cho thấy kỹ nghệ luyện kim và kỹ thuật đúc tượng của Nhật đã trưởng thành từ năm 1192. Các chùa Phật Giáo Kokukuji, Todaiji với tượng Phật bằng gỗ to lớn nhất thế giới đã có từ thời đại Nara (710-749) nay vẫn còn được bảo trì. Những đền đài, cổng đền Thần Đạo, chùa Phật Giáo bằng gỗ cây bách (cypress) là những công trình kiến trúc bằng gỗ vĩ đại và bền vững ngay trong một quốc gia có vũ lượng cao và thường bị thiên tai.

Hôn lễ được cử hành theo nghi thức Thần Đạo. Việc khấn xin trong đền Thần Đạo hay đi tìm thầy bói để cố vấn một việc gì đó không hoàn toàn biến mất trái lại vẫn còn thịnh hành. Việc tin tưởng vào thiêng mộc vẫn tồn tại. Nhờ đó Nhật còn tồn giữ nhiều cây cổ thụ từ 500 tuổi đến 1.000 tuổi với những hình dáng kỳ dị.

Nhưng người Nhật mạnh dạn cử hành Tết dương lịch thay vì Tết theo âm lịch như xưa. Họ dùng lúa mì nhiều hơn lúa gạo khi thấy việc ăn lúa mì tiện lợi, đỡ tốn thì giờ và tiền bạc. Họ quên hẳn Đông Y để hướng về Tây Y. Quân sĩ mặc đồng phục chớ không mặc hakama của các hiệp sĩ ngày xưa. Nam nữ đều mặc Âu Phục cho gọn gàng khi làm việc trong văn phòng, trong nhà máy kỹ nghệ hay ngoài công trường. Áo kimono chỉ được dùng trong các ngày lễ. Nó trở nên đắt giá so với Âu phục.

Chế độ tướng quân xây dựng trên võ nghiệp. Nhưng trước những phát súng đại bác bắn thị uy của Perry năm 1853, tướng quân đành phải ký những hiệp ước bất bình đẳng với các nước Âu Mỹ. Xiêm La cũng có hành động tương tự bằng cách ký kết hàng loạt hiệp ước bất bình đẳng với các nước Âu Châu. Nhờ vậy mà không quốc gia nào độc chiếm Nhật hay Xiêm La. Đó là sự nhượng bộ tính toán vì dùng sức mạnh của các nước Âu-Mỹ để họ kềm chế lẫn nhau.

Việc tướng quân Yoshinobu Tokugawa từ chức là một hành động yêu nước và thức thời. Từ bỏ quyền uy đã có trên 250 năm (2) thực sự không phải là một chuyện dễ dàng mặc dù năm 1868 chiến tranh Boshin (Mậu Thìn) bùng nỗ giữa phe tướng quân và phe Thiên Hoàng Meiji. Phe của tướng quân Yoshinobu bị đánh bại. Thiên Hoàng Meiji không xử tội Yoshinobu. Năm 1902 vị tướng quân cuối cùng nầy được xem là một hoàng thân.

Nếu năm 1853 tướng quân Yoshinobu không thể nào lấy kiếm, cung, gươm, dáo đương đầu với đại bác của Perry thì năm 1945 quân đội Nhật không thể nào đương đầu lại với võ khí nguyên tử của Hoa Kỳ. Nhưng ai nêu ý kiến đầu hàng thì bị giết chết ngay tức khắc. Nhật hoàng Hirohito nhận trách nhiệm tuyên bố chấp nhận đầu hàng vô điều kiện và được toàn dân tuân theo.

Công việc trước mắt là làm sao tái thiết xứ sở và phục hồi kinh tế thời hậu chiến.

Hoa Kỳ bị ray rứt ít nhiều khi phải dùng hai trái bom nguyên tử để kết thúc chiến tranh. Hai trái bom nguyên tử đã hủy sạch hai thành phố Hiroshima và Nagasaki, gây tử vong cho 200.000 người.

***

Cuộc chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Sô làm cho vai trò của Nhật trở nên quan trọng. Hoa Kỳ không mạnh tay trừng phạt Nhật mà còn giúp đỡ cho nước này ổn định kinh tế. Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) giúp ích rất nhiều cho việc phục hồi kinh tế Nhật vì nước này gần chiến trường nên sự tiếp liệu được nhanh chóng và dễ dàng hơn, Nhật chuyển sang kinh tế thời bình với kết quả mỹ mãn nhờ:
Cần cù lao động và yêu công việc làm của người Nhật
Đời sống ở Nhật rất khó khăn. Người Nhật đương đầu với thiên tai: động đất, sóng thần (tsunami), núi lửa, bão tố. Nông dân Nhật không có nhiều đất nên họ chăm sóc mảnh đất của họ như người làm vườn hoa. Đường xá ở Nhật chật hẹp. Người lái xe phải khéo léo và bình tĩnh mới tránh được tai nạn và tránh việc gây tiếng động ồn ào hay những lời chửi rủa ầm ĩ ngoài đường. Điều này hiếm thấy ở Nhật. Nhật sản xuất xe hơi nhưng để bán ra nước ngoài. Trong nước người ta lái xe nhỏ và vuông để tiết kiệm diện tích nơi đậu xe. Đa số dân đều dùng xe bus hay xe lửa đi làm.

Nước Nhật rộng 373.430 km2 nhưng có đến 120 triệu dân. Có một công việc làm là một danh dự. Người làm công việc dù nhiều tiền hay ít tiền vẫn tỏ ra yêu công việc và chu toàn công việc một cách hoàn hảo. Một người quét lá quanh đền Thiên Hoàng Meiji hăng say quét từng chiếc lá trên một diện tích rộng lớn. Một người tưới hoa trong khách sạn ngồi lau từ chiếc lá trầu bà cho bóng và sạch bụi! Tất cả đều làm việc một cách say sưa của người yêu nghề.
Cải thiện phẩm chất hàng hóa
Giữa hai thế chiến Nhật chú trọng đến số lượng hàng sản xuất để bán giá rẻ chớ không quan tâm đến phẩm chất của món hàng. Họ sản xuất đồng hồ bán cân để cạnh tranh với đồng hồ Thụy Sĩ.

Sau 1945 hàng hóa Nhật có phẩm chất cao để phục hồi niềm tin của người tiêu thụ. Radio, truyền hình, tủ lạnh, xe gắn máy Nhật giúp cho các quốc gia đang mở mang tiếp xúc với những tiện nghi vật chất mới. Đồng hồ, máy chụp ảnh, máy quay phim, điện thoại di động và xe hơi của Nhật được người tiêu thụ hưởng ứng và ca ngợi, khác với những thành kiến về hàng hóa kém phẩm chất và rẻ như bèo của Nhật giữa hai thế chiến. Hàng của Nhật vừa bền, vừa đẹp lại thích hợp với túi tiền và thẩm mỹ địa phương của người tiêu thụ. Thí dụ: Xe bán ở Việt Nam phải có màu nhạt và tay lái bên trái vì người Việt Nam thuận tay phải và không thích màu đậm. Loại xe bán ở Thái Lan thì lại khác vì họ thuận tay trái và thích màu sậm.
Lịch sự, sạch sẽ, hiếu khách, lương thiện và đúng giờ
Đó là những ưu điểm mà nước Nhật hiên đang có. Những nhà kinh doanh hay du khách đến Nhật chắc chắn sẽ thích thú về sự sạch sẽ của đường phố, bến xe, nhà vệ sinh công cộng, v.v. Họ cũng bị thu hút về cách ăn mặc đẹp của người Nhật từ học sinh đến người đi đường. Thành phố rộn rịp vì xe cộ và người đi bộ nhưng lại yên tĩnh và ít xảy ra tai nạn vì lái xe bất cẩn. Điều đẹp mắt là các xe lớn nhỏ ngoài đường đều không bị rỉ sét vì theo qui định, cứ hai năm chủ xe phải sơn và sửa xe một lần để đảm bảo máy móc tốt và vẻ đẹp bề ngoài của chiếc xe. Việc mua sắm xe cũng không dễ dàng cho dù có đủ tiền mua xe. Vì nhà cửa ở Nhật chật hẹp, rất nhiều nhà không có chỗ để đậu xe. Vì vậy người mua xe chỉ được phép mua sau khi cảnh sát giám định nhà người đó có chỗ đậu xe.

Dù là người ngoại quốc hay bản xứ, du khách đi đến đâu cũng được chào kính trịnh trọng. Trước khi xét giấy trên toa xe lửa, nhân viên đứng thẳng người rồi cúi mình chào hành khách trước khi bắt đầu nhiệm vụ của mình. Người phụ nữ bán nước giải khát đứng chào hành khách trong toa trước khi bán hàng.

Du khách được sự an tâm khi đi ngoài đường nghĩa là không sợ bị giựt tiền hay gạt gẫm vì không biết đường hay không biết xài tiền Yen. Người bình dân Nhật không giỏi ngôn ngữ nhưng sự lương thiện, hiếu khách và đúng hẹn của họ làm cho mọi người đều lưu lại những kỷ niệm đẹp khi đến cũng như rời khỏi xứ này.

Những đặc điểm trên giúp ích cho việc kinh doanh và phát triển kỹ nghệ du lịch của Nhật rất nhiều. Đó là thành quả tốt đẹp của công tác giáo dục quần chúng. Thành quả này được tô điểm bằng tinh thần tự giác, óc tự trọng và ước muốn được đóng góp công sức cho sự phồn vinh đất nước của người Nhật.

Fukuzawa Yukichi (1835-1901) là người có công lớn trong việc phát triển nền tân giáo dục ở Nhật trước khi có cuộc canh tân của Thiên Hoàng Meiji. Ông sáng lập ra trường Keio-Gijuku tức Viện Đại Học Keio bây giờ. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội năm 1907 được thành lập dựa vào sáng kiến tiền phong của Fukuzawa với trường Keio-Gijuku. Thượng tọa Thích Thiên Ân tốt nghiệp tiến sĩ triết học tại trường đại học Keio. Ngày nay Nhật có nhiều trường đại học có tầm vóc quốc tế như Oxford, Cambridge, Harvard, Sorbonne. Đại học Nhật đào tạo 15 khôi nguyên giải Nobel về vật lý, hóa học, y khoa, văn chương v.v.

***

Kinh tế Nhật sau khi bại trận năm 1945 vượt hẳn kinh tế của chính nước này giữa hai thế chiến (1919-1939). Ba quốc gia bại trận Đức, Ý, Nhật đều phục hưng kinh tế nhanh chóng. Nhưng sự phục hưng kinh tế của Nhật trội hơn cả. Nước Nhật chỉ bằng 1/28 diện tích nước Hoa Kỳ nhưng nền kinh tế của Nhật đứng hạng nhì sau Hoa Kỳ mà thôi. Nhật hoàng Hirohito là Nhật hoàng thời chiến khi đế quốc Nhật bành trướng sang lục địa Á Châu và Nhật hoàng thời phồn vinh kinh tế sau khi bại trận. Thời ngự trị của Hirohito (niên hiệu Showa) đánh dấu bằng sức mạnh quân sự thời chiến và sức mạnh kinh tế thời bình. Nước Nhật thời hậu chiến tìm cách xóa tan những ấn tượng xấu về người Nhật thời đệ nhị thế chiến để đẩy mạnh kinh thương Nhật với thế giới bên ngoài. Năm 1989 Nhật Hoàng Hirohito băng hà. Các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ chánh trị đều gởi đại diện đến tham dự đám tang của ông.
Viết đến đây bỗng dưng nước mắt tự tuôn trào. Hình ảnh linh hồn Phong Trào Đông Du năm 1905 ẩn hiện trước mắt tôi. Những giòng chữ Việt Nam Vong Quốc Sử, Hải Ngoại Huyết Thư, Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư, Ngục Trung Thư… lảng vảng trong tâm tôi. Cách đây 104 năm nhà cách mạng Phan Bội Châu đã âm thầm đặt chân trên quê hương của Thiên Hoàng Meiji với ước vọng học hỏi những điều cần thiết cho việc giải phóng quê hương và duy tân đất nước. Con chim Việt trên đất khách mỏi mắt trông về tổ ấm ở cành Nam (3). Nhưng ngày trở lại cành Nam là ngày nhà cách mạng khả kính của dân tộc bị lãnh án tử hình. Bản án nầy được đổi thành án an trí trên Bến Ngự, Huế, nơi người trút hơi thở cuối cùng vào năm 1940 trong cảnh thiếu thốn bần hàn.

Tôi xin mượn những giòng chữ này để bày tỏ sự ngưỡng mộ trước thành quả canh tân của Thiên Hoàng Meiji và để tưởng nhớ đến nhà cách mạng Phan Bội Châu (1867-1940) đã khước từ cuộc sống nhung lụa để đổi lấy cuộc sống chông gai và phong ba bão tố vì thiết tha cho độc lập xứ sở và tiền đồ dân tộc.

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

VŨ VĂN VIỆT * NHÀ VĂN NỮ CANADA


 Nữ nhà văn gốc Việt giành giải thưởng sách Canada

Tiểu thuyết đầu tay "Ru", kể về hành trình định cư ở Bắc Mỹ, của tác giả Kim Thúy chiến thắng tại giải thưởng Canada Reads.
· Günter Giesenfeld: 'Nỗi buồn chiến tranh' hay hơn 'Phía Tây không có gì lạ'


Ngày 19/3, tiểu thuyết Ru của nhà văn gốc Việt - Kim Thúy - giành chiến thắng tại giải thưởng Canada Reads lần thứ 14, do đài CBC, Canada tổ chức. Đây là giải thưởng thường niên, thành lập từ năm 2002, nhằm chọn ra những cuốn sách hay, có thể làm thay đổi quan điểm, thách thức định kiến và soi sáng vấn đề cho người đọc. Tại vòng chung kết, 5 học giả cùng cuốn sách họ đề cử lần lượt lên phản biện, chọn ra cuốn sách được khẳng định là "đáng đọc nhất ở Canada".


Được đề cử bởi giám đốc Liên hoan phim Quốc tế Toronto - Cameron Bailey, Ru vượt qua bốn tác phẩm khác để chiến thắng giải thưởng. Ru kể về một cô gái rời Sài Gòn từ năm 10 tuổi vì chiến tranh, theo đường biển đến định cư ở Montreal, Quebec. Nội dung sách được tác giả lấy cảm hứng từ chính cuộc đời mình. Ông Cameron Bailey nhận định: "Ru là một trong hàng triệu câu chuyện về di cư ở quốc gia này. Một câu chuyện đau lòng được thể hiện bằng bút pháp tài tình khiến nó đẹp. Đây là câu chuyện về tương lai của Canada, quốc gia của người bản địa nghìn xưa đang giang tay kết nối với thế giới".

Nhà văn Canada gốc Việt Kim Thúy có tiểu thuyết đầu tay "Ru" gây tiếng vang ở các giải thưởng thế giới.
Bất ngờ vì thắng giải, nhà văn Kim Thúy chia sẻ: "Một lần nữa, giải thưởng này lại chứng minh rằng cuộc sống của tôi quả thực là chuyện cổ tích vàRu đã được các hoàng tử cứu vớt. Tôi không biết phải diễn tả thế nào, tôi cảm thấy mình đang ở xa quê hương. Hôm nay tôi muốn được ở tại quê nhà mình".


Sinh năm 1968 ở Sài Gòn, rời Việt Nam từ năm 10 tuổi, Kim Thúy sang Canada làm thợ may, phiên dịch, luật sư, chủ hàng ăn ở bang Montreal, bình luận viên ẩm thực trên truyền hình và đài phát thanh Canada. Cô hiện sống ở Montréal.


Ru là tác phẩm đầu tay của Kim Thúy, xuất bản năm 2009 và lập tức trở thành sách bán chạy ở Pháp. Bản quyền sách tới nay đã được bán cho 25 quốc gia, bao gồm Trung Quốc và các nước nói tiếng Ả rập. Năm 2010, cuốn tiểu thuyết giành chiến thắng giải thưởng Governor General's Awards và Prix du Grand Public Salon du livre de Montréal. Năm 2012, Rulọt vào chung kết giải thưởng Scotiabank Giller Prize và Man Asian Literary Prize. Sau Ru, tiểu thuyết thứ hai của tác giả mang tên Mãn, lấy bối cảnh Canada, kể về tình yêu giữa một đầu bếp người Việt và một bếp trưởng đến từ Paris đã có vợ.


Năm nay, bốn cuốn sách khác cùng được đề cử với Ru gồm And the Birds Rained Down của Jocelyne Saucier, Intolerable: A Memoir of Extremes của Kamal Al-Solaylee, The Inconvenient Indian của Thomas King và When Everything Feels like the Movies của Raziel Reid.


Vũ Văn Việt
Nguồn : Tạp chí Văn Mới số 7 tháng 6 năm2015
http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/nu-nha-van-goc-viet-gianh-giai-thuong-sach-canada-3160584.html

No comments: