Saturday, November 26, 2016

TUẤN KHANH -VIETTUSAIGON - TƯỞNG NĂNG TIẾN -THICH MINH CHÂU


NS. TUẤN KHANH * NHỮNG BIẾN ĐỘNG


tuankhanh's picture

   
Hình ảnh hàng chục ngàn người chạy xô đẩy tranh nhau vào được khu vực đền Thượng, Phú Thọ làm lễ giỗ tổ Hùng Vương năm nay đã mang lại cho không ít người chứng kiến cảm giác sợ hãi.

Không phải sợ hãi vì sự hỗn loạn, đạp nhau có thể thiệt hại nhân mạng, mà kinh hoàng vì đó là hình ảnh của cơn biến động nhân gian, mà tín ngưỡng chỉ là một cái cớ.

Việc thờ cúng các đời huyền sử Hùng Vương như một cách ghi nhớ tổ tông, giống nòi không phải là chuyện lạ, mà đã có từ cả trăm năm nay.

Kể cả lúc chưa thống nhất đất nước, ngày giỗ tổ Hùng Vương ở miền Nam cũng là một ngày lễ trọng thị. Nhưng mãi đến năm 1995 thì ngày lễ này mới được chính thức nhìn nhận trên cả nước, vào ngày 10/3 âm lịch.

Bất ngờ vào ngày lễ năm nay, hình thức vọng bái mang hình thái tín ngưỡng dân gian này trở thành đại lễ quốc gia, tạo nên một cuộc biến động khó lường.

Nếu tĩnh tâm nhìn lại, người dân trên đất nước này đang bị dắt tay đi vào vô số những cuộc vui – biến động nhân gian như vậy.

Từ nhiều năm nay, từ các lễ hội “cấp quốc gia” cho đến các cuộc vui rầm rộ như bóng đá, con người bị hút theo. Khóc cười nghiêng ngả. Bùng phát các phong trào giành lộc, xin ấn, nhét tiền vào tay Phật, rồi gào thét theo đường bóng bất lực của đội tuyển quốc gia trong giấc mơ không tưởng như bánh vẽ, so với hiện thực.

Những người bình tĩnh lùi xa và nhìn ngó các dòng chảy biến động đó ắt hẳn luôn âu lo, không hiểu được trào lưu nào, điều gì đang xô đẩy người Việt dẫm đạp nhau, trở thành những hình dạng méo mó, kỳ lạ với cuộc sống ngày thường từng có.

Tên gọi của các loại lễ hội, giỗ cúng đâu xa lạ gì với người Việt. Tổ chức các lễ hội êm đềm và thành kính cũng không phải là một điều quá nhiêu khê với người Việt.

Hãy thử nhìn lại các lễ hội lớn ở miền Nam từ cả thế kỷ nay, như ở Bình Dương, Châu Đốc, An Giang… con số người tham dự lên đến cả trăm ngàn nhưng mọi thứ vẫn trật tự và khiêm cung.

Nhưng vài năm nay, việc cổ suý và phong trào thờ cúng lễ lạt dựng vội lên, ai ai cũng bất ngờ khi thấy thảm cảnh người người xông vào giật chậu hoa, cướp cây cảnh. Người người xông lên chùa rải tiền lẻ tranh mua Phật, chen nhau để móc tiền chấm máu heo, máu trâu bị chém sống để lấy hên. Lại chực chờ sẵn sàng đạp chết nhau để xin một cái ấn vô nghĩa, rồi lại có thể bán đi với giá cắt cổ. Rồi đập vào mặt nhau, đánh vỡ đầu để giật cho được cái phết may mắn…

Thật khó mà tìm một tên gọi khác cho loại cúng bái hay lễ hội như vậy, nếu không phải là những cơn biến động nhân gian có chủ đích và tràn lan.

Mỗi năm Việt Nam có khoảng 8.000 lễ hội, thờ cúng tín ngưỡng dân gian, tức trung bình mỗi ngày có khoảng 20 lễ hội.

Trong đó có hàng ngàn lễ hội, cúng bái được dựng nên như những dự án kiếm tiền của chính quyền địa phương, bỏ túi riêng cho các cá nhân bí hiểm nào đó, dọc theo chiều dài đất nước.

Những lễ hội dài ngày làm lạc hậu, trì trệ đất nước và con người. Tín ngưỡng được dựng lên kéo dài làm dân tộc mê muội.

Lễ hội, thờ cúng nhộn nhịp cả nước khiến người ta quên đi những điều cần biết hơn là hưởng thụ niềm vui trên đất nước này.

Như rồi người ta quên nhanh vụ điều tra công an đánh chết dân ở Tuy Hoà, luật sư Nguyễn Văn Thắng tố cáo việc che đậy tội ác, đã tức giận đến mức tuyên bố “sẵn sàng chết chứ không thể hèn” mà chấp nhận công lý bị bẻ cong.

Nhân dân được mời vào các phong trào rộn rịp với thần linh xa xôi, tổ tiên huyền sử nhưng lãng quên đất nước đang ngồi trên lửa với nợ công quốc gia, thực phẩm nhập khẩu vào đầu độc từng gia đình và tham nhũng kinh tế.

Hàng chục ngàn người sẽ mê mải xô nhau vào nơi vái lạy trên đất liền, không nhớ rằng giờ đây là mùa ra biển của ngư dân, nhưng ít còn ai dám đi xa vì kinh hoàng khơi xa đầy kẻ ác, kể cả nơi chính quyền Trung Quốc tặng không hàng chục ngàn USD cho các tàu cá của họ áp sát Trường Sa, không cần đánh bắt.

Thế kỷ 19, khi người Pháp đang đô hộ Việt Nam, họ cũng tổ chức vô số các cuộc vui, các lễ hội như hội chợ, thi leo cột mỡ, đấu xảo, đua xe đạp vòng quanh Đông Dương… để thu hút người dân vào cuộc vui, vào hưởng thụ mà quên tình cảnh đất nước.

Để rồi những anh hùng ái quốc như Nguyễn Thái Học chết ngậm ngùi trong tiếng vỗ tay cho tình quê hương khốc hận.

Nếu có biến động nhân gian, sao không là cơ hội cho cả nước cùng rộn rã đứng lên vạch mặt bọn quan chức tham nhũng, tố cáo “bạn vàng” đang leo cao luồn sâu vào đất nước, bá quyền trên biển Việt.

Nếu là biến động nhân gian sao không dịp là thức tỉnh các trái tim để triệu triệu người cùng dõi theo đường đi nguy nan ra khơi của ngư dân, thức tỉnh lòng tự trọng của người Việt về chuyện vì sao trên quê hương mình, nay lại nhan nhản những nơi chỉ xài tiền nhân dân tệ, chỉ tiếp người Trung Quốc mà thôi?

Thế nhưng chúng ta chỉ còn thấy những cuộc diễn tập son phấn rẻ tiền và vô bổ – như chuyện làm những cái bánh chưng hàng tấn, những tô mì khổng lồ để dâng cho ngày giỗ tổ, cho lễ lạt trong khi những đứa trẻ đói khát vẫn còn đầy ở vùng cao nguyên, những vùng khô hạn và cứu đói ngày càng dài trong danh sách.

Những cuộc biến động nhân gian vui cười không ngớt ấy như đang dẫn dắt khiến người Việt vô tâm hơn, tham lam hơn, ích kỷ hơn, và người Việt không còn biết thương người Việt. Những cuộc biến động nhân gian trình tự đó, một ngày nào đó rồi sẽ dẫn đến một đổi thay khôn lường.

Con người rồi sẽ đứng ở những biên giới mơ hồ, vuốt mặt nhìn nhau và tự hỏi tại sao chúng ta phải trả giá cho những điều này?

VIETTUSAIGON * CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

Sự khốn nạn là kim chỉ nam của chế độ?


Vì sao phải nói rằng sự khốn nạn là kim chỉ nam của chế độ? Có lẽ phải quay trở lại câu chuyện của hai người đàn ông gặp xui xẻo trong tuần qua, mặc dù đây không hẳn là câu chuyện điển hình về tính khốn nạn nhưng nó mới nhất và cũng là ví dụ sinh động về điều nay.
Câu chuyện thứ nhất: Ông Nguyễn Văn Tấn phải nộp phạt 17 triệu đồng vì chưa kịp trình giấy phép kinh doanh của quán Xin Chào mà chỉ mới trình giấy hẹn cấp phép kinh doanh. Và sau khi có đầy đủ giấy tờ kinh doanh thì ông bị công an và viện kiểm sát huyện Bình Chánh, Sài Gòn truy tố hình sự về an toàn thực phẩm trong lúc quán Xin Chào chưa có khách hàng nào bị ngộ độc thực phẩm hay bị ảnh hưởng sức khỏe vì ăn uống ở đây.

Và vụ thứ hai: Ông Nguyễn Văn Bỉ, một nông dân nghèo, đang sống trong căn nhà cấp bốn xây theo diện nhà tình nghĩa cất chòi nuôi vịt và cũng bị công an, viện kiểm sát Bình Chánh khởi tố hình sự vì đã cất chòi nuôi vịt không có phép và ông có thể bị ghép tội xây dựng nhà trái phép. Mặc dù việc xây dựng nhà trái phép cũng không phải là tội hình sự.

Ở các hai câu chuyện của ông Tấn và ông Bỉ có những điểm chung: Quyết định khởi tố do ông Nguyễn Văn Quý – Trưởng công an Bình Chánh ký và hoàn tất hồ sơ khởi tố bởi Viện kiểm sát huyện Bình Chánh; Cả hai ông đều bị khởi tố hình sự trong lúc mọi tình tiết vi phạm (nếu có) của hai ông đều không thể đi đến khởi tố hình sự; Cả hai ông đều là người lao động chân chính và bị hại bởi công an, viện kiểm sát.
Thử đặt ngược vấn đề: Tại sao gần đây, bất kỳ vụ việc gì cũng có thể bị hình sự hóa? Và những vụ hình sự hóa trên đây nói lên điều gì?
Ở câu hỏi thứ nhất, hỏi mà cũng là trả lời, chắc chắn sắp tới đây, ngành công an sẽ bằng mọi giá hình sự hóa tất cả mọi chuyện. Vì hơn bao giờ hết, lòng dân đã hoàn toàn trống rỗng với chế độ Cộng sản. Và đây là mối nguy lớn nhất của đảng Cộng sản Việt Nam. Người dân đã thấy rõ ruột gan của nhà cầm quyền, thậm chí họ hiểu rõ tâm tính của kẻ cai trị họ.

Ông Tấn, chủ quán Xin Chào dù có mù mờ cũng thừa hiểu rằng ông đang sống trong chế độ mà công an có thể viện bất kì lý do nào đó để hù dọa ông, mục đích hù dọa là để kiếm phong bì, mè nheo, vòi vĩnh. Nhưng ông đã chơi quá cứng, đã làm đúng theo những gì pháp luật qui định nên bọn họ không xơ múi được gì, chuyển qua chơi bẩn với ông. Chuyện này không lạ!
Còn ông Bỉ, chuyện này chắc chắn là ông bị hình sự hóa rồi. Vì kinh nghiệm những vụ như Đoàn Văn Vươn đã cho thấy người dân sẵn sàng cho nổ tung bình gas để bày tỏ chính kiến trước những bất công do nhà cầm quyền mang lại. Người dân sẵn sàng để cho bình gas và bom xăng nói thay cho nỗi uất ức, bất công mà họ đã gánh chịu.

Chính vì người dân không còn tin tưởng vào nhà cầm quyền, vào đảng lãnh đạo nên nỗi sợ hãi của đảng Cộng sản đang ngày càng lớn dần. Dùng thủ đoạn hay dùng những đòn bẩn để hại dân nếu nói đơn giản thì đó là biểu hiện của tính tiểu nhân, của kẻ hèn hạ nhưng nếu nói rộng ra trên một đất nước thì đó là nỗi sợ hãi và mặc cảm đã thành hình. Càng sợ hãi mất chế độ thì đảng cầm quyền càng trở nên hung tợn và càng mặc cảm nhân dân hết tin vào mình thì đảng Cộng sản càng trở nên đê hèn trong các thủ đoạn.

Và người ta càng dùng thủ đoạn bao nhiêu, càng dữ tợn bao nhiêu càng cho thấy có quá nhiều thứ lỗi tương đương đang được che giấu, bọc kín bấy nhiêu. Ví dụ như khi so sánh câu chuyện giữa quán Xin Chào và tập đoàn Tân Hiệp Phát, mặc dù khác nhau về cấp độ và nhiều vấn đề khác nhưng có chung một vấn đề là cung cấp thực phẩm và nước uống, đều liên quan đến chuyện ăn uống.
Chủ quán Xin Chào bị đẩy vào tình tiết hình sự mặc dù chưa có bất kì thức ăn hay thức uống nào của ông Tấn cung cấp cho khách hàng bị hỏng. Trong khi đó, Tân Hiệp Phát đăng ký kinh doanh hàng sản xuất từ nguyên liệu thuần Việt nhưng lại dùng hương liệu và nguyên liệu của Trung Quốc, tung ra thị trường hàng trăm sản phẩm lỗi, có nguy cơ xấu cho sức khỏe. Nhưng những ai tố Tân Hiệp Phát đều phải vào tù. Ở đây, chỉ có một vấn đề duy nhất là ông Tấn của quán Xin Chào không có cái dù che chở, còn Tân Hiệp Phát thì khác!

Kế đến, vụ ông Bỉ, giả sử ông Bỉ cố tình làm nhà ở trên diện tích đất che chòi vịt, thì tương đương vụ ông Bỉ có đến cả trăm vụ xây dựng nhà, biệt thự trong rừng cấm, trong khu bảo tồn quốc gia, trong khu quân sự từ Ba Vì cho đến Hải Vân. Và chắc chắn những biệt thự xây dựng trong Ba Vì hay Hải Vân không có giấy phép xây dựng.

Nhưng chủ của những căn nhà ở Ba Vì hay Hải Vân có bị gì đâu?! Thậm chí bắt họ dở nhà chưa chắc họ đã dở. Trong khi đó, một người nghèo đang sống trong căn nhà tình nghĩa, muốn che một cái chòi trên mảnh đất hoang, không phải là rừng cấm, cũng không phải là khu vực quân sự để nuôi vịt thì bị ghép tội hình sự để mang ra tố tụng.

Giả sử ông Bỉ đang là chủ tịch huyện Bình Chánh mà che một cái chòi nuôi vịt thì không chừng ông đã thành anh hùng lao động, thành tấm gương thanh liêm và cao quí của một đảng viên Cộng sản và được ca ngợi không hết lời. Rất tiếc ông Bỉ là một người nghèo, đến đất nuôi vịt cũng không thuê nổi nên mới sinh sự ra vậy. Giả sử nếu ông có một cái phong bì dày cộm bỏ vào túi những kẻ nhũng nhiễu ông thì cớ sự không đến nỗi như vậy!
 
Hay ví dụ như ông Bỉ là ông Bríu Liếc, ông đang làm Bí thư huyện ủy giống ông Liếc thì ông có đào hầm miên mang dưới cái trại vịt cũng chẳng đến nỗi gì, nếu báo chí phát hiện thì ông Bỉ sẽ nói rằng ông thật là buồn cười cho xã hội, ông đào hầm để chưng cất rượu và Viện kiểm sát Bình Chánh hay Chủ tịch huyện, Trưởng Công an huyện sẽ nói rằng chưa bao giờ nghe nói đến cái hầm nào dưới chuồng vịt và hình như cái chuồng vịt dã chiến đó mới mọc cách nay mấy ngày thôi, không có vấn đề gì!
Vì sao lại có chuyện tréo ngoe như vậy? Bởi vì sự khốn nạn đã thấm vào từng chân tơ kẽ tóc, đã luân chuyển trong huyết quản của chế độ. Những kẻ tuy ngồi ghế quyền lực, tuy làm nhiệm vụ phục vụ xã hội thông qua bộ máy nhà nước và làm cho xã hội tốt đẹp hơn lại chính là những kẻ tội lỗi, thậm chí là những kẻ khốn nạn, lưu manh ra mặt và sẵn sàng đạp dân đen xuống hố để vừa lòng cấp trên hoặc để trả thù vì người ta đã không biết điều với y, đã không cho y thứ y muốn, không đút lót, hối lộ với y.
Và vì sao lại có quá nhiều lẻ khốn nạn trong chế độ Cộng sản? Bởi đơn giản, chế độ Cộng sản hình thành và phát triển trên nền tảng của sự khốn nạn. Sự khốn nạn vốn dĩ là kim chỉ nam của chế độ. Khi cả một hệ thống trưởng thành nhờ vào sự khốn nạn thì sự khốn nạn càng phát triển, chế độ càng tồn tại lâu dài. Ngược lại, giả sử đất nước Việt Nam bỗng dưng trở nên tử tế trong vòng mười ngày, nửa tháng, điều đó sẽ kéo theo hệ quả là chế độ Cộng sản không còn dấu vết nào trên đất nước này!

                                         

SỔ TAY TƯỞNG NĂNG TIẾN

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Lại Chuyện Tháng Tư

tuongnangtien's picture

Tác giả câu thơ thượng dẫn là một chính khách rất tài tử, và vô cùng mờ nhạt. Không mấy ai nhớ rằng ông đã từng giữ những chức vụ như Thủ Tướng, Phó Tổng Thống, và Tổng Thống trong thời Đệ II Cộng Hoà – ở miền Nam Việt Nam.
Dân chúng ở miền đất này thường chỉ nhớ đến Trần Văn Hương như một người lập dị. Ổng hay đi làm bằng xe đạp, trong thời gian là Ðô Trưởng Sài Gòn, và thỉnh thoảng lại sáng tác ra những câu thơ (hơi) kỳ cục:
Ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn…
Ở miền Bắc phần lớn quí vị chính khách đều hành nghề cách mạng một cách bền bỉ, liên lỉ và chuyên nghiệp hơn nhiều. Họ cũng sính chuyện thơ văn hơn, và cách họ làm thơ (hoặc viết văn) cũng gây lôi thôi phiền phức nhiều hơn – cho cả đống người!
Khi ngồi buồn, họ không gãi háng. Lúc rảnh rỗi, họ cũng không chịu viết văn hay làm thơ chỉ để đọc chơi thôi. Văn thơ của họ khiến cho cả nước phải bận lòng, và không ít người phải bỏ mẹ, hay bỏ mạng! Xin đơn cử một thí dụ, một câu thơ nổi tiếng hơn, của một chính khách tăm tiếng (và tai tiếng) hơn nhiều:
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao…
Nói theo ngôn ngữ của binh pháp thì tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Hồ Chí Minh, là một người cư an tư nguy . Ông Trần Văn Hương thì ngược lại. Ổng cư nguy tư an. Nói cách khác, và nói theo kiểu miền Nam, là thằng chả lè phè hết biết luôn!
Nghiêm túc, khẩn trương, hiếu chiến và hiếu thắng…không phải là quan niệm sống riêng của ông Hồ. Thi
đua lập chiến công dâng Đảng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, một người làm việc bằng hai, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài… là chỉ thị của “trên” đưa xuống và nửa nước bắt buộc phải (triệt để) tuânhành.
Lè phè cũng không phải là thái độ sống chỉ có nơi ông Trần Văn Hương. Ðó là cung cách chung của hầu hết người dân miền Nam. Sự khác biệt giữa ông Trần Văn Hương và dân chúng, có chăng, chỉ là mức độ.
Không mấy người dân miền Nam, lúc buồn, chịu ngồi gãi háng (suông) như ông Tổng Thống. Họ thường vừa gãi háng vừa nhậu lai rai (vài xị) cho vui – nếu là đàn ông. Họ đánh tứ sắc, đi coi cải luơng, hoặc đi cầm đồ để mua sầu riêng ăn chơi cho đỡ ghiền – nếu là đàn bà, ở đô thị. Và họ đi Hồng Kông hay Nhựt Bổn để mua đồ lót và son phấn, nếu là bà lớn. Họ đi buôn lậu (không chừng) nếu là ông lớn. Và cả đám
đều hân hoan chơi tạt lon, thả diều, đá banh, đá bóng, đá dế, đá cầu, đá kiện, đá cá lia thia hay lắc bầu cua cá cọp – nếu là con nít nhỏ, ở thành phố.

Chuyện đánh đấm là “chuyện riêng” của môt giới người, tụi lính. Hứng chịu bom đạn, tai ương của chiến tranh là nỗi bất hạnh riêng của một số người khác nữa – đám nông dân.
Những chiến dịch hay phong trào hoàn thành kế hoạch nhỏ, nhi đồng cứu quốc, thay trời làm mưa, quyết tâm thu hoạch vượt chỉ tiêu vụ này vụ nọ… nếu phát động ở miền Nam (e) sẽ không có người tham gia, và tác giả của chúng – chắc chắn – sẽ bị dân chúng cũng như báo chí chửi cho… tắt bếp!
Chuyện Nam – Bắc đánh nhau kết thúc ra sao, vào ngày 30 tháng tư năm 1975, mọi người đều rõ. Viết thêm nửa chữ cũng thừa.

Cuộc chiến tàn. Theo sự hứa hẹn của quí vị lãnh tụ (của phe thắng trận) thì từ đây ta sẽ xây dựng đất nước gấp muời lần hơn, ta cũng sẽ đi tắt đón đầu nhân loại, và ta sẽ chuyển đổi từ ăn no mặc ấm qua ăn sang mặc đẹp…
Chuyện dân Việt ăn mặc (sang trọng và đẹp đẽ) ra sao để từ từ rồi tính tới nhưng riêng về cách họ dùng lon, thay gáo, uống nước thì ngó bộ quá tốn công và rất…cầu kỳ – theo như ghi nhận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn:
“Lần về phép này Bá có thêm một thứ quà đặc biệt văn minh khác: Những vỏ đồ hộp nước giải khát các loại. Các mầu xanh, đỏ, hồng, da cam, vàng, lon Heineken, lon Coca Cola, Pepsi Cola, những lon Tiger, San-Miguel, những lon nước ngọt đã uống cạn mà trong những lần xuống tầu đi nước ngoài anh lượm được cho vào túi ni lông mang về…
Anh Vận chọn ra những vỏ đẹp nhất, mỗi loại một chiếc, không móp, không méo, đem ra giếng súc rửa sạch rồi bầy vào tủ. Và nhặt bốn vỏ lon khác, mỗi chiếc một mầu bảo lũ trẻ con mài trên nền xi măng trong nhà. Mấy đứa trẻ lao vào mài theo đúng hướng dẫn của anh. Tiếng sào sạo sạo sạo ghê người. Chẳng mấy chốc, cái nắp hộp rời ra. Anh xếp bốn chiếc vỏ hộp lên bàn, nở nụ cười mãn nguyện:
– Làm cốc uống nước…
Những chiếc vỏ hộp trên bàn, trong tủ, những dấu vết ấy của văn minh làm nhà anh cứ sáng trưng lên, khác hẳn mọi nhà chung quanh. Nhà anh đã có hơi hướm của một thế giới khác, một thời đại khác khi các nhà chung quanh vẫn còn đang triền miên thời làm nương, thời lúa nước.
Và đến khi lũ trẻ được thoải mái chơi nghịch những vỏ lon còn lại mới thật tưng bừng. Đúng là một ngày hội…” (Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói Cá. Hội Nhà Văn. Hà Nội: 2008, 436 – 437).

Điều kiện sống, cũng như niềm vui “tưng bừng” trong “ngày hội” của dân Việt, như vừa được mô tả – dường như – có làm cho một số người cảm thấy bất an, hoặc không được hài lòng cho lắm. Tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá (trong một buổi hội thảo, do công ty Nhã Nam tổ chức, vào ngày 20 tháng 3 năm 2009) đã được “bình” và “phê” như sau:
“… chi tiết rất quan trọng trong tiểu thuyết. Nhưng đưa quá nhiều chi tiết mà chưa được tổ chức một cách chặt chẽ như Bùi Ngọc Tấn, theo anh không hẳn đã là một thành công. Thanh Sơn cũng nhấn mạnh, sự ngồn ngộn của chi tiết khiến độc giả rất khó đọc, rất mệt để đọc đến những dòng cuối cùng.”
Có lẽ, người ta chỉ cảm thấy bớt mệt (và thở phào nhẹ nhõm) khi Hà Linh – người viết bài tường thuật thượng dẫn – cho biết thêm rằng “Biển và chim bói cá lấy bối cảnh thời bao cấp.” Thiệt là mừng hết lớn.                                         
Đó là một thời đã qua rồi!
Lịch sử đã sang trang. Chuyện cầu cạnh, bon chen, cậy cục, vay muợn, chạy chọt cho có cơ hội được bước xuống tầu viễn dương – làm một chuyến viễn du, hay nói một cách lịch sự và lịch sử là Đông Du – đi đến những chân trời xa lạ (để mang về những cái chai và lon.. rỗng) không còn phải là đặc quyền của riêng một giới người nào nữa.
Hai muơi năm sau, kể từ lúc “Đảng dũng cảm và quyết tâm đổi mới,” vào năm 2006, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lớn tiếng hô hào toàn dân “hãy bước ra biển lớn.” Mệnh lệnh của ông đã khiến cho dư luận (hết sức) xôn xao và (vô cùng) phấn khích – trong một thời gian rất dài – qua diễn đàn Vươn Ra Biển Lớn, trên Tuổi Trẻ Online.
Nhiều năm sau nữa, sau khi thuyền (đã) ra cửa biển, cuộc sống – xem chừng – cũng không khác trước là bao. Hãy thử đọc một đoạn văn khác, của một ngòi viết khác, về sinh hoạt của một vùng đất khác – ở Việt Nam – bây giờ:
“Cả bản xôn xao khi thấy người lạ xuất hiện. Đám trẻ con hầu hết không quần áo, hoặc trên mình chỉ mang một trong hai thứ, mặt mày chúng trông bẩn thỉu, lem luốc và chi chít vết ruồi vàng bọ chó cắn.
Tôi hỏi thăm đường đến nhà mấy giáo viên cắm bản, nhưng chẳng có ai biết nói tiếng Kinh cả. Nhìn về phía cuối bản, tôi bỗng thấy một lá cờ đỏ bay phấp phới, đoán rằng đấy chắc là khu vực lớp học, tôi lại nặng nề lê bước về phía đó. Mấy thầy cô giáo thấy tôi xuất hiện, họ không khỏi ngỡ ngàng. Với họ, sự xuất hiện của người Kinh ở bản biên giới này hình như hiếm lắm…
Có lẽ cuộc sống người dân tộc La Hủ ở Pa Ủ cũng đơn giản như chính những ngôi nhà mái tranh vách phên của họ. Đơn giản đến lo ngại như những liếp phên cứ rung lên bần bật bởi gió rừng. Ở những túp lều bé nhỏ đến chật chội vì quá đông người đó, mỗi nơi lại có một câu chuyện về hoàn cảnh và những số phận con người. Cuộc sống của mỗi gia đình ngày hai bữa sáng, tối phải lót dạ một cách dè dặt với canh sắn, ngô đồ, còn măng và rau sắn thì dường như ngự trị bữa
ăn…, để có một nồi cơm độn sắn cũng hết sức khó khăn!
(“Thương Lắm Những Búp Non Ở Trên Cành”) Mạnh Hà, phóng viên TTXVN tại Lai Châu).

Ảnh: Báo Lai Châu
Thôi chết mẹ! Vậy là khi tầu hạ thủy – vì lu bu nhiều chuyện quá – Đảng và Nhà Nuớc đã quên (hú) những người dân ở miền sâu, miền xa, miền rừng núi rồi. Đúng
không?
– Thưa không! Cả đống còn đang đứng (lóng ngóng) trên bờ, chớ đâu có riêng chi mấy đám dân bản địa.                          
Trong một cuộc chất vấn dành cho những đại biểu quốc hội, Bộ Trưởng Nông Nghiệp Cao Đức Phát cho biết ở thôn quê “vẫn còn hàng trăm nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày tết, khi bị ốm!”
Như vậy là đám nông dân, ở miền xuôi, cũng bị bỏ lại luôn sao?
– Chắc bi họ đông quá nên mang theo (e) quá tải chăng?
– Thế còn đám công nhân?
Xin đọc qua đôi dòng tường thuật của ký giả Nguyễn Bay:
Một ngọn đèn dầu, cái giỏ nhựa đựng đồ nghề đấm bóp, giác hơi, chiếu cói, gối hoa trải sẵn hoặc chỉ là một tấm áo mưa. Thợ giác hơi quanh KCN Tân Tạo đa số là nữ với các ‘chiếu’ trên vỉa hè, ven đường, thậm chí chỉ một mô đất giữa ruộng; hoạt động từ 18g30 đến 3-4 giờ sáng...
Gần một năm nay, các "chiếu" giác hơi ngày một dài thêm hàng cây số (đường đi Long An, An Sương). Lúp xúp trong bụi cây, bờ cỏ, chúng tôi nhận ra nhiều thợ vốn là công nhân... Những khi tan ca, họ lẫn vào dòng thợ ‘chào hàng’... Tiền công 10.000 - 15.000 đồng/lần, bằng nửa ngày công... làm thợ.
Dẫy chiếu “ngày một dài thêm” vì vật giá mỗi lúc một tăng mà đồng lương thì không. Lương bổng công nhân Việt Nam không thể nâng cao hơn vì những người lãnh đạo ở xứ sở này đã lựa chọn một … quốc sách thấp – theo lời ông Hồ Xuân Lâm, trưởng phòng quản lý lao động các khu chế xuất - khu công nghiệp TP.HCM:
Chúng tôi đã có cuộc họp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đài Loan và tư vấn cho họ hãy trả lương cao hơn để tránh đình công. Họ nói là rất muốn trả cao hơn nhưng không thể vì quy định lương của Chính phủ Việt Nam quá thấp, các đối tác nước ngoài dựa vào đó kềm giá đơn hàng nên có muốn cũng không thể tăng hơn được.
Nói tóm lại – và vẫn nói theo kiểu miền Nam – là thuyền đã ra cửa biển … mình ên! Nhắc đến miền Nam, tôi lại chợt nhớ đến những chuyến tầu (bay) vội vã rời khỏi Sài Gòn – vào tháng Tư, bốn muơi năm trước – năm 1975. Trên một số những con tầu này chỉ có qúi ông qúi bà tai to mặt lớn (cùng với của cải, thân nhân và gia nhân của họ) mà thôi.
 
Bây giờ, sau khi bước ra biển lớn, kiểm điểm lại cũng chỉ thấy duới thuyền không có ai khác – ngoài những kẻ cầm quyền, cùng với hành lý, thân nhân và gia nhân của họ. Thuyền đi càng xa, khoảng cách giàu nghèo (rõ ràng) càng rộng. Ông bạn Lê Diễn Đức gọi đó là sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn.
Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

TS. PHAM CAO DƯƠNG * CHIÊN TRANH VIỆT NAM

Chiến Tranh Phát Xuất Từ Đâu và Từ Bao Giờ?
image006
Phạm Cao Dương

 Trước khi vô đề:
            Đây không phải là một bài khảo cứu theo đúng nghĩa của nó mà chỉ là những ghi chú liên hệ tới nguồn gốc của cuộc Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Hai hay là Chiến Tranh Việt Nam gọi theo người Mỹ.  Người viết xin gửi tới các bạn đọc nhân ngày Quốc Hận 30/4/2016.  Những ghi chú này được trích từ tập tài liệu nhan đề Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ, Cứu Nước 1954-1975, Những Sự Kiện Quân Sự, do Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, Học Viện Quân Sự Cao Cấp, Ban Tổng kết Kinh Nghiệm Chiến Tranh, ấn hành ở Hà Nội năm 1980.
            Năm 1980 là năm cuộc chiến Trung - Việt hay cuộc chiến giữa hai nước Cộng Sản anh em vừa mới bùng nổ năm trước.  Mục đích của  những ghi chú này là để cung cấp cho các bạn đọc một số những tài liệu do chính nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội đương thời phổ biến, liên hệ đến chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam và phần nào sự mâu thuẫn giữa chủ trương này và chủ trương của các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong tiến trình xâm lăng miền Nam ngay từ ngày 18/7/1954, hai ngày trước khi Hiệp Định Genève được ký kết cho đến ngày 20/12/1960, ngày Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam được thành lập “với cương lĩnh và đường lối” do đảng này đề ra.  
image008
Hội nghi Geneve 1954
Để tiện cho người đọc theo dõi, người viết xin ghi theo thứ tự thời gian từng năm. Tất nhiên vì những tài liệu này được phổ biến vào thời điểm chiến tranh Trung-Việt, do nhu cầu của cuộc chiến nên tất cả cần phải được phối kiểm với những nguồn tài liệu được ấn hành và phổ biến bởi phía những người Cộng Sản sau này, đặc biệt là các văn kiện đảng.  Nhằm giúp cho bạn đọc dễ theo dõi, các tài liệu này được ghi theo thứ tự thời gian.  Người viết cũng chỉ làm công việc ghi chú để gửi tới bạn đọc và dành quyền nhận định hay phê phán cho từng bạn đọc.  Có điều lá bài đã được chính người chơi ngạo mạn lật ngửa và một nửa dân tộc cũng như một phần không nhỏ của cả thế giới đương thời một lần nữa bị lừa.  Trước đó, lần thứ nhất, vào giữa thập niên 1940 của thế kỷ trước đúng như Vua Bảo Đại đã nói với Học Giả kiêm Thủ Tướng Trần Trọng Kim là “Chúng ta già trẻ đều bị lừa”.
            Về cách ghi chú, người viết gần như giữ nguyên những gì được ghi trong tài liệu kể trên để độc giả dễ có nhận xét hơn thay vì đổi lại lời văn.
           
Năm 1954:  Từ nhiều ngày trước Hiệp Định Genève, “Chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp”
             1. Hội Nghị Trung Ương Đảng lần thứ 6 nhóm họp từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 7/1954. Hồ Chí Minh báo cáo chính trị về tình hình mới và nhiệm vụ mới với chủ trương “Đế Quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hòa bình ở Đông Dương” từ đó  Hội nghị đưa ra phương châm:  “Chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp…” tr. 7.  Xin lưu ý:  ngày 18 tháng 7 tức 2 ngày trước ngày Hiệp Định Đình Chiến Genève được các  bên và chính Cộng Sản Việt Nam chấp nhận.  Cũng nên để ý thêm là lúc này người Mỹ chưa vào và người Pháp đang tìm cách rút khỏi Việt Nam.
            2. Trước đó, ngày 5 tháng 7,  Bộ Chính Trị của đảng này đã ra “Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng”.  Bốn đặc điểm mới đã được nêu lên với đặc điểm thứ tư, từ phân tán sang tập trung: “Trước kia mang nặng tính chất chiến tranh du kích nay tình hình đã biến đổi, yêu cầu ta phải tập trung thống nhất lãnh đạo xây dựng kiến thiết miền Bắc, chỉ đạo công tác miền Nam.” tr.11.  “Cho nên tăng cường quân đội nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Chính phủ và của toàn thể nhân dân ta”.  Đó là “phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống những hành động khủng bố, đàn áp, phá cơ sở của ta, bắt cán bộ ta và quần chúng cách mạng, chống những hành động tiến quân của địch, giữ lấy quyền lợi quần chúng đã giành được trong thời kỳ kháng chiến, nhất là ở vùng căn cứ địa và du kích cũ của ta…”, tr. 12
Năm 1955: Miền Bắc có vai trò quyết định và là cái gốc – Thành lập Mặt Trận Tổ Quốc
            Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Đảng lần thứ bảy, 3-12/3/55, nghị quyết: Miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc và bè lũ tay sai để giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân”.   Hồ Chí Minh: “Miền Bắc là cái gốc”.  tr.17.
Tháng 10, 1955, Trung Ương Đảng chỉ thị cho miền Nam: “ Đối với bọn đương chống Diệm hiện nay như Hòa Hảo, Bình Xuyên, Cao Đài ở Nam Bộ, Đại Việt ở Quảng Trị, QDĐ ở Quảng Nam, chúng ta cần nhận định rõ tính chất của chúng chống Diệm là vì quyền lợi, địa vị bản thân của chúng, nhưng chúng cũng đều chống ta và bọn nào cũng có nhiều hành động tàn ác đối với nhân dân.  Nhưng hiện nay chúng đều chống Diệm, nên chúng ta phải triệt để lợi dụng mâu thuẫn mà lôi kéo chúng…”,  tr. 19
10/09/55,  Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất họp tại Hà Nội thành lập Mặt Trận Tổ Quốc để “tiếp tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt Trận Liên Việt với Tôn Đức Thắng làm CT và 98 ủy viên, HCM làm CT danh Dự.
Năm 1956:  Phải đánh đổ chính quyền độc tài phát xít Mỹ Diệm bằng con đường cách mạng
Nghị quyết của Bộ Chính Trị: “Vấn đề hết sức quan trọng là phải tranh thủ xây dựng lực lượng cách mạng”, lần này đã đặt vấn đề “đấu tranh vũ trang, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa”,  tr.28-29
Tháng 8 năm 1956, ĐC Lê Duẩn viết tài liệu về đường lối cách mạng miền Nam (Ủy Viên Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng đang công tác ở miền Nam) nhan đề “Đường Lối Cách Mạng Miền Nam” với mục đích “phải đánh đ chính quyền độc tài phát xít Mỹ-Diệm và đánh đổ bằng con đường cách mạng”.  tr. 30-31.

image009
Ông Lê Duẩn và gia đình, các con, cháu. Ảnh Gia Đình cung cấp.

12/56, Xứ Ủy Nam Bộ họp để chấp hành Nghị Quyết của Hội Nghị Chính Trị Bộ, tháng 6, 1956: “Con đưòng tiến lên của cách mạng miền Nam phải dùng bạo lực tổng khởi nghĩa giành chính quyền”, tr. 33, bằng cách:  “Tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng căn cứ ở rừng núi, tranh thủ vận động, cải tạo tập hợp các lực lượng giáo phái bị Mỹ-Diệm đánh tan”…

1956: Những người cầm quyền Trung Quốc khuyên ta “trường kỳ mai phục”.
Đặng Tiểu Bình, TBT Đảng CSTQ, tháng 7, 55: “Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất đất nước sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc”.
Mao Trạch Đông, tháng 11, 56: “Việc chia cắt nước Việt Nam không thể giải quyết trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ…  Nếu mười năm chưa được thì phải trăm năm.”

Năm 1957:  Xứ ủy Nam Bộ lập 37 đại đội vũ trang và đơn vị 250 cấp tiểu đoàn

            Tháng 10,  “Chấp hành Nghị quyết tháng 6/56, Nghị quyết tháng 12/56 của Xứ Ủy Nam Bộ lập 37 đại đội vũ trang và đơn vị 250, cấp tiểu đoàn ở Miền Đông Nam Bộ.

Năm 1958: Đặc công tấn công trụ sở MAAG ở Biên Hòa, 19 Mỹ chết

            Thành lập Bộ Tư Lệnh Miền Đông Nam Bộ sau đổi làm Ban Quân Sự Miền.

            Ngày 20/10/58, Đại Đội Đặc Công tấn công trụ sở phái đoàn MAAG ở Biên Hoà, 19 Mỹ bị chết hay bị thương.

Năm 1959: thành lập các Đoàn 559, 759, 959 xâm nhập miền Nam bằng đường bộ, đường biển và đường Lào

            Hội Nghị Ban CHTƯ lần 15, tháng 5/59: “Con đường phát triển cơ bản của Cách mạng miền Nam là dùng bạo lực”,  tr. 49
  
            5/1959: Quân Ủy TƯ ra nghị quyết thành lập Đoàn 559 còn gọi là Bộ Đội Trường Sơn tiếp tế người, vũ khí vô Nam bằng đường bộ, Đường Mòn HCM.
            7/59 : Đoàn 759, tiếp tế bằng đường biển
            9/59: Đoàn 959 cố vấn cho QUTƯ Lào

Năm 1960: Thành Lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam
image011
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ

image012
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (1913-1989)

            Điều tra dân số miền Bắc (tháng 3) và công bố luật nghĩa vụ quân sự (tháng 4)
  
            20/12/60: Thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam với cương lĩnh theo đường lối Đảng ta đề ra.
  
            Cũng 1960, tháng 5, những người cầm quyền TQ: “Không nên nói đấu tranh quân sự hay đấu tranh chính trị là chính. Đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự không phải là cướp chính quyền ngay mà cuộc đấu tranh trường kỳ…Dù Diệm có đổ cũng không thể thống nhất ngay được vì đế quốc Mỹ không chịu để như vậy đâu…
  
            “Miền bắc có thể ủng hộ chính trị cho miền Nam, giúp miền Nam đẻ ra các chính sách nhưng chủ yếu là bồi dưỡng tinh thần tự lực cánh sinh cho anh em miền Nam.  Khi chắc ăn, miền Bắc có thể giúp quân sự cho miền Nam, nghĩa là khi chắc chắn không xảy ra chuyện gì, có thể cung cấp một số vũ trang mà không cho ai biết.  Nhưng nói chung là không giúp”,  tr. 72-73.

Kết Luận:  Những ghi chú kể trên cho ta thấy cuộc xâm lăng miền Nam Việt Nam là do chủ trương của những người Cộng Sản, xuất phát từ Hà Nội, ngay từ trước khi Hiệp Định Genève được chính họ chấp nhận, chứ không phải mãi sau này khi quân đội Mỹ vào Việt Nam mới bắt đầu.  Nó không xuất phát từ Miền Nam, và nhất là bởi người Miền Nam hay người Mỹ, như được họ tuyên truyền nhằm đánh lừa dư luận. Rất tiếc là cuộc chiến này đã xảy ra và kéo dài, đưa đến không biết bao nhiêu là hậu quả vô cùng tai hại, về đủ mọi phương diện, từ tinh thần đến vật chất, mà không biết đến bao giờ dân tộc Việt Nam mới hàn gắn lại được, trong khi những nước khác, cũng bị chia cắt như Việt Nam đã tránh được.  Riêng Nam Hàn đã trở thành một cường quốc kinh tế của thề giới trong Thế Kỷ 21. Có điều là cho đến tận bây giờ người Cộng Sản Việt Nam vẫn không chịu nhận ra những sai lầm của họ để sửa đổi, đặc biệt là từ bỏ truyền thống bạo lực để quan tâm tới cuộc sống của người dân.  Cuối cùng ta cũng nên để ý tới những nhận định của Mao Trạch Đông và Đặng Tiu Bình.  Hai nhà lãnh đạo của Trung Quốc này đã tỏ ra không mặn mà gì với quyết định xâm lăng Miền Nam của Cộng Sản Việt Nam nên tuy không chính thức ngăn cản nhưng gần như đã bàn ra thay vì ủng hộ. 
Nguyên văn xin ghi lại một lần nữa  như sau:
  Đặng Tiểu Bình, TBT Đảng CSTQ, tháng 7, 55: “Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất đất nước sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc.”
Mao Trạch Đông, tháng 11, 56: ”Việc chia cắt nước Việt Nam không thể giải quyết trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ…Nếu mười năm chưa được thì phải trăm năm.”
Câu hỏi được đặt ra là tại sao Đặng Tiểu Bình và Mao Trạch Đông lại có thái độ kể trên?  Câu trả lời:  Phải chăng là vì ở thời điểm năm 1956 này Trung Quốc còn quá yếu sau khi mới thống nhất được có bảy năm nên không muốn có sự hiện diện của người Mỹ ở sát biên giới phía nam của mình.  Lý do là vì cuộc xâm nhập miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt có thể tạo cớ cho quân Mỹ đổ bộ lên Việt Nam như người Mỹ sẽ làm về sau này?

Little Saigon, tháng Tư 2016

Phạm Cao Dương 
 https://youtu.be/Qagh8zcE9zg


SƠN TRUNG * DUY LÝ, DUY NGHIỆM VÀ DUY TÂM



DUY LÝ, DUY NGHIỆM VÀ DUY TÂM


SƠN TRUNG


Trí thức của ta có được là do học, đọc sách. Kiến thức của ta có được cũng do đời sống xung quanh ta. Người cộng sản chống duy tâm, song đa số chúng ta đều có tình cảm.Phật giáo chủ về tâm. Không cần đánh người, giết người nhưng nghĩ về đánh người, giết người đã là phạm tội!

Giết người trong mộng cũng là có tội! Người ta dùng trái tim, bụng, lòng để nói về tình cảm, cảm xức: tốt bụng, lòng lo lắng,tim rộn ràng...Tình cảm chính là động cơ để ta hoạt động. Vì thương con, cha mẹ phải tần tảo, khó nhọc, vì yêu tổ quốc và dân tộc mà Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học đã tranh đấu. Tâm có hai loại :tâm thiện và tâm ác. Tâm ác đã thúc đẩy con người phản quốc, trộm cướp, gian dối.


Đa số chúng ta sống nhờ có lý trí. Pascal nói :"Tôi suy nghĩ là tôi tồn tại"(Je pense donc je suis). Các nhà khoa học làm việc theo duy lý.. Theo Ariastotle, đức tính nổi bật nhất của loài người là khả năng suy luận, chính nhờ đức tính này mà loài người đứng trên tất cả loài vật khác. Chính vì vậy mà khả năng suy luận một khi được phát triển hoàn toàn đầy đủ sự đem đến hạnh phúc hoàn toàn cho con người.



Nhưng khoa học ngày nay chú trọng thực nghiệm. Tất cả kiến thức, lý thuyết phải được kiểm chứng trước khi đi đến đặt giả thuyết, Khoa học phả có thực nghiệm. Chủ nghĩa Marx không qua thực nghiệm mà đưa ra thì hành làm chết cả trăm triệu người, đó là duy lý, duy tâm,. là cuồng tín, không phải khoa học.

Duy lý, duy nghiệm, duy tâm đều cần thiết cho kiến thức của ta.Trong ba yếu tố đó, duy lý phổ biến nhất.

Tử Sản họ Công Tôn, người tộc Quốc, tên là Kiều, tên chữ là Tử Sản, còn có tên chữ khác là Tử Mỹ, là cháu của Trịnh Mục công, chấp chính nước Trịnh hơn 20 năm, tên thuỵ là Thành tử.

Thời Xuân Thu ( 774-2220, tử Sản nuôi một tên đầy tớ. Một hôm thua bạc hết sạch tiền chơ., bèn về nhà thưa với chủ: Con ra chợ thấy con cá chép to béo. Thấy thầy thich món gỏi cá chép nên dốc hết tiền mua cho bằng được. Trên đường về thấy cá hơi đuối sức, bèn đem nó xuống sông cho nó lại sức, nào ngờ nó quẫy đi mất. Tử Sản vỗ tay: " Đắc kỳ sở tai!"Đắc kỳ sở tai!"(gặp được chỗ tốt)

Thằng đầu bếp ta ngoải cười thầm, học cùng chúng bạn: ai bảo thầy Tử Sản là trí!Tiền chợ thầy đưa, tao thua hết, tao kiếm điều nói láo mà thầy ấy cũng tin ngay. Ai bảo thầy Tử Sản là trí!

Những kẻ nghe chuyên bàn rằng quan tể tướng thua trí thằng đầy tớ. Té ra làm Tể tướng chẳng có gì tài giỏi.

Khổng Tử nghe chuyện chép miệng mà rằng : " Người quân tử thì làm thành cái tốt cho người ta, không làm thành cái xấu cho người ta. Kẻ tiểu nhân làm ngược lại cái ấy (:「君子成人之美,不成人之惡小人反是;。」

PHIÊN ÂM

Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ố, tiểu nhân phản thị"Quân tử giúp người làm thiện, chẳng giúp người làm ác. Còn tiểu nhân thì ngược lại.

Thầy Mạnh Tử giải rằng quân tử khả khi dĩ lý trí sở hữu nhi bất khả khi dĩ lý chi sở vô. Nghĩa là việc có lý mà đối người quân tử cũng dược, chí như việc không có lý thì chẳng lẽ dối đặng.


1. DUY LÝ


Duy lý là là chú trọng về lý luận,  là nói năng, viết lách có lý lẽ.Phái này cho rằng lý luận là quan trọng. Muốn đạt chân lý hoặc thuyết phục lòng người thì phải dùng lý luận.
Có nhiều hạng lý luận: Lý luận thấp, lý luận cao.
Lý luận thấp là chối, nói dối,  là ngụy biện, hoặc lấy nhữngc sự việc bình thường để giải thích.
Như trong truyện người đầy tớ của Tử Sản, y có thể nói bị mất cáp, bị cướp. Cũng có thể y bỏ trốn,Cũng có tyhể y dùng lý luận cao của bậc thánh. Chẳng hạn y gặp người già yếu, bệnh tật, y đem cho cả số tiền...
(1). Hồ Chí Minh vàcơ quan gián điệp Hoa Nam làm một việc vô cùng ngu dại.
Bọn họ thiếu gì người, tại sao không chế ra một Ngục Trang Nhật ký, lại lấy Ngục Trung Nhật Ký của ai đó bìa đề
獄中日記 
29-8-1932
10-9-1933

Ông Hồ điên , hay bọn họ mù hay sao mà giải thích  đó là một tác phẩm văn học gồm 133 bài thơ bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh viết từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943 (Wikipedia)
 Việc gian trá rành rành như thế mà bọn họ cố thồi phồng cho là đại tác phẩm của Hồ Chí Minh!
GS. Lê Hữu Mục quả có mắt tinh đời, đã thấy rõ đó là tác phẩm của một ông Tàu, không phải của người Việt. Theo GS Lê Hữu Mục, khi Đặng Thái Mai hỏi tại sao có sự khác biệt như thế, ông Hồ lặng thinh. (1).  Hồ Đức Thành  hỏi bác , bác  trả lời:

 “Mình muốn đánh lạc hướng, ai hiểu thế nào thì hiểu”.(2).

Ôi, gian trá cho nên ngôn bất thuận cho dù Cộng sản nổi danh :"Nói như VẸM"!
Môt cách lý luận có vẻ cao siêu là lý luận của kẻ mạnh, lấy  cả vú lấp miệng em, như chuyện con Sói và con lừa của La Fontaine. Và cũng là lối lý luận của Việt Cộng: Ăn quả trưng, thịt một con gà là phá hoại kinh tế XHCN . Cũng là cách thầy đời của bọn quản giáo trong nhà tù. Trong đời thường, Cộng sản cũng có thói nổ tạc đạn bất chấp sự thật như việc Lê Trí Viễn    vào Nam "lên lớp" các thầy Miền Nam. Ông cán bộ giáo dục này tấn công nền sư phạm Miền Nam nặng nề. Ông ta chê là Miền Nam không có một giáo trình quy củ, đàng hòang, không có cuốn sách nào là sách giáo khoa chính thức, không có một tác phẩm nào tiêu biểu cho sư phạm của một nền đại học. (Ông Lê Trí Viễn đã dùng nền giáo dục một chiều, chật chội của chế độ, để so sánh với chủ trương nền dục khai phóng ở Miền Nam).

 Ông ta dùng những lời đả kích mạnh mẽ, vì ông ta ở thế thượng phong, thế của kẻ thắng. Gs Mục là Trưởng Ban Việt-Hán đại diện cho nhóm sư phạm bại trận (trong nhóm có Gs Trương Văn Chình là Gs ngôn ngữ học nổi tiếng). Mở đầu ông Mục cũng nói vài lời khiêm tốn, nhưng càng về sau, càng bực bội, nên hơi mất bình tĩnh, tấn công trở lại nhóm Gs Miền Bắc. Ông cho biết ông đã đọc hết tài liệu giảng dạy dành cho giáo sinh Miền Bắc và đánh giá rằng những tài liệu đó cũng không có giá trị cao, chỉ đáng quay ronéo phát cho giáo sinh làm tài liệu nội bộ thôi. Ông cũng phản pháo lại, cho biết là ngoài ấy cũng không có tác phẩm giáo khoa nào xứng đáng. (3).
Và sau cùng là lối lý luận ba xu, nói thiên nói địa mà người ta gọi là nói trạng, nối dối mà đây là nghề chính của VẸM.


a. Nguyễn ty Nan, Hercule Việt Nam

Nguyễn Ty Nan, huyền thoại tay không "quật ngã" máy bay trực thăng UH-1 của Mỹ
Báo Phụ Nữ Today, tác giả: nhà báo Hạ Nguyên. Thứ Năm, 08/03/2012, 06:23





Năm 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, từ biệt quê hương Tân Dương (Thủy Nguyên, TP.Hải Phòng), ông khoác ba lô lên đường nhập ngũ, chiến đấu tại mặt trận 44 Quảng - Đà (Quảng Nam - Đà Nẵng ngày nay).

Hơn 15 năm cầm súng chinh chiến dọc một dải chiến trường miền trung, ông đã lập nên những kỳ tích huyền thoại khi "một mình hạ hơn 8 chiếc máy bay UH - 1 và hàng chục xe tăng, thiết giáp của Mỹ ngụy." ...Khi chiếc UH - 1 rà tới chuẩn bị hạ thấp để bắn róc két thì ông Kiểm lao người lên dùng hai tay ghì càng máy bay xuống. Đôi bàn tay thép như chiếc nam châm hút chiếc UH - 1 xuống gần sát mặt đất
Tài quá, khỏe quá. Ngày xưa có câu thơ trạng:
Chạy ngay ra biển dừng tàu lại,
Tốc thẳng lên non, cõng cọp về!
Nếu bàn tay không nắm tàu thủy , nắm xe lửa, xe hơi không cho chạy thì việc kéo trực thăng rớt xuống đất chỉ là chuyện nhỏ!(4).
b.  Máy bay Việt Cộng đậu trên mây
 Trước đây khi chúng nó mới cướp được miền Nam Việt Nam thì chúng đã rao rêu giảng bài chính trị rằng “anh du kích lái máy bay lên đậu trên mây, núp đó chờ sẵn đợi máy bay Mỹ bay ngang, anh du kích thò tay qua máy bay địch tóm cổ thằng không quân Mỹ xuống trói go lại”. Đấy thấy chưa. Máy bay của cộng sản Việt Nam thời đó đã dùng loại tân tiến đến nổi nhẹ hơn cả giấy nên mới có thể tắt máy đậu trong mây núp như du kích,..Sao giống việc trẻ con chơi đi trốn đi tìm, vui quá nhỉ? Máy bay phản lực mà đứng một chỗ như trực thăng, hay quá ta. Còn máy bay Mỹ không có radar  hay sao mà không thấy SU 30 ẩn nấp trong mây? (5).

c. Cô gái kéo xác máy bay Mỹ !



Bức ảnh nầy do tác giả nhiếp ảnh Quang Văn chụp, và hình cô dân quân du kích tên là Hà Thị Nhiên đang kéo cánh máy bay Mỹ F4. Hiện nay bà Hà Thị Nhiên vẫn còn sống và ở nhà số 7 ngõ Văn Nhân, phường Trần Hưng Đạo (TP Nam Định)...Hiện nay bà Hà Thị Nhiên vẫn còn sống và làm nghề bán sữa đậu nành ở nhà số 7 ngõ Văn Nhân, phường Trần Hưng Đạo (TP Nam Định). .(6).
Cánh quạt cho dù là nhỏ đi nữa cũng rất nặng, huống chi là cánh máy bay F4 thì phải biết nó nặng chứ không nhẹ, thế mà một cô gaí Việt Nam chỉ dùng 2 sợ dây lạt nhỏ có thể kéo lê trên bãi biển là điều không thể làm được. Chỉ có những kẻ cuồng tính mới có thể nghĩ ra được những điều láo như vậy để gạt những kẻ ngu si cuồng tín tin theo.
2. DUY LÝ + DUY NGHIỆM

Một phái khác tin rằng lý lyận không đủ, hoặc lý luận tào lao, chỉ những điều tai nghe, mắt thấy mới thật sự giá trị. Trong khi đó, bọn gian phi cũng nghĩ rằng dùng lý luận chưa đủ,phải dùng hiện thực. như bất công xã hội, đất nước bị đô hộ để kich động lòng người nhưng chính họ sau khi nắm đươc chính quyền tước bỏ tài sản và tự do của nhân dân. Cùng lúc đó họ lộ bộ mặt bán nước buôn dân.  Trong khi tố cáo hiện thực xã hội, bọn gian phi cũng vẽ ra một ảo giác   để lôi kéo thiên hạ đi vào giấc mơ thiên đường máu đỏ!
Ở nước ta tay làm hàm nhai, không đi làm là không có gì bỏ vào miệng. Lợi dụng sự khổ sở của nhân dân Việt Nam thời Pháp thuộc, cộng sản vẽ ra thiên đường cộng sản:
Có đâu như ở bên Nga,
Ngày làm ngày nghỉ đều là có lương.
(Vè Xô Viết Nghê Tĩnh)
Không đi làm mà vẫn có lương, sướng thật!

Tố Hữu bảo cô gái sông Hương:
Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài
Thơm như hương nhụy hoa lài
Trong như nước suối ban mai giữa rừng.
Ngày mai gió mới ngàn phương
Sẽ đưa cô tới một vườn đầy xuân
Ngày mai trong nắng trắng ngần
Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồ
Ngày mai bao lớp đời dơ
Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay
Cô ơi tháng rộng ngày dài
Mỏ lòng ra đón ngày mai huy hoàng...

 (Tiếng hát sông Hương)

Cộng sản đến mau đi để phụ nữ được giải phóng không còn vướng víu chút vải tí teo!

Và để đàn bà con gái Việt Cộng không  phải đứng ở khu đèn đỏ Singapore, Thái Lan! Bấy giờ thì thấy rồi: Cá chết, tôm chết, cua chết, con người đi làm nô lệ khắp thế gian và bị đảng vinh quang lừa dối, bóc lộc!

3. DUY LÝ +DUY TÂM 

Duy Lý một mình chưa đủ mạnh, bọn gian còn lợi dụng tâm lý ham danh lợi, , lòng yêu nước, lòng nhân dạo.
Hồ Chí Minh là cộng sản nhưng giả bộ theo chủ nghĩa dân tộc, kêu gọi toàn dân đoàn kết, chống xâm lược, mặc dầu bọn ông đã tàn sát phe quốc gia và các giáo phái. Vì thế mà đa số dân chúng đã hy sinh tánh mạng cho tư sản đỏ! Sau 1954, cộng sản thắng Pháp, cộng sản bèn để lộ bộ mắt "đấu tranh giai cấp " và chuyên chính vô sản!
Cộng sản lợi dụng tâm lý háo danh lợi của người dân. Ngay cả Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường cũng chạy theo danh vọng phù vân đến già mới giác ngộ! Cái này là do ta. Ta còn tham, sân, si. Ta kiêu căng ta gìỏi, ta yêu nước, ta nhân đạo. Teần Đức Thảo, Trương Như Tảng coi các tác phẩm chống cộng của Nga  như Boris Pasternak,( Bác sĩ Zhivago ), Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn (Quần đảo GulagNgày thứ nhất trong cuộc đời của Ivan Denisovich )   là do phản động, do  tư tưởng sai lầm. Trần Đức Thảo cho rằng Lenin, Stalin, không hiểu Marx nên làm sai. Ông là thủ khoa vế Marx học, tất nhiên sẽ làm đúng, se xây đưng thế giới thịnh vượng gấp mười tư bản, xóa tan biên cương giai cấp. Vì ông hách quá nên ông xâm mình  về Việt Nam để xẻ núi lấp sông không ngờ  âm binh của ông lại  đẩy ông vào ngục tù tối tăm!

Xem chuyện Tử Sản ta thấy giữa Khổng Tử và Mạnh Tử quan điểm khác nhau. Câu của Khổng Tử có thể giải rằng Người quân tử nói tốt, nghĩ tốt cho người còn tiểu nhân thì trái lại.  Giảng như thế là sai. Người quân tử phải nói thật chứ đâu có thể nói xấu thành tốt!

Mạnh Tử nói đúng. Con người thường duy lý cho nên đôi khi mắc mưu bọn gian manh. Bọn lưu manh thường đưa ra những lý lẽ xuôi tai cho nên nhiều người mắc mưu chúng.


Con người vừa duy lý duy nghiệm mà cũng sa vào bẫy đời.

Phan Thanh Giản đi Pháp về bảo bên Pháp nước từ thấp bắn lên cao, đèn chúc đầu xuống. Các cụ xưa lý luận" Nước chảy xuôi, lửa bốc cao"Tánh nước chảy xuống. Tánh lửa bốc lên. Thủy đại chảy xuống, hỏa đại bốc lên https://sites.google.com/site/nhapsobo1/nguon-goc-duyen-khoi-cua-hien-tuong-vat-chat

Kinh Thủ Lăng Nghiêem.

Lửa bốc lên, Nước sa xuống. http://www.thientongvietnam.net/kinhsach-thike/tk-02/thulangnghiemtt/unicode/p5-18.html

Mạnh Tử : "Do thuỷ chi tựu hạ" (Li Lâu thượng

Lửa bốc lên cao. Nước chảy xuống thấp. Vậy mà lửa bao giờ cũng thua nước
- Vân Trung Tử
@ http://danhngon.info/lua-boc-len-cao-nuoc-chay-xuong.html


Các cụ ta ngày xưa suy nghĩ như thế là đúng với lý luận và thực tế. Nhưng lý luận nào , trình độ nào cũng có nhiều cấp bậc.

Bên Pháp nước từ dưới phọt lên như các vòi phun nước ở công viên, nhưng cái ấy cũng là nguyên lý nước từ trên chảy xuống theo nguyên tắc bình thông mà người ta xây các hồ nước trên cao để phân phối nước cho toàn thành phố.


Có bà trung tá cảnh sát quốc gia gần nhà tôi ở Xóm Gà Gia Định, bà nói rằng hồi trước 1975, nghe nói ngoài Bắc phải sắp hàng mua rau muống và củi phải cân ký bà cười ngất và bảo dân Bắc Kỳ di cư xạo vì trước mắt bà trước 1975 rau muống cả đống chỉ để cho heo ăn, và củi chứ phải vàng đâu mà cân lạng, cân ký!Cũng có ông già bảo rằng bọn Bắc Kỳ di cư theo Mỹ Ngụy xạo xự. Địa chủ phải là điền chủ ruộng cò bay thẳng cánh, ai đời có vài tấc đất và mái nhà tranh mà là địa chủ. Vô lý hết sức. Đó cũng là tinh thần duy lý duy nghiệm.

Và đó là tinh thần duy lý thấp kém, vì phải biết ở đời chân lý là cái bình hai quai, xách quai nào cũng được. Và chân lý thay đổi theo không gian và thời gian. Chân lý cộng sản khác chân lý quốc gia.
Vérité en deçà des Pyrénées, erreur au delà.
Không thể lấy cái hiện thựcc quốc gia để suy luận về cộng sản.


Bên cạnh cái duy lý và duy nghiệm còn cái duy tâm. Duy tâm đây là nói về tình cảm, sự tôn thờ, tin tưởng, lòng thiên vị, tính chủ quan....Trong suy luận và phán đoán, còn có tình cảm nó chi phối lý trí con người Nói về tôn giáo thì tín đồ nào cũng ca tụng tiôn giáo mình mà chỉ trích các tôn giáo khác.Trong tôn giáo và chính trị, con người thiên kiến. Chính trị cũng là môt thứ tôn giáo, nó say mê lý thuyết nên trở thành cuồng tín. Chính trị cũng có giáo điều như con ngựa bị bịt hai bên mắt, chỉ thấy đàng trước, không thấy hai bên. Tôi quen một cụ già nhân viên nhà nước, là tay học thức, tin rằng Nguyễn Hữu Thọ không phải là cộng sản và Mặt trận là người yêu nước chống Mỹ. Tôi có ông bạn gần nhà, kỷ sư ở Pháp về, nói rằng Mặt Trận laà người yêu nuóc chống Mỹ xâm lược, không phải Cộng sản. Sau 1975, anh đi tù, trở về thì chửi Cộng sản nát nước.


Những tay đại trí thức như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Như Tảng..đâu có ngu mà lầm cộng sản? Than ôi, duy lý, duy nghiệm, duy tâm đều sai lầm khi cộng sản đưa ra lý luận chống xâm lược, san bằng bất công xã hội. Đó cũng là chiêu tâm lý chiến, gợi lòng yêu nước, yêu nhân lại, yêu bình đẳng xã hôi.Cộng sản cũng như thằng đấy tớ của Tử Sản giỏi lý luận, thành thạo dối trá cho nên nhiều người tin! Ông bạn kỹ sư hàng xóm của tôi, Phan Khôi, Trần Dần, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Như Tảng, Trần Độ, Nguyễn Kiến Giang ...giác ngộ là do kinh nghiệm sống chung với cộng sản. DÂn Quảng Trị chạy trên quốc lộ I, các bà bán hàng ở chợ Đông Ba thấy cộng sản là chạy. Các ông bà Bắc Kỳ di cư, nông dân ở Hòa Hảo hiểu Cộng sản hơn Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường.Như vậy là kinh nghiệm kinh nghiệm đứng đầu, lý trí thứ hai và tâm thiện thứ ba. Không cần đọc kinh điển Marx, không cần học Đại học Sorbonne, những ngưòi dân Quảng Trị Huế, Đà Nẵng bỏ chạy chỉ vì họ đã sống với cộng sản.


Ba cái duy lý,  duy nghiệm và duy tâm  đã kết hợp nhau mà làm cho Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán, Trần Đức Thảo,Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Phùng Quán, Trần Độ, Nguyễn Kiến Giang... đã trở thành những anh hùng bất khuất. Giống các tiền bối kể trên, nhờ hiện thực cộng sản bán nước phản dân, hèn với giặc, ác với dân, và nhờ tâm thiện, tâm yêu nước và lòng can đảm, với hai bài ca Anh là ai, và Việt Nam tôi đâu, anh đã đi vào tù nghĩa là tên tuổi của anh đã đi vào lịch sử Việt Nam và lịch sử âm nhạc.

Những con người cao cả là những con người biết kết hợp duy lý, duy nghiệm và duy tâm. Cái tâm thiện, vô tham, vô sân, vô si mới làm cho thân tâm an tĩnh và nhận chân con đướng chính nghĩa!

Lúc trước dân Nam Kỳ yêu Bác đảng, ghét dân Bắc dân Trung, nhất là đám Nam Kỳ quốc. `Họ tưởng  rằng họ là Nam Kỳ quốc là đồng chí anh em với bọn Giải Phóng miền Nam, khi  "Mỹ cút Ngụy nhào " thì họ độc lập tự do, hạnh phúc, không ngờ cái bọn Bắc Kỳ hai nút  lại vô cùng ác ôn, dã man. Lúc đó họ thương những người Bác kỳ 9 nút thanh lịch, tài hoa!
Khoảng 1955, có người thắc mắc nhưng cũng có người mỉa mai: Ngoài Bắc độc lập, tự do ,sao lại vào đây?Nhưng khi công sản vào Nam, họ mới biết dân Bắc Kỳ 9 nút tốt hơn dân Bắc Ký 2 nút.Chỉ cần vài ngày vài tháng làm việc trong HTX là hiểu ngay chủ nghĩa cộng sản, không phải bôn ba chạy về Việt Nam để thử nghiệm như Trần Đức Thảo!Vũ Thư Hiên sáng mắt là do kinh nghiệm chứ lý luận Marx Lenin đầy mình đâu có non kém ! Chính vì tâm tin tưởng chủ nghĩa Mác Lê bách chiến bách thắng, xã hội cộng sản văn minh, giàu mạnh gấp mười tư bản. Cũng vì tâm tự hào thông giỏi Mac Lê, về Việt Nam là thành lãnh tụ cộng sản, không hạng nhất cũng hạng nhì mà rơi vào thảm họa "cá tham mồi mẳc phải lưỡi câu "!
Khôn chết, dại chết, biết thì sống! Sao gọi là biết? Khó quá!

Như Mạnh Tử nhận xét: bọn lưu manh dùng lý luận hay và  lại dùng thuật nói dối  siêu cấp thì đa số bậc thầy cũng phải tin.  Nhưng không phải bọn lưu manh bao giờ cũng đại lợi.

 (1). Chúng sẽ thất bại khi lý luận và thực tế khác biệt nhau.
Mặc cho cộng sản tuyên truyền, khoác lác, dân chùng tháy rõ rệt giữa cộng cộng sản nói là làm khác nhau, và giác ngoo sinh ra từ đó.
-Marx bảo giai cấp vô sản chôn sống giai cấp tư bản nhưng nay tư bản vẫn sống nha78n rẳng còn cộng sản Liên Xô và Đông Âu tan rã.
-Marx tiên đoán cách mạng vộ sản sẽ thành công ở Đức nhưng không phải thế.
- Marx khoe khoang cách mạng vô sản thành công sẽ đưa đến hòa bình, ấm no, thịnh vương hơn mười tư bản. Trái lại cả thế giới đều thấy chỗ nào có cộng sản là có chiến tranh, nghèo đói và nấtb tự do. Đặng Tiểu Bình bỏ kinh tế chỉ huy, quaty sang kinh tế thị trường, và kêu gọi tư bản đầu tư  là ông đã chôn sống mác- Lê và Mao.
-Hồ Chí Minh và cộng đảng muốn dùng Ngục Trung Nhật ký nhưng chính mà tờ bìa lại ghi họ gây tai họa. Dù biện hộ cách nào đi nữa, họ không thể giải thích tông Hồ ngồi tù và viết thơ  này vào 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943 trong khi tờ bìa ghi rành rành 28-9-1932 10-9-1933. Ông Hồ ngọng miệng, không trả lời Đặng Thai Mai, và nói liều lĩnh khi trả lời  Hồ Đức Thành  hỏi bác , bác  trả lời:

 “Mình muốn đánh lạc hướng, ai hiểu thế nào thì hiểu”.(2).
Lenin nói chế độ cộng sản tự do, dân chủ gấp vạn, triệu lần tư bản! Ông bảo dân lao động Nga được tự do viết báo, và hội họp trong lâu đài của Nga hoàng, sau khi tịch thu báo chí Nga và Quốc hội Nga. Sự thật chỉ có người cộng sản có quyền này mà thôi, nhân dân làm sao mà đến các lâu đài này và viết báo bày tỏ tư tưởng của họ? Chính Lenin không cho tư nhân làm báo, không cho dân hội họp . Theo Vũ Thư Hiên trong Đêm Giữa Ban Ngày, Trường Chinh thì bảo báo chí: Các anh có tự do chửi tư bản, chửi đế quốc.

Đó là những lời nói lấy đươc, mang nhiều gian dối.Tự do, dân chủ không phải là lời nói suông. Nước Pháp và Liên Hiệp quốc đã có bản Tuyên ngôn nhân quyền quy định về quyền tự do của con người trong đó có tự do hội họp, tư do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, tự do đi lại, tự do làm việc. Nhưng trong xã hội cộng sản, những thứ tự do này đều không có thì làm sao mà đến tự do, dân chủ?
Trần Độ đã nêu lên những mâu thuẫn trong ngôn từ của các văn kiện đảng:
Có mâu thuẫn lớn trong đường lối là: cần “đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng đất nước”, nhưng lại nêu “đấu tranh giai cấp”. Mà đấu tranh giai cấp thì trong dân tộc đấu tranh làm gì có đoàn kết.
• Hô hào dân chủ và phê phán tình trạng mất dân chủ nhưng lại kiên trì “Đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện”, đã kiên trì cái thứ ấy là phản dân chủ rồi. (TRẦN ĐỘ * NHẬT KÝ RỒNG RẮN IV, 1)

(2). Nói dối có giới hạn nhất định
Bọn gian manh nói dối và đã thành công nhưng cây kim để lâu trong bọc cũng lòi ra. Chúng chỉ lừa được một lần, về sau thực tế và thời gian làm lộ rõ sự thật:
- Ban đấu nhiều người tin Cộng sản có tinh thần dân tộc nhưng sau CCRĐ, nguời i ta thấy rõ công sản đã lộ đuôi chồn.
-Sau 1975, người ta đã hiểu rõ MTGP chỉ là tôi tớ của Cộng sản Bắc Việt.
-Sau năm 2000, ai cũng biết Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đổ Mười...đã nhương biên cương, biển đảo cho Trung Cộng, và họ cũng đã  bán nước Việt Nam. Cũng sau năm 2000, dân Việt đã thấy rõ hành động tàn ác và dối trá của Trung Cộng. Việt Cộng là nô lệ của Trung cộng chứ không phải đồng chí, anh em như Hồ Chí Minh phỉnh gạt.

(3). Lý luận  non nớt hoặc có vẻ cao siêu
Bọn lưu manh thường vẽ ra những thiên đường tại thế, những tuơng lai huy hoàng, làm cho những kẻ trẻ người non dạ tin tưởng phấn khởi. Nhưng với tâm vô sân, vô si, vô thàm, và với  trí đại giác, một số sẽ nhận tháy những vệt đen trong lý luận ngu si và không tưởng.
-Marx-Engels, Lenin ca tụng chế độ cộng thê.  Engels chủ trương trong chế độ cộng sản, khi mà tài sản là của chung, thì chế độ hôn nhân cũ không tồn tại:
Nhưng ở đây, mọi cơ sở của chế độ hôn nhân cá thể điển hình đều bị xóa sạch. Ở đây không có tài sản nào hết, mà hôn nhân cá thể và sự thống trị của đàn ông được lập ra để duy trì và thừa kế tài sản; vì thế không có động cơ gì để lập ra sự thống trị ấy. Hơn nữa, ở đây cũng không có phương tiện để làm điều đó.(Nguồn gốc của gia đình)
Chủ trương của Cộng sản sai lầm. Thời nguyên thủy con người sống với bầy đàn nhưng chưa chắc đã cộng thê. Hãy nhìn loài chim. chúng sống theo đàn bầy nhưng có tổ riêng, một chồng một vợ hay một chồng nhiều vợ mà không theo mẫu hệ và cộng thê! Lý luận cộng sản về thời nguyên thủy chỉ đúng một phần vì có loài vật sống bừa bãi, có loài chung tình sống mãi bên nhau. Và loài vật dù sống chung vẫn tư hữu ghê lắm. Con trâu, con bò, con gà mạnh nhất thì chiếm nhiều "vợ" cho riêng nó, con nào lại gần là bị đánh đuổi chứ không phải chúng theo chủ nghĩa cộng sản, cộng thê đâu! Espinas ( Về các xã hội động vật”5, 1877) cũng đã nói rằng loài vật tuy sống thành đàn nhưng vẫn có gia đình riêng:Bầy là tập đoàn xã hội cao nhất mà ta có thể thấy ở các động vật. Nó hình như là gồm nhiều gia đình; nhưng ngay từ đầu, gia đình và bầy đã đối kháng với nhau, và phát triển tỉ lệ nghịch với nhau” (Nguồn gốc của gia đình)

 Dù có cộng thê, bọn cao câp vẫn tam cung lục viện. Ghét tư sản , bài trừ tư hữu nhưng thực dạ thích tư hữu thì làm sao cộng sản cộng thê? Cộng sản hay công thê chỉ là ngôn ngữ đầu môi chót lưỡi của cộng sản .Engels cho rằng vai trò đàn ông và đàn bà sẽ thay đổi , hôn nhân sẽ không còn nữa, nhất là nạn mãi dâm sẽ không còn, và cha mẹ sẽ không còn nỗi khổ sở vì phải nuôi con:
Vì với việc chuyển tư liệu sản xuất thành tài sản xã hội; thì lao động làm thuê, giai cấp vô sản sẽ mất đi, và việc một số phụ nữ phải bán mình vì tiền - con số này có thể thống kê được - cũng theo đó mà mất đi. Tệ mãi dâm biến mất; và hôn nhân cá thể không những không sụp đổ, mà còn trở thành hiện thực, kể cả với đàn ông. .... Chăm sóc, giáo dục trẻ em trở thành một công việc xã hội; chúng đều được nuôi dạy như nhau, bất kể là con hợp pháp hay không.(Nguồn gốc của gia đình)
Trung Cộng đã thực hiện chủ nghĩa cộng sản trong công xã nhân dân nhưng được it lâu phải bỏ, và nay trong khi các nước tư bản, quân chủ duy trì chính sách xã hội còn cộng sản thì tung hê,  theo chủ trương " sống chết mặc bay". Cộng sản bóc lột nhân dân với nhiều thứ thuế, bắt học sinh đóng học phí, bệnh nhân đóng viện phí. Chắc một số các ông yêu Marx còn nhờ điều khoản giáo dục cưỡng bách trong Tuyên Ngôn Cộng sản!
Các ông yêu Cộng sản cũng như Tố Hữu tin tưởng trong chế độ cộng sản sẽ không còn mãi dâm, mãi dâm chỉ là "tàn tich Mỹ Ngụy" nhưng nay các ông thấy gì? Các ông bà, cô cậu có thấy Việt Cộng xuất cảng giái đứng đường, nô tỳ, nô lệ, và trộm cắp khắp thế giới?  Đó là thành quả của chủn nghĩa Marx bách chiến, bách thắng phải không?

 Nguyễn Kiến Giang nhận định về việc này như sau:
Người ta tưởng rằng với chủ nghĩa xã hội, tất cả những tật bệnh xã hội phát sinh dưới chủ nghĩa tư bản sẽ được khắc phục, nhất là chế độ người bóc lột người. Hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đều tuyên bố xóa bỏ xong các giai cấp bóc lột. Nhưng kết quả là thế nào? Kết quả là chủ nghĩa xã hội vẫn không tỏ rõ được ưu thế của nó đối với chủ nghĩa tư bản. (SUY TƯ 90 * III, 3).

-Marx ca tụng chế độ cộng sản nhưng Aristotle chỉ trích chủ nghĩa cộng sản. Aristote chỉ trích chế độ cộng sản của Platon, cho đó là một chế độ không tưởng. Ông không đồng ý với cuộc sống tập thể của giai cấp thống trị theo kiểu Platon; ông thích những đức tính cá nhân, sự tự do, sự hữu hiệu và trật tự xã hội. Ông không muốn xem tất cả người xung quanh là anh chị, xem tất cả người có tuổi là cha mẹ. Nếu tất cả đều là anh chị, lẽ tất nhiên không có người nào thực sự là anh chị. Thà rằng có một người bà con xa, song thật sự là bà con còn hơn có những người bà con theo kiểu Platon. Trong một xã hội mà tất cả phụ nữ và nhi đồng đều là của chung, tình yêu thương sẽ phai nhạt. Chỉ những cái gì thực sự của ta mới được chiều chuộng và gắn bó.

Rất có thể rằng trong quá khứ xa xôi có một xã hội sống theo chế độ cộng sản. Trong xã hội đó một gia đình được coi như một quốc gia và tất cả hoạt động kinh tế tập trung vào việc cày ruộng và nuôi súc vật. Đối với một xã hội phát triển hơn, cần có sự phân công phức tạp hơn, khả năng của con người không thể đồng nhất như xưa và do đó không thể áp dụng chế độ cộng sản được. Cần phải có sự thúc đẩy tâm lý con người mới chịu tự rèn luyện để đảm nhận những công việc chuyên môn, cần phải có phần thưởng của tư sản con người mới chịu hăng hái phát triển kỹ nghệ và chăn nuôi. Khi tất cả tài sản là của chung, thì không một ai chịu lo lắng giữ gìn tài sản ấy, người ta có khuynh hướng lo lắng cho cái gì thuộc riêng mình và hoàn toàn lơ là trước các vấn đề chung. Cuộc sống tập thể theo kiểu cộng sản tạo nhiều vấn đề nan giải, không chóng thì chầy các cá nhân sẽ tìm cách gây gổ nhau để phân chia của cải. (7).
Quan niệm này đã được dân Việt Nam suy nghĩ đến trước 1930:
Lắm thầy, thối ma
Lắm cha con khó lấy chồng
Lắm sãi không ai đớng cửa chùa"
-  Marx chủ trương vô sản chuyên chính, Lenin, Stalin, Mao,. Hồ,,Pol Pot ...đánh đuổi và giết hại trí thức trong khi Platon chủ trương cộng sản nhưng Platon  cho rằng những kẻ cầm quyền phải là những kẻ ưu tú nhất, ông còn thêm rằng những kẻ cầm quyền phải được huấn luyện chu đáo. (7).
 Quan điểm  phản khoa học và lý trí  của cộng sản đã được Thư Kinh nói đến mấy ngàn năm trước, "Quân tử tại dã, tiểu nhân tại vị" 君子在野, 小人在位 .(書經: Đại vũ mô )..

Ý tưởng của Platon đã được dân Việt Nam tán đồng với quan điểm chọn người theo khả năng chứ không theo giai cấp (tài đức). Người Việt Nam mai mỉa cộng sản thù ghét trí thức, thần thánh hóa vô sản:
"Nhiệt tình + ngu dốt  + phá hoại
Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức!
Trời làm một trận mây mù,
Thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy!
Thằng ngụy mà được nói năng, 
Thì thằng cộng sản hàm răng không còn.

Bọn cộng sản dối trá, ngu dốt cho nên chúng bắt nhân dân im lặng, không được phản đối vì phản đối là vạch âm mưu xấu xa, chính sách sai lầm và tàn bạo của chúng,
-Marx quảng cáo chủ nghĩa cộng sản của ông:" Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu (Các tận sở năng, các thủ sở nhu". Một người đánh cá, mỗi ngày bắt được 10 lý cá, già mỗi ký cá lá 10 dollars. Như vậy làm việc hết sức, mỗi tháng ông sản xuất 3000 dollars, nhưng ông muốn công ty quốc doanh của ông trả mổi tháng 5000 dllars. Có công ty nào trà như vậy không? Rõ là giả dối, mê hoặc lòng người! Cũng như Mao, muốn dụ người vào công xã, ông cho ăn ngày 4, 5 bữa với sáu bảy món ngon. việc này có thực nhưng chỉ được vài tháng, cánh cửa công xã nhân dân khép lại, đã vào là không chạy đi đâu được, để rồi sau đó ăn cháo, ăn rau... chết hàng chực triệu dân!
-Marx  chủ trương vô sản chuyên chính  nghĩa là cai trị bẳng bạo lực. Trần Đức Thảo nhân định từ lý luận và thực tế:
-Cộng sản tuyện truyền chế độ cộng tuyệt đối tự do, dân tự làm chủ đi đến tình trạng vô chính phủ.  Engels viết:

 Một khi không còn giai cấp xã hội nào cần phải duy trì trong vòng áp bức nữa, một khi mà cùng với sự thống trị giai cấp và sự đấu tranh để sinh tồn xây dựng trên tình trạng vô chính phủ từ trước tới nay trong sản xuất, những xung đột và những sự quá làm nảy sinh từ tình hình đó cũng đều bị loại trừ, thì lúc đó sẽ không còn có gì để đàn áp nữa, lúc đó một lực lượng đặc biệt để đàn áp, tức là Nhà nước, cũng sẽ không còn cần thiết nữa (. . .). Sự can thiệp của chính quyền Nhà nước vào các quan hệ xã hội hóa sẽ hóa ra thừa trong hết lĩnh vực này đến lĩnh vực khác và sự đình chỉ. Việc cai quản người sẽ nhường chỗ cho việc quản lý vật và chỉ đạo quá trình sản xuất. Nhà nước không "bị xóa bỏ", nó tự tiêu vong.
http://www.marxists.org/vietnamese/marx-engels/1870s/chongduhring/phan_27.htm

Trái lại, trong chế độ cộng sản, uy quyền ngày càng xiết chặt, người ta ngồi lỳ đến chết, và đem vợ con, anh em vào guồng máy lãnh đạo. Làm  sao có vô chính phủ? Chắc các ông có óc viết truyện khoa học giả tưởng chứ đời nào cộng sản giã từ quyền bính!
Milovan Djilas viết như sau về việc Marx tuyên bố nhà nước tự tiêu vong:
Điều đặc biệt là ngược lại với lí luận về sự “tiêu vong”, chức năng của nhà nước ngày càng mở rộng và phân nhánh cùng với số người tham gia vào bộ máy ngày một đông hơn. (GIAI CẤP MỚI 4 ,16)

Trần Độ đã viết về việc này như sau:Các lực lượng Công an lại có quy mô của một Chính phủ (nhiều lĩnh vực) nào là an ninh chính trị, công an kinh tế, an ninh văn hóa và an ninh đối ngoại... Thế mà bất cứ việc gì cũng phải nêu lên đó là nhiệm vụ của toàn dân, mỗi người dân đều phải gánh vác hoặc tham gia. Công an có công an khu vực, công an phường, xã. Ngày xưa còn bé, ở nhà quê, tôi chỉ thấy làng xã tôi có một trương tuần và 4 anh tuần phiên. Ngày nay tôi thấy ở phường có công an phường có trụ sở, có mấy chục người và chỉ huy là một cấp tá; bây giờ mình nhiều sĩ quan thật! Tôi thấy cái sự cồng kềnh và đông đảo quá thế không phải là một kinh nghiệm hay. Nó quá tốn kém vì nhiều cơ quan, tổ chức thì phải nhiều trụ sở, nhiều xe cộ, đồ dùng văn phòng, nhiều đại hội, hội nghị và học tập. Những chi phí về các việc đó đều lấy vào ngân sách, đều do dân phải đóng góp, mà trong khi ta lại quá thiếu thốn vốn để đầu tư phát triển kinh tế. (MỘT CÁI NHÌN TRỞ LẠI 2)

Marx, Lenin tuyên truyền cho đời sống tự do, hạnh phuc trong công xã. 
Trong quyển Hệ Tư Tưởng Đức (1845), Marx đã mơ mộng hay dối trá:
Trong xã hội cộng sản, nơi không có ai bị giới hạn lĩnh vực hoạt động nhất định… xã hội điều tiết toàn bộ quá trình sản xuất và vì vậy sẽ tạo điều kiện cho tôi hôm nay làm việc này, ngày mai làm việc khác, sáng đi săn, giữa trưa đi câu cá, chiều chăn gia súc, sau bữa ăn tối thì làm phê bình - tuỳ thích – và không vì thế mà biến tôi thành thợ săn, ngư dân, người chăn nuôi hay nhà phê bình. (CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN I , 5,

George Lukacs cũng theo Marx mà đánh trống khua chiêng phụ họa
Vì vậy việc loại bỏ tư hữu chính là điều kiện cần thiết của tự do chân chính. Phải giải thoát khỏi sự phụ thuộc đó thì nhân loại mới đạt đến sự tự thể hiện hoàn toàn. Phân công lao động sẽ biến mất và người ta có thể tự do chuyển từ công việc này sang công việc khác.
Người như Lucacs không thể là mẩu người mơ mộng, phải nói ông là kẻ ninh hót và dối trá.


Những nhận định trên đây đã được thực tế kiểm chứng và xác nhận. Đó là việc nhân dân Đông Đức và Đông Âu bỏ chạy sang Tây Đức khi bức tường Bà Linh sụp đổ 1989 và việc dân Việt Nam vượt biên sau 1975 đã xác định dân chúng xa lánh cộng sản.Và quan trọng nhất là việc Đông Âu sụp đổ, Liên Xô tan rã và Trung Quốc, Việt Nam biến thái là những minh chứng cụ thể nhất cho sự sụp đổ tất yếu của cộng sản.

Tại Việt Nam, dù cộng sản vừa khủng bố, vừa dụ diỗ và tuyên truyền xảo trá, một số văn nghệ sĩ, chính trị gia và các bậc tu hành  chân chính cùng nhân dân đã nhận thấy mọi sai lầm, dối trá và tàn ác của cộng sản. 

Giáo sư Phạm Thiều trước khi tự vẫn đã viết:
Dốt mà lãnh đạo nên làm Dại.
Dại mà muốn thành tích nên báo cáo Dối.

Dốt, Dại, Dối, đó là ba điều làm cho các nước Xã Hội Chủ Nghĩa sụp đổ, làm cho nước ta đi từ sai lầm này đến sai lầm khác”. (  Phan Lạc Tiếp. Gió Mùa Đông Bắc;tr. 37).
Sau 1955, các văn nghệ sĩ, giáo sư, nhà báo đã vủng lên dòi tự do dân chủ tạo thành phong trào Nhân Văn Giai Phẩm làm cho Cộng sản phải sợ hãi và ra tay đàn áp dã man.
  Sau năm 2000, Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, các tướng lãnh, chính trị gia, cán bộ cộng sản như Trần Độ, Trần Xuân Bách, Nguyễn Kiến Giang, Trần Thư... đã công khai chống lại đảng Cộng sản.

Đặc biệt là triết gia Trần Đức Thảo đã có những nhận định chính xác về triết lý cộng sản. Về Marx, ông nhận định: 

 Vì cái xã hội đại đồng ấy chỉ là một mô hình không tưởng của mong ước, chưa hê có, chưa hề thấy trong hiện thực! Nhưng cái hiện thực trước mắt Thảo, ở Hà Nội hôm nay, sao mà nó độc đoán, luộm thuộm, tàn nhẫn quá  [....]. Mà có thể nào xoá bỏ hẳn khát vọng tư sản trong con người hay không? Có một hiện tượng đáng chú ý là trong cuộc sống càng thiếu thốn, thì con người càng nghĩ tới quyền lợi cá nhân, tới tư sản nhiều hơn là tới vô sản và quyền lợi tập thể. Bởi quyền lợi tập thể đã hạn chế, ức chế quyền sống cá thể.. [....].Stalin đã chết, tội ác của Stalin lần đầu tiên bị vạch ra công khai. Và Đông Âu đang sôi động! Ba Lan bắt đầu nổi dậy! Budapest đã chuyển minh! Hồng quân Liên Xô đã phải nhảy vào can thiệp, đàn áp bằng vũ lực! Bây giờ phải dùng vũ lực, dùng bạo lực để bênh vực, chống đỡ cho lý thuyết, cho lý luận! Phải chăng đấy là một thú nhận rõ ràng sự sai trái, sự thất bại của lý thuyết và lý luận?. (Tri Vũ-Ch.IX)
Ta đã trồng cây tư tưởng của Marx, và cho tới nay thì cây đó vẫn cho toàn quả đắng- (Tri Vũ.69) Không có một thứ lý luận biện chứng nào có thể chứng minh rằng một xã hội  đầy đen tối, đầy dối trá, độc ác, quỷ quyệt, đầy hận thù , tranh chấp , đầy chia rẽ và tham nhũng của hôm nay sẽ đẻ ra một thế giới đại đồng chân thật, đoàn kết, thương yêu, tốt đẹp cho nhân loại …tung tích của thủ phạm đưa tới sai lầm cơ bản của cách mạng là : sự thiếu vắng của thực tế hiện tại trong lý luận- (Tri Vũ, Ch.IX, 207)…[...]. Tại sao phải chấp nhận để oán thù làm động lực của hành động cách mạng? Ai, học thuyết, lý thuyết nào đã gợi ý, ai đã dạy ta phải biến oán thù thành động lực như thế? Xét như thế, thì thấy tất cả đều phát xuất từ một học thuyết, từ một ý thức “đấu tranh giai cấp” mà ra… Và chính học thuyết ấy, giáo điều ấy đã tạo ra cái bóng ma quyền uy của Lenin của Stalin, của Mao và cả của Pol Pot nữa… Nhưng trên tất cả các lãnh tụ ấy, lại là tư tưởng Marx! Thủ phạm gốc chính là Marx! ( Tri vũ.ch,XII) [...]..Như vậy cái công lao, cái tài lãnh đạo thần thánh ấy, sự thật chúng là công hay là tội? Rốt cuộc nay thì đã phải trải thảm đỏ đón mời Mỹ trở lại! Trong khi đó Tàu đang ức hiếp ta, đang gậm nhấm vùng đất, vủng biển của ta, vẫn đang công khai tiếp tục trắng trợn lấn chiếm một số hải đảo ở vùng Trường Sa, Hoàng Sa của ta! Và ta vẫn cứ kiêu hãnh hát vang bài ca “đại thắng”! Đại thẳng gì mà giang sơn gấm vóc tổ tiên để lại nay đã bị tiêu hao vào tay mấy “đồng chí vĩ đại” như thế? Đau lòng lắm! Đau lòng lắm! (Tri Vũ..Ch.XIII)
Công cuộc phát triển cách mạng vô sản, với giấc mơ xây dựng thế giới đại đồng… như vậy là đã hoàn toàn tan vỡ, sau khi đã hi sinh tính mạng của hàng bao nhiêu vạn bộ đội! Bây giờ thì không còn phải chống Mỹ cứu nước nữa. Giờ đầy là phải tìm lối thoát ra khỏi chế độ bao cấp, dẹp bỏ mục tiêu tự tức tự cường, phải bám theo Mỹ để cứu nước. Cả một nền kinh tế toàn cầu dưới sự áp đảo của đồng đô-la Mỹ, cả một nền văn hoá sống cuồng, sống vội, hừng hực sinh lực thực dụng của văn hoá Mỹ, nay nó tự do tràn vào như thác đổ, nhậu một xứ sở đã bị kiệt quệ đến xương tuỷ vì chiến tranh và cách mạng. Một nền văn hoá nông nghiệp rệu rạo đã bị kiệt sức đến trống rỗng, sau bao năm chiến đấu “tự lực tự cường”, chỉ biết hỉ sinh và chịu đựng, nay làm sao cưỡng lại lối sống no nê, phè phỡn kiểu Mỹ như thế! Tương quan lực lượng giữa một nền kinh tế lạc hậu với nền văn hoá nghèo túng và kìm kẹp như vậy thì làm sao cưỡng lại trước sức tràn ngập của nền kinh tế dư thừa và của nền văn hoá tự do sống cuồng, sống vội của Mỹ! Tới đây ta, sẽ thấy tuổi trẻ nông thôn cũng thì đua “quần bò, áo phông”, cũng son, cũng phấn lòe loẹt như ở bên Mỹ thôi! (Tri Vũ. Ch.XIII)

Duy lý, duy nghiệm và duy tâm đếu cần thiết trong sinh hoạt trí thức và đời sống. Duy lý, duy nghieệm và duy tâm bổ túc cho nhau. Phải có tâm vô sân, vô si và vô tham mới vào được chánh đạo. Phải có tâm thiện, tâm chính trực, chúng ta mới giác ngộ. 

Trong thực tế và xét tổng quát, đa số con người phần lớn sống và hiểu biết nhờ kinh nghiệm. Kinh nghiệm đánh đổ duy lý và kiến thức. Kiến thức rộng bao la. Ông là tiến sĩ, là bác học cũng chỉ hiểu biết trong phạm vi chuyên môn của ông mà thội. Ra khỏi phạm vi chuyên môn, ông, bà, cô cậu cũng như người bình thường mà thôi, có thể nói là dại khờ ngu ngốc. Thành thử ta thá các ông luật sư, bác sĩ chạy theo cộng sản để cuối cùng thiệt thân. Ngay cái chuyên môn của ông bà, dù là trí tuệ đệ nhất vẫn là kiến thức rởm như Trần Đức. Ai giỏi Mác Lê hơn ông thế mà cuối cùng chỉ là con bù nhìn trên ruộng đưa và bị nhân dân, kinh bỉ, cha mẹ quay lưng!
Chẳng cần là luật sư, bác sĩ, tiến sĩ, người dân Quảng Trị, Đà Nẵng, Cai Lậy, Cái Bè, Hòa Hảo, Tây Ninh hiểu rõ cộng sản hơn Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Như Tảng, Châu Tâm Luân!
Duy nghiệm là phương pháp khoa học hiện đại và cũng là vốn sống của nhân dân ta. Duy nghiệm đã dạy ta nhiều điều:
-Thất bại là mẹ thành công.
-Một lần thì tỡn đến già,
Đừng đi nước mặn mà hà ăn chân.
-Thức lâu mới biết đêm dài,
Ở lâu mơới biết ai người có nhân!
-Những người ti hí mắt lươn,
Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người...
-Con ơi, mẹ dặn câu này,
Sông sâu chớ lội, đó đầy chớ qua.
-Con ơi mẹ dặn câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan...

Alfred de Musset  có câu thơ tuyệt diệu:
- L'homme est un apprenti, la douleur est son maître,
 Et nul ne se connaît tant qu'il n'a pas souffert.  ( La Nuit )
Người đời là kẻ học nghề,
Mà thấy là nỗi ê chề đớn đau!
Không ai tự hiểu được đâu,
Nếu chưa từng trải đớn đau ê chề! 

Phải nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Phải sống với cộng sản mới hiểu chủ nghĩa Marx Lenin! 

 Ronald Reagan đã nói một câu hữu lý:

How do you tell a communist? Well, it's someone who reads Marx and Lenin. And how do you tell an anti-Communist? It's someone who understands Marx and Lenin

Làm sao biết ai là Cộng Sản? - Đó là người đọc về Marx và Lenin.
Làm sao biết ai chống cộng? - Đó là người hiểu về Marx và Lenin.


Tôi muốn phụ họa và bổ túc lời  với Reagan:
How do you tell an anti-Communist? It's someone who understands Marx and Lenin and 
suffers great misery in the communist regimeLàm sao biết ai chống cộng? - Đó là người hiểu về Marx và Lenin, và đã sống đau thương  trong chế độ cộng sản!


____  

CHÚ THICH

(1). Lê Hữu Mục- HỒ CHÍ MINH KHÔNG PHẢI LÀ TÁC GIẢ ‘’NGỤC TRUNG NHẬT KÝ’’.
(2). Phạm Duy Trưởng. TỪ NGỤC TRUNG NHẬT KÝ ĐẾN NHẬT KÝ TRONG TÙ
http://tranmygiong.blogtiengviet.net/2013/05/13/taro_ngarcc_trung_nhaont_ka_a_aofn_nhaon
(3). Tinh Vệ (Diệu Tần). Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký.http://nhanquyenchovn.blogspot.ca/2009/08/ho-chi-minh-khong-phai-la-tac-gia-nguc.html
http://vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=15984
(4).  http://nguyentynan.blogspot.ca/2013/07/tay-khong-quat-nga-may-bay-truc-thang.html
UH-1F sử dụng động cơ mới General Electric T-58-GE-3 với công suất 1,325 hp. UH-1H sử dụng đông cơ Lycoming T53-L13 với công suất 1400hp. Điều đó có nghĩa là động cơ của nó mạnh từ 1,325 đến 1,400 mã lực. Muốn kéo nó đứng lại phải cần một đối lực bằng ít nhất là 1,300 con ngựa. Bác Kiểm có đi học không nhỉ?
(5).  https://bahaidao.wordpress.com/2013/11/07/chuye%CC%A3n-buc-a%CC%89nh-co-gai-keo-xac-may-bay-my/
(6).  https://bahaidao.wordpress.com/2013/11/07/chuye%CC%A3n-buc-a%CC%89nh-co-gai-keo-xac-may-bay-my/
 (7). Câu truyện triết học (ARISTOTE, PLATON).https://sites.google.com/site/philosophiahv/ho-so-ca-nhan/heghen

BÙI BẢO TRÚC - PHẠM CAO DƯƠNG - NỢ PHÂN

Thursday, April 28, 2016


BÙI BẢO TRÚC * BẮT TAY

CÁI BẮT TAY



Bùi Bảo Trúc








Tính tới nay, tôi đã sống hơn nửa thế kỷ ở ngoài Việt Nam. Hết Tân Tây Lan, Anh, Canada rồi Mỹ. Nên muốn gọi tôi là (người) gì thì cũng được. Thời gian sống ở Việt Nam tính ra cũng không được bao nhiêu nhưng ở nhiều khía cạnh, tôi vẫn là một anh nhà quê. Tôi vẫn không tên Tây, tên Mỹ, mà vẫn giữ cái tên ông bà cụ đặt cho, giữ hoài đến tận ngày hôm nay, cái tên lúc thì nghe như tiếng gọi gà (chuck chuck), lúc thì nghe như một kiểu xe... vận tải (truck). Ấy là chỉ vì tôi sợ mai mốt xuống dưới ấy (?) hai ông bà đi kiếm trong cái danh sách mới nhập cư (?) cứ tìm (bằng cái tên cũ) hoài không ra thì tội cho hai người.


Còn một chuyện rất nhà quê khác của tôi là tôi vẫn chưa cảm thấy thoải mái với những cái bắt tay của phụ nữ dành cho tôi. Với mấy cô đầm thì... sao cũng được. Thực ra thì phải nói là càng... bắt tay, càng vui. Có ôm một cái... cho biết thật giả (?) lại càng vui hơn. Ôm rồi hôn hai hai... ba cái trên má lại càng tốt. Nhưng với các phụ nữ Việt Nam thì khác. Tôi vẫn đối xử với các nàng như nữ hoàng Anh và theo đúng nghi lễ (protocol) của hoàng gia, nghĩa là nữ hoàng đưa tay ra trước, thì thường dân (như tôi) mới bắt lấy tay của (các) nàng. Rồi để cho (các) nàng lắc như ... bò lúc lắc, khi nào chán thì buông ra cũng được.


Đối với tôi, chuyện bắt tay chẳng có gì quan trọng. Bắt cũng được, không cũng chẳng sao. Tôi không biết là đối với một số người, chuyện bắt tay lạ có thể quan trọng đến thế.


Hồi xưa, thời của ông già Khổng tử, con trai con gái bắt đầu từ một tuổi nào đó, mọi tiếp xúc phải hạn chế ở mức tối thiểu. Cần đưa cho nhau cài gì cũng phải tránh không đụng chạm vào tay của nhau. Phải đặt vật đó xuống bàn để cho người kia cầm lên. Nam nữ thụ thụ bất thân là như thế. Thời ấy thì nhất định không có trò bắt tay.


Trong truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu thì Vân Tiên vừa thấy Nguyệt Nga định bước xuống kiệu để cám ơn chàng vì nhờ chàng ra tay nghĩa hiệp cứu thoát nàng khỏi tay bọn cướp thì chàng liền tung ra hai câu đúng theo tinh thần cụ Khổng:


Khoan khoan ngồi đó chớ ra


Nàng là phận gái, ta là phận trai...


Thế thì có chán không cơ chứ ! Tôi tin là thời Nguyễn Đình Chiểu vẫn còn nhiều người hành xử như anh chàng cù lần Lục Vân Tiên chứ không phải là không.


Nhưng thực ra, thì ngay trong thế giới ngày nay, nói đúng ra là mới cách đây vài ba ngày, đầu Tháng Tư năm 2016, ở Thụy Sĩ đã xẩy ra một chuyện không khác gì chuyện Vân Tiên với Nguyệt Nga hay câu dậy dỗ (nam nữ thụ thụ bất thân) của cụ Khổng.


Ở thị trấn Therwil, có hai thiếu niên thuộc một gia đình Syria được cho tuyên thệ để trở thành công dân Thụy Sĩ sau khi đã cùng gia đình sống tại Thụy Sĩ từ năm 2001 đến nay. Người cha trong gia đình là một giáo sĩ Hồi Giáo được chính phủ Thụy Sĩ cho tị nạn năm 2001. Hai thiếu niên này, tuổi 14 và 15, tức là đã được sinh ra và lớn lên tại Thụy Sĩ, đi học trường Thụy Sĩ. Chuyện nhập tịch Thụy Sĩ chỉ là vấn đề thủ tục, hình thức, để có cuốn sổ thông hành của một quốc gia văn minh được nể vì ở mọi nơi trên thế giới. Thụy Sĩ đối xử với gia đình này hết sức tốt đẹp. Đất nước này đã mở rộng vòng tay ra đón lấy gia đình Syrie này trong lúc họ gặp phải những cảnh quẫn bách nhất. Trong ngày tuyên thệ nhập tịch của hai thiếu niên này, các thầy giáo, cô giáo của cả hai thiếu niên cũng đến dự.


Khi cả hai được gọi lên tuyên thệ, các cô giáo và thầy giáo muốn bắt tay hai cậu để chúc mừng họ trở thành công dân mới nhất của Thụy Sĩ thì cả hai từ chối những cái bắt tay thân hữu đó. Cả hai nói rằng việc bắt tay những phụ nữ không có liên hệ gia đình hay họ tộc đều bị tôn giáo (Hồi giáo) của họ nghiêm cấm.


Ngay sau khi hai thiếu niên này nói rõ lý do họ không bắt tay các cô giáo của họ tại buổi lễ tuyên thệ, giới chức chính phủ có trách nhiệm tổ chức buổi lễ đã ngưng ngay lễ tuyên thệ. Cả hai không được cho nhập tịch để trở thành công dân Thụy Sĩ.


Chuyện này sau đó đã được đưa lên báo. Bộ Trưởng Tư Pháp Thụy Sĩ Simonetta Sommaruga lập tức tuyên bố bà đồng ý với quyết định ngưng lễ tuyên thệ cho hai thiếu niên này. Bà nói rằng bắt tay là một truyền thống, là nét văn minh, văn hóa của Thụy Sĩ. Từ chối cái bắt tay là từ chối hội nhập vào, và chấp nhận hòa mình vào đời sống của đất nước đã đón nhận họ, cho họ cơ hội để có một đời sống tốt đẹp hơn.


Tử tế không muốn. Muốn những chuyên khốn nạn thì có ngay lập tức. Được cho sống ở một xứ sở bình yên, văn minh, hạnh phúc nhất thế giới thì đạp đi chỉ vì sự ngu muội, cuồng tín trung cổ mọi rợ thì được ngay.


Nhưng vài năm nữa, nếu nổi điên muốn vác xác đi theo bọn chó dại làm khủng bố thì làm sao có cái passport Thụy Sĩ mà mua vé máy bay?


Muốn sống đời khốn nạn thì dễ quá, không có “bông rua” là được ngay.


__._,_.___

TSPHẠM CAO DƯƠNG * NAM HẢI

 
Gs Phạm Cao Dương đính chính một sai lầm: "Không Thể Hiểu Nam Hải là Biển Trung Hoa hay Biển Nam Trung Hoa được"

Ý chính của người viết trong bài này là về quan niệm về hai nước đã song hành tồn tại từ đầu ở Đông Á là Bắc Quốc và Nam Quốc chứ không phải là một nước An Nam đối kháng với một một nước Trung Quốc văn minh và hùng mạnh hơn nằm ở giữa. Chính với quan niệm này mà tổ tiên chúng ta đã dựng nước và giữ nước từ nhiều ngàn năm trước và chúng ta vẫn tiếp nối công trình này. Cũng chính vì quan niệm này mà người Tầu không thể chấp nhận người Việt và luôn tìm cách đồng hoá va tiêu diệt. Vấn đề được đặt ra là sang thiên niên kỷ thứ ba này, liệu chúng ta còn có thể tiếp tục giữ vững được quan niệm này nữa hay không?

Danh xưng Nam Hải chỉ có nghĩa là Biển Nam, hay Biển của Nước Nam, hay Nước Nam không hề bao hàm hai tiếng Trung Hoa.


Trong ngôn ngữ Việt Nam, chúng ta có một số danh xưng để chỉ Biển Đông, miền biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đó là Biển Đông, Biển Trung Hoa, Biển Nam Trung Hoa và gần đây Biển Đông Nam Á hay bằng Hán Việt là Biển Nam Hải hay vắn tắt hơn, Nam Hải. Các danh xưng này đã được sử dụng và trở thành quen thuộc qua các bài học về địa lý kể từ khi chương trình Trung và Tiểu Học Việt Nam được Việt hóa, rõ hơn là từ thời Chính Phủ trần Trọng Kim qua Chương Trình Hoàng Xuân Hãn, vị Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Mỹ Thuật đương thời. Trước đó là Chương Trình Pháp Việt dạy bằng tiếng Pháp. Vì được chuyển từ tiếng Pháp sang và vì ở thời đó chưa có các cuộc tranh chấp về các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng và ở Biển Đông nói chung nên danh xưng Biển Trung Hoa, dịch từ tiếng Pháp Mer de Chine đã được sử dụng. Sau này khi tiếng Anh được dùng nhiều, ta lại có thêm danh xưng Biển Nam Trung Hoa, South China Sea, mà người ta cho là dịch từ danh xưng Nam Hải mà ra. Ở đây tôi không bàn về các danh xưng khác mà chỉ bàn về danh xưng Nam Hải và danh xưng Biển Nam Trung Hoa hay Mer de Chine hay South China Sea mà thôi.


Câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao từ Nam Hải , danh xưng này lại trở thành Biển Trung Hoa, Mer de Chine hay Biển Nam Trung hoa và South China Sea? Trong Nam Hải làm gì có hai chữ Trung Hoa? Nam Hải chỉ có nghĩa là Biển Nam mà thôi, làm gì có hai chữ Trung Hoa? Sở dĩ tôi đặt câu hỏi này ở đây là vì trong thời gian tôi đi dạy, tôi luôn luôn phải trả lời câu hỏi này của các học trò của tôi. Họ còn thắc mắc thêm là tại sao với một tinh thần độc lập cao mà các nhà Nho Việt Nam vốn tinh thông chữ Hán lại dùng hai chữ Nam Hải như vậy? Không lẽ các cụ lại tối dạ đến như vậy sao? Cũng xin được nhắc thêm là ngoài Nam Hải trong tiếng Hán Việt còn có thêm danh xưng Nam Dương và từ đó Nam Dương Quần Đảo tên cũ của nước Nam Dương tức Indomesia hiện tại. Nam Dương cũng chỉ có nghĩa là Biển Nam mà thôi, không hề hàm chứa Trung Hoa ở trong đó?


Truy cứu nguồn gốc của sự thêm hai chữ Trung Hoa vào Nam Hải hay Nam Dương để từ đó có Mer de Chine và South China Sea và Biển Nam Trung Hoa có thể là một đề tài riêng cho các nhà địa lý chính trị. Ở đây tôi phải nói ngay là thủ phạm nhiều phần không phải là người Á Châu và chắc chắn không phải là người Việt Nam mà là người Âu Châu khi họ mới tới vùng này. Đối với họ Nam phải là Nam của cái gì, từ đó họ thêm tiếng China hay Chine và nước Tầu vẫn là nước chính, các nước khác không quan trọng. Điều này cũng là chuyên đơn giản và hợp lý mà thôi, còn hiểu Nam chỉ là Nam thuần túy hay Nam là Nam của một xứ nằm ở giữa lại là một chuyện khác. Gọi Nam Hải là Biển Trung Hoa hay Biển Nam Trung Hoa như thế đối với người Hán, một dân tộc luôn luôn tự cao tự đại là một điều có lợi cho họ nhất là ở thời điểm có tranh chấp ở Biển Đông hiện tại. Nhưng đối với người Việt Nam thì đây là một sự hiểu lầm vô cùng tai hại, tại hại cho chủ quyền quốc gia và tai hại đối với quan niệm về tương quan giữa nước Tầu và nước ta của tiền nhân của chúng ta. Vậy chúng ta phải hiểu Nam Hải như thế nào theo ý các cụ ngày xưa?


Nam Hải chỉ có nghĩa là Biển Nam để phân biệt với Biển Bắc và rộng ra là Miền Nam với Miền Bắc, Nam Quốc với Bắc Quốc mà thôi



Điều này quá rõ ràng ai cũng nhận thấy . Rõ ràng không phải là theo nghĩa từng chữ mà còn theo lối nói chung của người Việt. Nam là một phương trong đông , tây, nam, bắc trong không gian sống của con người lấy chính mình làm mốc. Có Biển Nam là phải có Biển Bắc hay các biển khác. Những câu ca dao sau đây cho ta thấy điều đó:


Tìm em như thể tìm chim,
Chim ăn Biển Bắc đi tìm Biển Đông
Tìm Biển Đông, tây đông chim nhạn.
Anh tìm biển cạn, thấy đàn chim bay.
Tìm em bảy tám hôm nay,
Hôm qua là chín, hôm nay là mười.


Rồi chuyện Trạng Quỳnh và Đoàn Thị Điểm đón sứ nước Tầu, một chuyện dân gian truyền khẩu mà trước đây ai cũng biết. Ở đây người ta lại thấy có thêm Nam Bang, Nam Thổ, Bắc Quốc. Anh chàng sứ Tàu ở đây không hiểu hoặc cố tình làm nhục hay thách thức người dân Nam có mặt lúc đó, hoặc hôm trước ăn uống linh đình đã vô tình hay hữu ý “đánh bủm”. Tiếng kêu vang động đến tai mọi người. Để chữa thẹn hay nhục mạ, anh đọc một vế đối rất kiêu căng và rất đểu:


“Sấm (hay Lôi) động Nam Bang” có nghĩa là tiếng sẩm làm chuyển động nước Nam.
Ngay lập tức Trạng Quỳnh ra đứng trước mũi thuyền, đứng “tè” và đọc câu đối lại:
“Vũ qua Bắc Hải” có nghĩa là mưa qua Biển Bắc.
Đến lượt Đoàn Thị Điểm, có thể vì lịch sự, tránh cử chỉ thô lỗ, sứ Tầu chỉ đọc:

“An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh” hiểu theo đúng chữ nghĩa của các nhà Nho là một tấc đất An Nam không biết có bao nhiêu người cầy còn hiểu chệch đi theo lối của không ít người bình dân là không có lấy một người cầy tri kỷ, tùy theo người kể lựa chọn, nhưng ẩn ý của viên sứ Tầu vẫn là chê người đàn bà Việt Nam nhẹ nhất là lẳng lơ, thiếu trung thành. Có điều vì đây là một truyện truyền khẩu, bịa đặt, nghe qua rồi bỏ, không có văn bản, nguồn gốc rõ ràng như văn chương viết nên khó mà nói chuyện đúng, sai. Nói cách khác, người ta không thể áp dụng phương pháp nghiên cứu văn chương bác học hay văn chưong viết vào việc nghiên cứu văn chương bình dân hay văn chương truyền khẩu được. Dân gian ai hiểu sao, kể sao cũng được. Giải nghĩa theo chữ của nhà Nho thì đúng chữ nghĩa nhưng vô tình người ta đã xúc phạm nặng nề đến nhân phẩm và tiết hạnh của người phụ nữ Việt Nam, và cũng vô tình, do chính miệng mình nói ra, tay mình viết nên những chuyện thô tục, bẩn thỉu, đểu giả… từ đó miệt thị chính mình. Còn nói theo người nông dân ít học – nhưng không phải là không sâu sắc – dịch chệch đi là “không có người cầy tri kỷ” nhẹ nhàng hơn, lãng mạn hơn, quen thuộc hơn…để không mắc mưu vô cùng thâm độc của sứ Tầu, nhục mạ chính mình và những người phu nữ mình kính yêu nhất đời, là tự vận vào mình mà thôi, không có anh sứ Tầu nào ở đây hết. Tưởng ta cũng nên để ý là trong việc giáo dục con em của các cụ ngày xưa, nói tục hay chửi thề là một điều tối cấm kỵ. Nói chệch đi khi bất đắc dĩ phải nói là cách hay nhất. Chưa nói tới chuyện ở đây người kể còn phải giải thích nghĩa bóng của ngôn từ: “một tấc đất ám chỉ cái gì?”, “ cầy ám chỉ hành động gì?” nhất là khi người nghe là trẻ em và phụ nữ. Việc làm không phải là dễ dàng gì.


Trở lại với Đoàn Thị Điểm, Đoàn Thị Điểm đọc lại ngay: “Bắc Quốc đại trượng phu, giai do thử đồ xuất” có nghĩa là các bậc đại trượng phu Bắc Quốc đều do đường ấy mà ra. Ở đây người ta thấy An Nam chan chát đối với Bắc Quốc, An Nam đối đầu với Bắc Quốc. Người viết nhắc lại truyện này ở đây là vì mấy chữ Bắc Quốc, Nam Quốc đó. Chữ nghĩa trong trường hợp này không quan trọng mà chỉ là phương tiện. Ý chính của câu chuyện và cũng là ý chính của bài viết này nằm ở mấy chữ đó: Nam Quốc đối nghịch với Bắc Quốc.

Nhân đây người viết lại muốn giải thích tại sao các cụ ta trước đây lại phần nào chấp nhận dùng danh xưng An Nam là danh xưng do người Tầu đặt ra thời họ còn đô hộ nước ta. Lý do rất đơn giản, là vì An Nam chỉ có nghĩa là miền Nam yên bình, không loạn lạc, trái với miền Bắc luôn luôn có loạn nên trong lịch sử không ít người Tầu đã di cư sang tị nạn và lập nghiệp ở nước ta và đã hoàn toàn trở thành người Nam hay con cháu họ trở thành người Nam, trung thành với Nước Nam.


Nói cách khác An Nam là “đất hứa” đối với họ, đã dung túng họ và con cháu họ, và tên An Nam là một cái tên chẳng có gì là xấu xa, là miệt thị cả.

Nếu lên án các cụ thì cũng tội.


Trong các địa hạt sinh hoạt bình thường khác, chẳng hạn như trong địa hạt y khoa, các cụ đã phân biệt thuốc Bắc với thuốc Nam. Thuốc Bắc là thuốc dùng những dược liệu nhập cảng từ nước Tầu, được người Tầu sao, tẩm, chế biến; còn thuốc Nam thì dùng các dược liệu, các cây cỏ có sẵn ở trong nước. Chưa hết, trong việc dùng phân bón, các cụ cũng phân biệt phân bắc và phân xanh. Phân bắc là phân người. Người ta trộn lẫn phân người với tro bếp để khử mùi hôi thay vì dùng phân sống tức phân nguyên chất. Ở thôn quê miền Bắc, nhà nào cũng có một nhà xí hay cầu tiêu đào sâu xuống đất để chứa tro và phân để bón ruộng như vậy. Còn ở thành phố thì người ta dùng thùng để dưới nhà xí và có người chuyên đi thu góp gọi là “đổ thùng”. Phân Bắc quý hơn phân xanh tức phân thảo mộc hay thú vật. Ở Miền Bắc có nhiều làng chuyên nghề thu nhặt phân người rải rác khắp các đồng ruộng hay ven bờ đê. Người đọc không hiểu nguồn gốc của chữ “bắc” ở đây do đâu mà ra, có phải do người Tầu dùng trước hay không nhưng đây là một sự kiện liên hệ tới chữ bắc trong tiếng Việt và văn hóa Việt.


Bắc Quốc, Nam Quốc, không có Trung Quốc

Trên đây tôi đã đưa ra cái nhìn của quảng đại quần chúng người Việt, theo đó Nam là đối nghịch với Bắc, không có Trung ở chỗ nào cả. Vượt lên trên, ở tầm mức quốc gia thì ngay ở thời Lý Thường Kiệt ý thức về sự hiện diện của một Nam Quốc, một Nước Nam, đã tồn tại: “Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư” để đến thời Nhà Trần với Trần Bình Trọng: “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.” Sau này với Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo ”Sơn hà cương vực đã chia, phong tục bắc nam cũng khác”. Có điều khi nói tới nước Tầu, Nguyễn Trãi đã dùng tên các triều đại khi ông viết: “Từ Đinh, Lê Lý Trần gây nền độc lập, cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương.” Tại sao vậy? Đó là vì trong lịch sử, nước Tầu đã không có quốc hiệu cho mãi đến Cách Mạng Tân Hợi 1911 mới có tên chính thức là Trung Hoa, Trung Hoa Dân Quốc rồi sau này dưới chế độ Cộng Sản là Trung Quốc, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc hay chính thức hơn Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc. Trước đó người ta dùng tên của triều đại, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, thêm chữ Đại đằng trước. Trong khi đó ngay từ thời nhà Đinh, Đinh Tiên Hoàng đã đặt quốc hiệu cho nưóc ta là Đaị Cồ Việt, rồi tới thời Lý Nam Đế là Vạn Xuân… đến thời Nhà Nguyễn là Việt Nam hay Đại Việt Nam và Đại Nam. Trở về với quá khứ xa hơn nữa, từ thời Đế Minh, Kinh Dương Vương và Họ Hồng Bàng, sự tồn tại của quan niệm hai nước Nam và Bắc cũng đã có.

Câu truyện được các sách về lịch sử buổi đầu của dân tộc Việt Nam ghi lại đại khái như sau:


“Cháu ba đời Vua Thần Nông là Đế Minh đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh gặp Bà Vụ Tiên lấy nhau sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục là người có thánh đức nên được Đế Minh yêu quí lắm, muốn nhường ngôi cho nhưng Lộc Tục hết sức chối từ, xin nhường ngôi này cho anh mình là Đế Nghi. Đế Minh đành phải phong cho Đế Nghi làm vua phương Bắc và phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương cai trị phương Nam.

“Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm lên ngôi lấy hiệu là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Bà Âu Cơ con của Đế Lai, cháu của Đế Nghi, sinh ra một bọc trăm trứng, trứng nở thành một trăm người con trai …”


Nói tóm lại, ý thức coi mình ngang hàng với người Tầu của người Việt đã có từ rất sớm, ít ra là từ thời Lý Thường Kiệt và được khẳng định bởi Trần Bình Trọng. Người Việt tự coi mình là Người Nam, nước mình là Nước Nam là Nam Quốc còn người Tầu là Người Bắc, nước Tầu là nước Bắc, là Bắc Quốc, không hề coi họ là người Trung Quốc và nước Tầu là Trung Quốc là nước nằm ở giữa và vẫn thích dùng các danh xưng người Tầu, nước Tầu, một danh xưng bình thường, không có gì là xấu, hơn là Trung Hoa hay Trung Quốc kể cả từ sau năm 1911 khi danh xưng Trung Hoa được chính thức sử dụng. Danh xưng Nam Hải cũng vậy không hề có nghĩa biển nam của một nước Trung Hoa nằm ở giữa, từ đó là biển của Trung Hoa là Mer de Chine hay Mer de Chine Méridionale. Cũng nên biết thêm là danh xưng Nam Hải này còn được hiểu là Nước Nam luôn. Người sử dụng Nam Hải để chỉ Nước Nam là Phan Kế Bình, Cử Nhân Hán Học, qua tác phẩm Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện của ông.

Tóm lại đối với nguời Việt Nam, điển hình là Phan Kế Bính, Nam Hải chỉ có nghĩa là Biển Nam, hay Biển của Nước Nam mà thôi. Tuy nhiên đây không phải là ý chính của người viết. Ý chính của người viết trong bài này là quan niệm về hai nước đã song hành tồn tại từ đầu ở Đông Á là Bắc Quốc và Nam Quốc chứ không phải là một nước An Nam đối kháng với một một nước Trung Quốc văn minh và hùng mạnh hơn nằm ở giữa. Chính với quan niệm này mà tổ tiên chúng ta đã dựng nước và giữ nước từ nhiều ngàn năm trước và chúng ta vẫn tiếp nối công trình này. Cũng chính vì quan niệm này mà người Tầu không thể chấp nhận người Việt và luôn tìm cách đồng hoá và tiêu diệt. Vấn đề được đặt ra là sang thiên niên kỷ thứ ba này liệu chúng ta còn có thể tiếp tục giữ vững được quan niệm này nữa hay không?

Phạm Cao Dương

Những ngày đầu Thu, 2014

Tuesday, April 26, 2016


HÀN SĨ TIẾN SĨ VẬT LÝ* CHUYỆN CỨT

    

Chuyện cứt



Theo wikipedia dictionary thì cứt là phân của người hay động- vật thải ra khi ỉa! Còn tự- điển tiếng Việt thì cứt là phân của người hay động- vật .Thật là những định -nghĩa vì muốn tránh những danh từ cho là thô- tục mà thành ra tối nghĩa vì phân đã là cứt rồi. Định- nghĩa chính xác phải như sau : Cứt là cặn bã ở trong bụng người hay động vật được thải ra (ỉa) qua lỗ đít.
Con người hay động- vật muốn sống thì phải ăn ,khi thức ăn vào bụng thì những chất bổ sẽ nuôi cơ thể và những cặn bã còn lại sẽ được tống ra .Quá trình này được xảy ra nhịp nhàng giữa đầu vào và đầu ra. Mọi sự rối loạn ở hai đầu này sẽ phát sinh ra hệ- lụy có thể làm người hay sinh vật bị hoại- vong!
Để dễ nói chuyện chúng ta sẽ khảo sát riêng về cứt người cho tiện.
Đặc- tính chung của cứt là thối (miền Bắc) thúi (miền nam). Con người dù giàu có,ăn cao- lương mỹ- vị hay nghèo khó ăn mắm mút dòi, là ông vua hay thằng ăn mày,là hoa hậu hay thị Nở ,anh- hùng hay tiểu- nhân thì cứt cũng đều thúi .Cái đó là cái bình- đẳng nhất của ông trời .Bởi vậy khi nói thúi như cứt thì cứt này là chung cho mọi loại người trong xã hội.
Nhưng cái sự cho cứt ra (ỉa) bằng lỗ đít thì không phải mọi người, mọi xứ đều giống nhau .Thoạt- kỳ- thủy thì có thể có biểu hiện giống nhau vì chỉ đơn- giản là tống cứt ra ngoài ở đâu cũng được, cốt sao cho khỏe cái bụng. Vả lại, ngày ấy đất rộng, người thưa ỉa đâu chẳng được miễn là xa chỗ ở để khỏi bị cái thúi xông vào mũi là xong. Nhưng với thời gian và sự tiến hóa của nhân loại.Người mỗi ngày một đông, đầu óc cũng nẩy nở thêm thì cái sự ỉa đã được đặt thành vấn đề .Bởi vì cứt thì thúi, mà thúi thì dơ dáy .Không ai muốn cho người khác thấy sự dơ dáy của mình nên chỗ ỉa phải kín đáo và vì thế nên mới có sự ra đời của cái cầu tiêu!
Cầu tiêu là cái nơi kín đáo để người ta ỉa và dĩ nhiên là chỗ chứa cứt.Chứ không phải như tự điển tiếng Việt đơn-giản cho rằng cầu tiêu là nơi có chỗ ngồi để đại tiện. . Chưa có cuộc khảo sát nào chính- thức cho biết cầu tiêu xuất hiện trên thế- giới từ bao giờ .Trong sử sách từ Đông sang Tây cũng chưa bao giờ có đề cập đến việc ỉa đái của các ông vua bà chúa ngày xưa và trong cung vua phủ chúa ấy cũng không biết có cầu tiêu hay không? Từ đó mà suy ra thì từ lúc có mặt trên trái đất đến một thời gian rất dài tận sau này con người toàn ỉa bậy. từ vua chúa đến thường dân .Hiện nay tại Ấn- Độ vẫn còn nhiều làng mạc người dân không có cầu tiêu và cứ sáng sớm đàn bà con gái phải lũ lượt tay cầm chai nước ,rủ nhau đến chỗ đồng không mông quạnh mà ỉa , sở dĩ phải như thế vì trời tối không ai nhìn thấy với lại thời nào thì cũng có những kẻ xấu cứ chờ phụ nữ sơ hở là làm những chuyện trời ơi ! Thật khổ cho đàn bà con gái xứ này vì lỡ mắc ỉa khác giờ hay ỉa chảy thì sao?Không thấy Đài BBC nói về trường- hợp đặc biệt này.
Sở dĩ phải nói dài dòng như vậy để mọi người thấy rằng quá trình tiến- hóa từ ỉa bậy đến cái cầu tiêu tự- hoại bây giờ quả là khó khăn gian khổ và lâu dài thế nào.
Thoạt đầu thì có thể là do ngai đi xa,lại có khi mưa gió nữa nên người ta đã tìm cách thiết kế một chỗ gần nhà để ỉa cho tiện.Muốn cho thoải mái và ít bị mùi thúi xông lên mũi ,người ta nghĩ cách làm cái chỗ ngồi ỉa cao hơn chỗ cứt rơi và có lẽ vì thế nên mới có danh từ cầu tiêu nghĩa là ngồi trên cao để tiêu hóa. Nhưng cách gì thì rồi ỉa nhiều cũng có mùi nên thường thì người ta làm cầu tiêu để ở nơi xa nhà.
Thật ra cầu tiêu là tên gọi của miền Nam .Miền Nam sông nước nhiều nên người ta hay bắc một cái cầu nhỏ ven sông để ngồi lên đó mà ỉa ,cứt sẽ trôi theo con nước,lâu dần có người tận dụng lấy cứt nuôi cá nên họ đào ao thả cá rồi làm cầu trên ao để ỉa. Thật là tiện : Cá có cứt để ăn không cần cung cấp thực phẩm ,lại được ỉa gần ngay nhà mà không hôi thúi .Đến lứa thì hốt cá đem bán. Để tượng- thanh có người gọi dây là “ cầu tõm “mô tã âm- thanh khi cứt rơi xuống nước. Cầu tiêu thường được bắc từ bờ ra sông hoặc ao khoảng 2, 3 m.Trên cầu có thiết kế chỗ ngồi được che chắn bằng gỗ tạp hoặc lá dừa nước cao khoảng 6,tới 7 tấc,sao cho người sử dụng chỉ cần dở cao chân là bước vào ỉa được và khi ngồi ỉa thì yên tâm chỉ còn ló có phần ngực trở lên, không ai nhìn thấy cái hạ bộ của mình. Ở những xóm làng đông dân có khi người ta làm cả một dãy 5, 7 cái để bớt phải chờ chực.


Ngoài Bắc thì không gọi là cầu tiêu mà là chuồng xí hay hố xí. Tự điển tiếng Việt ghi chuồng xí là nơi thường được che chắn sơ- sài để làm chỗ đi đại tiện. Nhà quê thì thường người ta dùng lá hay bao bố , mành tre quây lại trên một cái hố có bắc hai khúc cây để ngồi ỉa nên gọi là hố xí . Ở thành phố thì người ta xây ở sau nhà một cái phòng khoảng hơn một mét vuông,như cái chuồng, cao hơn mặt đất khoảng 1 mét nên gọi là nhà xí hay chuồng xí .Phía dưới để một cái thùng đựng cứt ,để trống phía sau cho người làm vệ sinh lấy phân khi đầy thùng.Phía trên là một tấm đan có đục một cái lỗ diện tích khoảng hai tấc vuông. Người sử dụng phải vén khéo sao cho cứt, đái rơi gọn vào cái lỗ đó rồi rơi xuống thùng. Trong nhà xí còn có một thùng đựng tro để đổ lên những chổ rơi rớt cho bớt thối,một thùng đựng giấy chùi đít và một miếng ván có chỗ cầm để đi xong thì đậy cái lỗ lại , ngăn chặn bớt ruồi bọ hoặc mùi cứt bay lên. Loại nhà xí này đến đầu thập niên 80 Hà Nội vẫn còn.
Có thể hơi quá đáng để mường tượng so sánh cho dễ hiểu khi nói :Cầu tiêu giống như cái giàn khoan HD 861 ở Biền- Đông còn nhà xí thì như Tử Cấm Thành ở Bắc- Kinh vậy!
Vào đầu những năm 60. Khi ở Trung Quốc chủ trương đèn đỏ là đi, đèn xanh là ngừng vì màu đỏ là màu cách mạng, mà cách mạng chỉ có tiến chứ không có ngừng,. Khi ở miền Bắc lập thành tích cấy lúa dầy đến nỗi trẻ con có thể đứng trên bụi lúa được thì miền Bắc cũng đã có được một phát minh khoa học mà Nhật- Bản phải cho rằng đây là một trong bảy công- trình của khoa học trong thế kỷ 20: Đó là Hố Xí 2 ngăn.
Hố xí 2 ngăn được thiết kế theo kiểu cái hố chứa cứt được chia làm 2 ngăn . Ngăn này để ỉa còn ngăn kia ủ phân. Nghe nói loại hố xí này vệ sinh cực- kỳ và dân nông thôn đa- số nhà nào cũng có để lấy phân làm nông- nghiệp. Tiếng là vệ sinh cực- kỳ nhưng cũng vẫn còn hôi thối nhưng người ta vẫn phải làm ở gần nhà vì sợ bị xúc trộm cứt.
Nhà nước cũng có những nhà xí tập- thể .Để khai thác cứt cho có hiệu quả , gọn ghẽ, vệ sinh hơn nên có qui- định rõ ràng .Qui- định này được ghi trên một cái bảng màu hồng khổ 40 x 60 như sau :
QUI ĐỊNH VỀ ĐI ỈA.

-Tất cả nam ,nữ đi ỉa phải đến nơi qui đinh.

-Phải ỉa đúng lỗ.

-Nếu là chuồng xí máy, ỉa xong phải tháo nước, bỏ giấy vào thùng đã qui định.Nếu không phải là chuồng xí máy thì thôi.

-Ỉa xong phải rửa tay sạch sẽ.

Thời- kỳ chiến- tranh vấn đề phân, giống rất gay go vì thế, có được một nguồn cứt người dồi- dào để làm phân bắc thì quả là trời đã ban cho miền Bắc một món quà vô giá. Người người làm phân , nhà nhà làm phân ,nông nghiệp đã tiến- triển rõ nét và người dân đã phấn- khởi ghi ơn người có công phát- động chiến- dịch này bằng câu :
Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh.
Anh về phân bắc , phân xanh đầy đồng.
Đúng ra thì việc sử dụng cứt người làm phân để trồng- trọt đã có từ lâu lắm rồi.Từ những ngày xa xưa người dân làng Cổ- Nhuế thuộc Huyện Từ- Liêm Hà- nội đã có nghề truyền- thống làm phân bón bằng cứt người để thâm- canh lúa và hoa mầu nổi tiếng.
Có câu : Đào Nhật -Tân , phân Cổ- Nhuế.
Người dân làng này sống bằng nghề hốt cứt, có đền thờ Thành -Hoàng hẳn hoi,ông này sống bằng nghề hốt cứt, trong đền thờ người ta để một đôi quang gánh cùng 2 mảnh xương trâu cầm tay . Người làng Cổ- Nhuế đời này sang đời khác thay phiên nhau làm sạch cho Thủ- Đô Hà- Nội và đã từng được vua Lê –Thánh- Tôn ban cho 2 câu thơ ;
Khoác tấm áo bào giang tay gánh vác thiên- hạ.
Vung hai thước kiếm tận- thu lòng dạ thế- gian.
Đến cuối thập niên 50 thì nghề hốt cứt bị nghiêm cấm, chính quyền xem những người hành nghề này là trốn lao- động , bỏ công việc tăng- gia đi buôn cứt.Thời gian này những bãi cứt vô chủ thi nhau xuất hiện khắp Hà- Nội.
Phải đợi đến năm 1986 ,sau Đại- Hội đổi mới của Đảng , đất đai được trao lại cho nông dân canh tác thì nghề trồng rau ở ngoại thành Hà- Nội sống lại và người làng Cổ- Nhuế mới lại được tự do đi hốt cứt và bán cứt . Với quan niệm rau xanh dứt khoát phải được bón bằng phân bắc thì ăn mới ngon ,thơm , ngọt chứ bón bằng phân hóa học ăn nhạt thếch chẳng có mùi vị gì nên người ta tranh nhau trồng rau Xanh bằng phân bắc. Hậu quả là cứt có giá và người ta tranh nhau đi hốt cứt . Trước tình hình lộn xộn này Ủy- Ban Nhân- Dân Thành- Phố Hà- Nội phải ra qui- định dân ngoại thành không được phép tự do vào thành- phố hốt cứt và bán cứt nữa.
Thế là từ đây chỉ có dân Hà- Nội mới được khai- thác nguồn cứt dồi- dào của dân nội thành nhưng ở nội thành thì làm gì có nhiều đất để canh- tác .?Kết quả là cứt tiêu thụ trong nội thành dư thừa phải chuyển ra bán cho ngoại thành mà ngoại thành thì không làng nào có kinh- nghiệm trồng trọt và buôn bán cứt bằng Cổ- Nhuế!
Thế là nguồn cứt lại trở về với Cổ- Nhuế.
Thời- kỳ kinh- tế thị- trường làm ăn cũng phải đổi mới nên người Cổ- Nhuế đã lập ra một cái chợ chỉ mua bán duy nhất một mặt hàng là cứt người ,cái chợ mà chỉ ta mới có. Chợ có hẳn một Ban Quản- Lý chợ để điều hành công việc mua bán. Người tham- gia phiên chợ phải có mặt vào khoảng 3 giờ sáng và tan chợ trước khi trời sáng.Trong sinh- hoạt không được lớn tiếng, càng im lặng càng tốt. Nếu có tranh chấp về chất lượng cứt hay giá cả thì phải tuyệt- đối nghe theo sự phân- xử của ông chủ chợ. Khi ông phán cứt nạc thì dứt khoát là tốt ,còn nếu nói cứt lỏng phải bớt một giá thì cứ thế mà làm ,cấm cãi vì ông là người lớn tuổi, đã có thâm- niên trong ngành cứt nên không nói sai bao giờ. Tất cả các thùng cứt ông chỉ cần thọc cái que tre tới đáy ,kéo lên ngửi rồi dùng 2 ngón tay bóp thử xem độ dính là ông biết ngay cứt có nạc hay không ngay. Ông chủ chợ cũng đồng thời ở trong ban quản- lý và ban thẩm- định cứt để chống lại bọn làm cứt giả .Đã có những bọn dùng thân cây chuối băm nhỏ ,giã dập trộn với đất sét cho vào ống nứa thụt ,rồi trộn chung với cứt . Trường hợp này thì chỉ cần thọc hai tay vào thùng cứt bóp cái là biết ngay .Chỉ sau vài lần là những đứa làm cứt giả bị lật tẩy và bị cấm cửa, không cho vào chợ.
Ngoài việc thẩm- định người ta cũng chia cứt ra làm 4 loại.
Thứ nhất là cứt lấy ở khu Ba- Đình .Ở đây toàn là quan- chức ,ăn đồ ăn ngon nên cứt nạc.( danh từ chỉ cục cứt rắn, chất- lượng cao)
Thứ hai là khu Hoàn- Kiếm. Nơi đây toàn dân buôn bán và nhà hàng.
Thứ ba là khu Hai Bà Trưng, Đống- Đa .Dân lao- động nhiều ăn toàn rau nên cứt mờ,lõng bõng nước.
Thứ tư là khu ngoại thành . Dân nhà quê nghèo ăn toàn là rau muống nên cứt xanh lè.
Cứt đặc biệt lâu lâu mới có là cứt ngoại .Cứt này được lấy từ hầm phốt của đại sứ quán của các nước.!Nhà nước không chủ-trương nhập cứt.
Ngày nay thời thế đổi thay ,quan- chức , người giầu không dám ăn nhiều thịt cá , chuyển qua ăn rau mà phải là rau sạch. Rau trồng bón phân bắc có nhiều vi- khuẩn độc- hại không ai dám dùng . Cầu- tiêu, chuồng- xí được thay bằng cầu- tiêu tự- hoại .Ngành cứt vì thế cũng bị lụi tàn .Chợ cứt Cổ- Nhuế theo thời- đại đã biến chuyển thành chợ tình. Không bán cứt nữa thì bán trôn vậy!
Thôi thì dù sao cũng an ủi rằng chợ vẫn buôn bán những thứ ở dưới hạ bộ
Việt-Nam với dân số 90 triệu , trung bình mỗi người một ngày ỉa ra ½ kí cứt thì mỗi ngày ta thu hoạch được 45.000 tấn cứt . Trời ơi ! với số cứt này mà làm phân bón thì sản phẩm lương- thực do nó tạo ra ít nhất cũng nuôi nổi 1 tỷ 300 triệu người!
Phụ lục :
Cái hố xí hai ngăn ở Miền Bắc những năm 60 TK trước là sáng kiến của Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch , hồi đó là Bộ trưởng Bộ Y tế. Báo chí ngày đó ca ngợi cho đây là một sáng kiến vĩ đại của nền y hoc VN. Chỉ riêng Bác sỹ Đặng Văn Ngữ là phản đối. Vốn là môt chuyên gia về nghành ký sinh trùng , ông cho cái hố xí hai ngăn đó là nơi nuôi dưỡng ký sinh trùng rất có hại cho con người . Để chứng minh cho sáng kiến của mình là vô hại, ông Thạch đã bầy một cục phân khô lên bàn làm việc của mình tai Bộ Y tế như một vật trang trí. Nhưng ông Ngữ vẫn khăng khăng giữ quan điểm : chỉ có hố xí có bể phốt tự hoại mới đảm bảo vệ sinh. Chỉ vì quan điểm khác nhau về cái hố xí hai ngăn mà hai ông bác sỹ bằng mặt chứ không bằng lòng. Sau khi ông Ngữ hy sinh tại Trị Thiên năm 1967 trong khi nghiên cứu vacxin chống sốt rét , ông Thạch đã nói với các con ông Ngữ : "Đến bây giờ Bác mới hiểu hết Ba các cháu". Hố xí hai ngăn nhanh chóng đi vào quên lãng, không còn ai nhắc tới sáng kiến vĩ đại này nữa !


http://saigonecho.info/main//vanhoc/tuybut/24112-lang-c-nhu-hay-lang-ngoc-cuc.html

PHẠM THẾ VIỆT * NỢ CỨT

Nợ cứt
Phạm Thế Việt


Ngày đó hợp tác xã ở miền Bắc VN Xã hội Chủ nghĩa ra một chiến dịch thu gom phân Bắc (cứt người), mỗi gia đình một tháng phải đóng đủ mười cân, nếu không đóng đủ thì bị cắt gạo. Thật là một chiến dịch có một không hai trong xã hội loài người. Vậy nên, khi chiến dịch ra đời, cái cầu tiêu trở nên vô cùng quan trọng và cấp thiết. Người người, nhà nhà mua xi măng mua gạch về xây cầu tiêu. Cầu tiêu phải làm bằng xi măng thì cứt mới không bị phân huỷ, chứ ỉa xuống đất vài ngày là bọ hung ăn hết, lấy gì mà đóng cho nhà nước. Vậy nên, cái cầu tiêu quan trọng hơn cái nhà.

Chuyện ỉa đái lúc này cũng cực kỳ quan trọng, dù ai đó có bị Tào Tháo rượt ở đâu thì cũng phải nhanh nhanh ba chân bốn cẳng chạy thẳng về cầu tiêu nhà mình mà giải quyết chứ để mất đi một cục là mất đi lon gạo chứ chẳng chơi. Nhiều người đi làm ngoài đồng, ngày trước, khi mắc thì chạy vô bờ, vô bụi làm đại cho xong, nhưng bây giờ, làm như vậy có mà đói chết. Vậy nên, phải tìm cách, có người làm đại vào bao ny lông, có người cuộn trong lá chuối, có người cẩn thận hơn đi vào trong cái cà mèn đựng cơm để mang về cho an toàn mà đổ xuống cầu.

Có nhiều chuyện dở khóc dở cười trong chiến dịch này lắm, ai sống thời đó chắc biết. Khi chiến dịch ra đời thì cũng là lúc không biết bao nhiêu con chó phải chết. Chó chết vì đói, cơm khoai đã không có ăn, đến cục cứt cũng bị nhà nước dành mất thì lấy gì mà sống. Nhà tôi có bốn người, một người lớn và ba đứa con nít, cố gắng lắm không để thất thoát cục nào, vậy mà đến tháng vẫn không đủ cân nộp, má tôi sai anh em chúng tôi đi tìm đá sỏi bỏ vào cho đủ. Khi mang lên cân người ta kiểm tra và phát hiện nhà tôi gian lận nên lập biên bản và làm kiểm điểm. Họ còn ghi rõ ràng trong biên bản gian lận như thế nào, có bao nhiêu cục cứt và bao nhiêu cục đá sỏi. Quả đúng không sai, cái đời người nông dân u tối làm sao mà lừa được mấy ông nhà nước, mấy ông tinh vi vô cùng. Kết quả là nhà tôi bị cấm không cho nhận gạo một tháng. Trong một buổi họp người ta đưa tên má tôi ra kiểm điểm trước dân về việc gian lận lấy đá sỏi trộn với cứt để nộp cho nhà nước. Họ không cho má tôi phân bua gì hết. Nhưng không đành lòng nhìn cảnh con đói, bà đứng dậy thẳng thừng, dứt khoát.

Bà nói : "Việc tôi làm gian lận tôi chịu trách nhiệm trước toàn thể mọi người, nhưng các người nhìn đi thì cũng phải nhìn lại, nhìn ngược thì cũng phải nhìn xuôi, các người có nhìn vào nhà tôi không, nhà tôi có bốn người, một người lớn và ba đứa con nít, tôi thì suốt ngày đi làm ngoài hợp tác xã, có cục nào tôi đã ỉa ngoài hợp tác xã hết rồi, còn con tôi ở nhà, nó là con nít nó ăn bao nhiêu, ỉa bao nhiêu, nó ỉa ra cục nào chó lủm cục đó thì lấy đâu đủ cứt để mà nộp cho mấy ông. Vậy mà bây giờ mấy ông kiểm điểm tôi, cắt gạo thì lấy gì tôi nuôi con, lấy gì ăn để mà ỉa mà đem cứt nộp cho mấy ông."

Nói gì thì nói, la gì thì la, nhà tôi vẫn bị cắt gạo tháng đó. Không còn gì khốn nạn hơn thế. Nói thiệt, đến bây giờ trong hồ sơ giấy tờ ở kho lưu trữ quốc gia thì nhà tôi vẫn còn một món nợ lớn với nhà nước mà không thể nào trả nổi, đó là nợ cứt.

Phạm Thế Việt

THƯ LENIN * TRÍ THỨC LÀ CỨT

Toàn văn bức thư trong đó Lenin gọi trí thức là cứt

Nguyễn Đình Đăng dịch từ nguyên văn tiếng Nga:
Полное собрание сочинений, т. 51, стр. 48-49
Lời giới thiệu của người dịch:
Trong cuộc nội chiến Nga sau cách mạng tháng 10, chính quyền bolshevik, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lenin, đã tiến hành cuộc Khủng bố Đỏ (1918 – 1923). Vào mùa thu năm 1919 hàng loạt trí thức tại Petrograd (tên của Saint Petersburg thời đó) đã bị cáo buộc âm mưu phản loạn và đã bị bắt. Nhà văn Maxim Gorki đã viết thư đề nghị Lenin ngừng khủng bố trí thức. Lenin đã viết bức thư trả lời dưới đây, trong đó ông gọi các trí thức thân Hiến Dân là cứt (Xem chú giải [1] về Đảng Hiến Dân).
Vậy những trí thức bị Lenin liệt vào loại “thân Hiến Dân” và bị Lenin gọi là cứt là những ai? Theo nhà văn Alexandr Solzhenitsyn (1918 – 2001) thì đó là 80% giới trí thức Nga. A. Solzhenitsyn từng bị giam 11 năm (1945 – 1956) trong các nhà tù và trại tập trung Xô-Viết. Được trao giải Nobel văn chương năm 1970 nhưng không thể đi nhận, ông nhận giải thưởng này năm 1974 tại Thụy Điển sau khi bị trục xuất khỏi Liên Xô vào năm đó. Ông quay trở lại tổ quốc năm 1994 sau khi Liên Xô sụp đổ.
Trong tác phẩm «Quần đảo GULAG», A. Solzhenitsyn viết: “Thân Hiến Dân có nghĩa là gì? Đó không phải là những người về phe chủ nghĩa quân chủ cũng chẳng phải những người của phe chủ nghĩa xã hội, mà đó là toàn bộ giới khoa học, đại học, văn nghệ sĩ, và tất nhiên là toàn bộ giới kỹ nghệ. Ngoài các nhà văn cực đoan, những nhà thần học và các lý thuyết gia chủ nghĩa xã hội, toàn bộ giới trí thức còn lại, 80% của giới này, là những người thân Hiến Dân,” (Xem A. Solzhennitsyn, Quần đảo GULAG, Tập 1, trang 44, khổ thứ 3, từ dòng thứ 6).
Trong thư, Lenin lấy Korolenko làm mẫu người của trí thức tư sản. Chú giải [4] giải thích Korolenko là ai.
N.Đ.Đ.
Thư V.I. Lenin gửi A.M. Gorky
15/IX [1]
Alexei Maximưch thân mến,
Tôi đã tiếp Tonkov, và ngay cả trước khi tiếp ông ta và trước khi nhận được thư của Ông chúng tôi trong Trung Ương đã quyết định bổ nhiệm Kamenhev và Bukharin kiểm tra việc bắt các trí thức tư sản loại thân Hiến Dân [2] và để thả những ai có thể thả được. Bởi đối với chúng tôi rõ ràng là đã có những sai lầm trong việc này.
Và cũng rõ ràng rằng, việc bắt đám Hiến Dân (và thân Hiến Dân) là cần thiết và đúng đắn.
Khi tôi đọc quan điểm thẳng thắn của Ông về việc này, tôi đặc biệt nhớ lại câu nói của Ông đã in sâu vào đầu tôi trong những cuộc trò chuyện giữa chúng ta (tại London, ở Capri và sau đó):
“Giới nghệ sĩ chúng tôi là những người vô trách nhiệm.”
Chính thế đấy! Vì chuyện gì mà Ông lại nói những lời lẽ cực kỳ giận dữ như vậy? Vì chuyện vài chục (hoặc ngay cả vài trăm) ông kễnh Hiến Dân và thân Hiến Dân ngồi tù vài ngày để tránh âm mưu kiểu vụ đầu hàng Đồi Đỏ [3], những âm mưu đe dọa cái chết của hàng chục ngàn công nhân và nông dân.
Thật là thảm hoạ, cứ thử nghĩ mà xem! Thật là bất công! Cho bọn trí thức ngồi tù vài ngày hoặc thậm chí cả vài tuần đi nữa để tránh cho hàng chục ngàn công nhân và nông dân bị giết hại!
“Giới nghệ sĩ là những người vô trách nhiệm.”
Trộn lẫn “các lực lượng trí tuệ” của nhân dân với “lực lượng” trí thức tư sản là sai. Tôi lấy Korolenko [4] làm mẫu người của bọn trí thức tư sản: Gần đây tôi có đọc cuốn sách mỏng hắn viết vào tháng 8 năm 1917 nhan đề “Chiến tranh, Tổ quốc và Nhân loại.” Korolenko trên thực tế là một kẻ thân Hiến Dân nhất, gần như là một tên menshevik. Thật là một kiểu chủ chiến đê tiện, xấu xa, kinh tởm, được che đậy bằng những lời lẽ đường mật! Một con buôn bị cầm tù bởi những thành kiến tư sản. Đối với các ông kễnh này thì 10 triệu người bị giết trong cuộc chiến tranh đế quốc là việc đáng ủng hộ (bằng những việc trong các câu chữ đường mật “chống” chiến tranh), còn sự hy sinh của vài trăm ngàn người trong cuộc nội chiến chân chính chống bọn địa chủ và lũ tư bản thì lại gây nên những “ối”, “oái”, những tiếng hổn hển, và những cơn động kinh.
Không. Chẳng có gì là tội lỗi khi cho những “tài năng” như thế ngồi tù vài tuần, nếu đó là việc phải làm để tránh các âm mưu (kiểu vụ Đồi Đỏ) và cái chết của hàng chục ngàn người. Chính chúng tôi đã lật tẩy các âm mưu này của bọn Hiến Dân và thân Hiến Dân. Và chúng tôi biết bọn giáo sư thân Hiến Dân luôn luôn giúp đỡ bọn âm mưu phản loạn. Đó là sự thật.
Các lực lượng trí tuệ của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức – đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trên thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là cứt.
Đối với “các lực lượng trí tuệ” mong muốn đem khoa học cho nhân dân, chứ không phải làm tôi tớ cho tư bản, chúng tôi trả tiền công trên mức trung bình. Đó là sự thật. Chúng tôi giữ gìn họ. Đó là sự thật. Chúng ta có hàng chục ngàn sĩ quan phục vụ Hồng quân và chiến thắng cho dù có hàng trăm tên phản bội. Đó là sự thật.
Còn về tâm trạng của Ông, “hiểu” thì tôi có hiểu (một khi Ông đã bắt đầu nói không biết liệu tôi có hiểu Ông không). Khi ở Capri và sau đó tôi đã nhiều lần nói với Ông: Ông quây quần với các phần tử xấu nhất của giới trí thức tư sản và nghe theo tiếng rên rỉ của chúng.
Ông nghe thấy và nghe theo  tiếng kêu la của vài trăm trí thức nhân vụ bắt bớ “khủng khiếp” trong vài tuần lễ, còn tiếng nói của quần chúng, của hàng triệu công nông, đang bị bọn Denikin, Kolchak, Liazonov, Rodzianko, bọn Đồi Đỏ âm mưu phản loạn, (và những tên Hiến Dân khác) đe doạ – tiếng nói đó thì Ông không nghe thấy và không nghe theo. Tôi hiểu lắm chứ, hiểu lắm chứ, rằng có thể sa đà không chỉ tới mức, kiểu như “Hồng quân cũng là kẻ thù của nhân dân chẳng khác gì bọn Bạch Vệ” (các chiến sĩ đấu tranh lật đổ bọn tư bản và địa chủ cũng là kẻ thù của nhân dân chẳng khác gì bọn địa chủ với bọn tư bản), mà còn tới mức tin vào Chúa Trời và bố già Sa Hoàng. Tôi hiểu lắm chứ.
Này, này, Ông sẽ chết đấy *) nếu không tự rứt ra khỏi bọn trí thức tư sản đó. Tôi chân thành mong Ông thoát ra mau mau.
Gửi Ông những lời chào tốt đẹp nhất!
Lenin của Ông
*) Bởi vì đúng là Ông không viết gì! Đối với một nghệ sĩ, phung phí bản thân mình cho tiếng rên rỉ của bọn trí thức thối nát và lại không viết thì thật chẳng phải là cái chết, là một sự nhục nhã hay sao?
Viết ngày 15/9/1919
Gửi đi Petrograd           Công bố lần đầu tiên, theo bản thảo

Chú giải của người dịch:
[1] Vào năm 1919, Lenin 49 tuổi, Gorky 51 tuổi.
[2] Hiến Dân: кадет (đọc là “ka-điet”), tên viết tắt của Đảng Hiến pháp Dân chủ (Конституционно-демократическая партия), còn được gọi là Đảng Tự Do Nhân Dân (Партия Народной Свободы), thành lập năm 1905, chủ trương cải cách triệt để Nhà nước Nga thành nhà nước quân chủ lập hiến. Vào năm 1906, lúc đầu Đảng Hiến Dân chiếm đa số ghế trong Nghị viện Nga (Дума). Sau khi Sa Hoàng thoái vị sau cách mạng tháng 2/1917, Nghị viện Nga và Xô-Viết Petrograd (do Đảng Bolshevik – tức đảng cộng sản do Lenin đứng đầu – lãnh đạo) tranh giành quyền lực. Sau cách mạng tháng 10 Nga, những người bolshevik tuyên bố Đảng Hiến Pháp Dân chủ là “kẻ thù của nhân dân”, Lenin đã ra lệnh bắt và thủ tiêu các lãnh tụ Đảng Hiến Dân.
[3] Ngày 13/6/1919, khi cánh quân Bạch Vệ phía bắc của tướng A.P. Rodzyanko tấn công Petrograd, đội quân bảo vệ pháo đài Đồi Đỏ (Красная Горка) đã nổi dậy chống lại những người bolshevik. Nhưng 3 ngày sau, cuộc nổi dậy đã bị những người bolshevik dập tắt. Quân Bạch Vệ không kịp ứng cứu vì khi được tin về cuộc nổi dậy thì đã quá muộn.

Chân dung V.G. Korolenlo do Ilya Repin vẽ năm 1912
[4] Vladimir Galaktionovich Korolenko (Влaдимир Галактионович Короленко) (1853-1921) – nhà văn, nhà báo, nhà tranh đấu cho nhân quyền, người theo chủ nghĩa nhân đạo. Ông là người phê phán mạnh mẽ chế độ Sa Hoàng và chế độ bolshevik (cộng sản). Ông sinh tại Zhitomir, Ukraina, là con của một quan tòa địa phương. Do tham gia phong trào Dân Tuý, ông bị đuổi học khỏi cả hai trường đại học công nghệ Saint Petersburg (1871) và viện nông lâm Petrov tại Moscow (1874). Năm 1876 ông bị bắt đi đày tại Kronstadt. Ông còn bị chế độ Sa Hoàng đày ải thêm 2 lần nữa (1879, 1881 – 1884). Ông nổi tiếng về các truyện ngắn viết trong những năm 1879, 1885, 1892 – 1900. Từng là viện sĩ viện Hàn Lâm Văn học Nga, nhưng ông đã ly khai năm 1902 sau khi Maxim Gorky bị khai trừ khỏi viện Hàn Lâm vì tham gia cách mạng. Nhà văn Anton Chekhov cũng ly khai vì lý do này. Korolenko lúc đầu hoan nghênh cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, nhưng chẳng bao lâu sau khi những người bolshevik lộ rõ bản chất chuyên quyền bạo ngược, Korolenko đã lên tiếng chống lại họ. Trong cuộc nội chiến ông đã phê phán cả Khủng bố Đỏ (do chính quyền bolshevik tiến hành) và Khủng bố Trắng (của phe Bạch Vệ). Ông cổ vũ cho nhân quyền và chống lại những bất công và khủng bố của đấu tranh giai cấp. Ông mất tại Ukraina ngày 25/12/1921.
_______________
Bài liên quan:
Trí thức


Monday, April 25, 2016


LỮ GIANG * MỘT NHÀ SƯ BI ẨN

THICH MINH CHÂU, MÔT NHÀ SƯ BÍ ẨN
LỮ GIANG






Thích Minh-Châu: Khi chính trị xâm nhập vào tôn giáo: Hành tung bí ẩn của một nhà sư


Bài 1: (Ngày 06/09/2012)

Hòa Thượng Thích Minh Châu, một nhà tu có hành tung bí ẩn và gây nhiều tranh luận, đã qua đời ngày 01/09/2012 tại Sài-Gòn, hưởng thọ 94 tuổi.
Mặc dầu ông là người nổi tiếng, năm 1964 đã được GHPGVNTN (Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam Thống Nhất) can thiệp bằng mọi giá để buộc Tướng Nguyễn-Khánh phải cho ông từ Ấn-Độ về Sài-Gòn làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh và ông đã từng giữ chức vụ Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Giáo Dục trong GHPGAQ (Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang) cho đến sau năm 1975, các cơ quan truyền thông Việt ngữ ở hãi ngoại chỉ loan tin việc ông qua đời dựa theo các bản tin của báo nhà nước ở trong nước, còn các tổ chức thuộc GHPGAQ ở hải ngoại gần như im lặng.
Trong khi đó, hầu hết các cơ quan truyền thông nhà nước, kể cả Thông Tấn Xã Việt-Nam, đã loan tin rộng rãi và viết khá nhiều về ông.
Trang nhà Đạo Phật Ngày Nay ở Sài-Gòn đã sưu tầm và viết về tiểu sử của ông khá đầy đủ, nhưng không nói đến những bí ẩn đã gây nhiều tranh luận về chính bản thân ông cũng như những tổ chức đã xử dụng ông.
Dưạ trên tài liệu của tình báo Pháp và VNCH (Việt-Nam Cộng-Hòa) mà chúng tôi đã đọc được trước năm 1975, khi xuất bản cuốn “Những bí ẩn đàng sau những cuộc thánh chiến tại Việt-Nam” vào năm 1994, chúng tôi đã tiết lộ nhiều chi tiết bí ẩn về cuộc đời và những hoạt động của ông, khiến nhiều người ngạc nhiên.
Người ta thường nói “Nghĩa tử là nghĩa tận”, nhưng Thích Minh Châu vừa là một nhân vật tôn giáo vừa là một nhân vật chính trị, những gì ông đã làm hay để lại, đã và đang gây khá nhiều hậu quả tang thương cho Phật Giáo và cho đất nước, nên chúng tôi thấy cần phải đưa ra ánh sáng những sự thật lịch sử để rút kinh nghiệm và tránh đi vào vết xe cũ.
Vài nét về quê quán:
Ở Việt-Nam, ít ai biết đến hành tung của Hòa Thượng Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Viện trưởng Học Viện PGVN (Phật giáo Việt-Nam)…. vì ông giấu rất kỹ. Một người ở cùng làng với ông và rất thân với gia đình ông khi còn nhỏ, đã nhận ra ông khi ông về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, đã tìm đến thăm ông và hỏi han về gia đình của ông ở miền Bắc, nhưng ông chối dài và nói anh ta đã nhận lầm. Đến khi anh ta nhắc tới tên đứa con trai của ông và cho biết chính anh là người đã dạy đứa con đó, ông mới chịu xuống giọng.
Hòa Thượng Thích Minh Châu có tên thật là Đinh-Văn-Nam, sinh ngày 20/10/1918.
Tài liệu VNCH ghi ông sinh ở làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Nhưng các cơ quan truyền thông trong nước nói ông sinh ở Quảng Nam. Trang nhà Đạo Phật Ngày Nay nói rõ hơn ông sinh tại làng Kim Thành ở Quảng Nam, nguyên quán ở làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Chúng tôi biết ở Quảng Nam có làng Kim Thành thuộc huyện Điện Bàn. Như vậy, có thể cụ Đinh-Văn-Chấp đã sinh ra Đinh-Văn-Nam khi đến làm quan ở Điện Bàn.
Gia đình Hòa Thượng Thích Minh Châu thuộc dòng dõi khoa bảng. Thân phụ ông là cụ Đinh-Văn-Chấp, Tiến sĩ Hán học của nhà Nguyễn, thân mẫu là bà Lê-Thị-Đạt.
Ông là con thứ ba của gia đình có 8 con, theo thứ tự như sau: Đinh-Văn-Kinh là con trưởng, đến Đinh-Văn-Quang, Đinh-Văn-Nam (tức Hòa Thượng Minh Châu), Đinh-Văn-Linh, Đinh-Văn-Phong, Đinh-Thị-Kim-Hoài, Đinh-Thị-Kim-Thai và Đinh-Thị-Khang.
Báo Đạo Phật Ngày Nay cho biết gia đình ông có đến 11 anh em và ông là con thứ tư. Như chúng ta đã biết, những người giàu có thời đó thường có nhiều vợ. Cụ Đinh-Văn-Chấp cũng có nhiều vợ thứ. Trước khi cưới vợ chánh là bà Lê-Thị-Đạt (mẹ của Thích Minh Châu), ông đã cưới một người vợ thứ rồi, vì thế anh chị em nhà này rất đông. Nếu tính cả con vợ thứ, con số 11 có lẽ cũng đúng.


Đại đăng khoa và tiểu đăng khoa:
Anh chị em gia đình Thích Minh Châu rất thông minh, được học cả Hán học lẫn Tây học. Năm 1940, khi 22 tuổi, Đinh-Văn-Nam đậu bằng Tú tài toàn phần, tại trường Khải Định, Huế (nay là trường Quốc Học).
Người Việt ngày xưa theo tục lệ của Trung-Hoa, Đại đăng khoa rồi Tiểu đăng khoa. Đại đăng khoa là tiệc mừng tân khoa thi đỗ về làng, còn Tiểu đăng khoa là tiệc cưới mừng tân khoa thành lập gia thất. Cũng trong năm 1940, Đinh-Văn-Nam đã lập gia đình với cô Lê-Thị-Bé, con của một gia đình khoa bảng khác ở cùng làng là cụ Lê-Văn-Miến. Cụ Miến là một người vừa đậu Tây học vừa thông Hán học nên làm giáo sư Hán văn và Pháp văn, sau vào dạy ở Quốc Tử Giám (đại học của triều đình) ở Huế.
Đinh-Văn-Nam ở với vợ là Lê-Thị-Bé được 3 năm, sinh được hai người con, một trai và một gái. Người con trai đầu lòng tên là Đinh-Văn-Sương. Người con gái tên là Đinh-Thị-Phương (chúng tôi không nhớ tên lót chính xác).
Năm 1943, Đinh-Văn-Nam trở lại Huế và xin làm thừa phái (Thư ký) cho tòa Khâm Sứ của Pháp ở Huế. Từ đó, ông rất ít khi về Nghệ An thăm vợ con. Vợ ông phải làm việc rất vất vả để nuôi con.
Khi thời thế đổi thay:
Theo hồ sơ của mật thám Pháp để lại, Hoà Thượng Thích Trí Độ, Giám Đốc trường An Nam Phật Học ở Huế gia nhập Đảng Cộng Sản năm 1941, còn Đinh-Văn-Nam và Võ-Đình-Cường năm 1943. Như vậy Đinh-Văn-Nam đã vào Đảng Cộng Sản sau khi bỏ Nghệ An trở lại Huế.
Sau khi Việt Minh cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945, cụ Đinh-Văn-Chấp, thân phụ của Đinh-Văn-Nam, đã tản cư từ Huế về Nghệ An và được Việt Minh mời làm Chủ Tịch Ban Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác-Lê. Sau khi cụ Đặng-Hướng, Chủ Tịch Mặt Trận Liên Việt tỉnh Nghệ An lên làm Chủ Tịch Mặt Trận Liên Việt Liên Khu IV, cụ Đinh-Văn-Chấp thay cụ Đặng-Hướng làm Chủ Tịch Mặt Trận Liên Việt tỉnh Nghệ An. Còn cụ Lê-Văn-Miến, nhạc phụ của Đinh-Văn-Nam, là người liêm khiết nên rất nghèo. Khi cụ trở về quê ở Kim Khê thì không có nơi cư ngụ. Các học trò của cụ phải góp mỗi người 5$ làm cho cụ một căn nhà lá nhỏ ở tạm. Vốn là thầy giáo, không quen các nghề bằng tay chân và nhất là với sĩ diện của một nhà Nho, cụ không có kế gì để sinh nhai. Nghe nói về sau cụ bị chết đói.
Hai huyện Nam Đàn và Nghi Lộc là nơi Đảng Cộng Sản Đông Dương lập các cơ sở đầu tiên của họ. Gia đình cụ Nguyễn-Sinh-Sắc (cha của Nguyễn-Sinh-Cung, tức Hồ-Chí-Minh) ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, nên Hồ-Chí-Minh quen biết rất nhiều trong vùng này. Ông cho người đi móc nối các sĩ phu, thuyết phục họ tham gia Cách Mạng. Trong hai huyện Nghi Lộc và Nam Đàn, không ai lạ gì gia đình của Hồ-Chí-Minh. Anh của Hồ-Chí-Minh là Nguyễn-Sinh-Khiêm, một người mắc bệnh tâm thần, không có nghề nghiệp, thường lui tới các gia đình của những người quen biết ở hai huyện Nam Đàn và Nghi Lộc để xin ăn. Chị của Hồ-Chí-Minh là Nguyễn-Thị-Thanh, trước có làm liên lạc cho cụ Phan-Bội-Châu, sau bị mật thám Pháp theo dõi, phải trở về làng sống trong một túp lều tranh nhỏ bé và xiêu vẹo, rất cơ cực. Sĩ phu trong hai huyện Nam Đàn và Nghi Lộc gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương khá nhiều. Đinh-Văn-Nam cũng ở trong trường hợp đó.
Trần-Điền, người ở cùng làng với Thích Minh Châu, một đảng viên cao cấp của Việt Cộng, đã xin cuới cô Đinh-Thị-Kim-Hoài, em của Thích Minh Châu, nhưng bị từ chối. Tuy không được làm rể nhà họ Đinh, Trần-Điền vẫn giữ liên lạc tốt đẹp với gia đình Thích Minh Châu. Trần-Điền đã làm Đại Sứ của Hà-Nội tại Nam-Vang, Cao-Miên, trong thời kỳ Sihanouk chấp chánh. Đây là một đường dây liên lạc tốt của Thích Minh Châu.
Sau này, cô Đinh-Thị-Kim-Hoài làm vợ bé của Thiếu Tướng Nguyễn-Sơn khi Tướng này về làm Chủ Tịch Ủy Ban Kháng Chiến Liên Khu IV, một Liên Khu vững vàng nhất của Việt Cộng thời đó.
Nguyễn-Sơn là một Tướng tài, đẹp trai và lịch thiệp, nên đi đến đâu đều được các cô các bà bám chặt. Ông ở nơi nào ít lâu là có vợ ở nơi đó. Cuộc đời của ông có khoảng 15 bà vợ. Khi ông vào Nghệ An, cô Đinh-Thị-Kim-Hoài rất thích ông. Ít lâu sau, hai người lấy nhau, mặc dầu lúc đó ông đã có khoảng 13 hay 14 bà vợ rồi.
Đinh-Văn-Linh, em của Thích Minh Châu, là một Đại Tá trong bộ đội Việt Cộng, từng làm Đại Sứ của Hà-Nội ở Bắc Kinh và sau về làm Chủ nhiệm nhật báo Quân Đội Nhân Dân của Việt Cộng. Khi Dương-Văn-Minh tuyên bố đầu hàng, Đinh-Văn-Linh là người đầu tiên được Việt Cộng đưa vào Sài-Gòn để tiếp thu.
Một người ở làng Kim Khê cho biết Thích Minh Châu đã gia nhập Mặt Trận Việt Minh vào đầu thập niên 1940, khi Mặt Trận này mới thành lập. Nhóm của ông thường họp tại chùa Cẩm Linh, Diệc Cổ Tự hay trụ sở của Hội Nghiên Cứu Phật Học Trung Kỳ ở trong nội thành của thành phố Vinh.
Một tăng sĩ Phật Giáo đã công khai phản đối việc dùng chùa để làm nơi hội họp bí mật của nhóm nói trên là Hòa Thượng Thích Tuệ Chiếu. Hòa Thượng Thích Tuệ Chiếu tên thật là Trương-Thế-Giám, trụ trì ở chùa Phước Hòa, Sầm Sơn, Thanh Hóa, là người thông thạo cả Hán học lẫn Tây học. Ông biết chuyện một số người đã dùng chùa và trụ sở của Phật Giáo hội họp làm chính trị, nên lên tiếng phản đối. Năm 1954, khi Hiệp Định Genève ký kết, ông đã liên lạc với các làng công giáo chung quanh để tìm cách di cư vào Nam nhưng đi không lọt. Trong cuộc đấu tố năm 1957, ông bị chôn sống.
Chúng tôi ghi lại những chi tiết này để giúp đọc giả hiểu được tại sao Đinh-Văn-Nam đã gia nhập Đảng Cộng Sản và trở thành một đảng viên trung kiên của đảng này.
Trong số tới, chúng tôi sẽ nói về những gay cấn trong việc đưa Thượng Tọa Thích Minh Châu về làm Viện Trưởng Viện Đại Học và chuyện gặp gỡ vợ con của Thích Minh Châu sau 30/04/1975.
Bài 2: (Ngày 13/09/2012)

Trong bài trước, chúng tôi đã trình bày qua lý lịch của Hoà Thượng Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, với nhiều bí ẩn về gia tộc, vợ con và con đường hoạt động chính trị của ông. Chúng tôi sẽ nói rõ hơn con đường dẫn ông đến với Đảng Cộng Sản, chuyện ông xuất gia để phục vụ Đảng, áp lực đưa ông về ngồi chổm chệ giữa Sài-Gòn “Tiền đồn chống cộng ở Đông-Nam-Á”, hoạt động của Việt Cộng trong Viện Đại Học Vạn Hạnh, sự lộ diện của ông ngày 30/04/1975, chuyện ông gặp lại vợ con, chuyện ông đưa GHPGVNTN vào cửa tử và “Những ngày vinh quang” của ông. Đây là những chuyện rất ly kỳ.
Câu hỏi thứ nhất:
Một câu hỏi được đặt ra là Pháp biết Hoà Thượng Thích Trí Độ, Giám Đốc trường An Nam Phật Học, đã vào Đảng Cộng Sản năm 1941, Đinh-Văn-Nam (tức Thích Minh Châu) và Võ-Đình-Cường năm 1943, tại sao họ không bắt?
Như chúng tôi đã chứng minh trong cuốn “Những bí ẩn đàng sau những cuộc thánh chiến tại Việt-Nam” xuất bản năm 1994, vào thập niên 1930, Toàn Quyền Pasquier đã đưa ra chủ trương thành lập các phong trào thể thao và “Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo” để vô hiệu hóa các cuộc nổi dậy chống Pháp. Nhiều viên chức cao cấp đã được Pháp giao cho thực hiện công tác này như Trần-Nguyên-Chấn ở miền Nam, Lê-Đình-Thám ở miền Trung và Lê-Dư ở miền Bắc. Ngoài ba nhân vật chính này, còn rất nhiều viên chức khác tham gia như Trần-Trọng-Kim, Bùi-Kỷ, Nguyễn-Đỗ-Mục, Dương-Bá-Trạc.... và nhiều nhân vật Phật Giáo đã công nhận đây là thời kỳ cực thịnh của Phật Giáo Việt-Nam. Biết rõ chủ trương của Pháp, Đảng Cộng Sản Đông Dương cũng dựa vào Phật Giáo để xây dựng các cơ sở Đảng.
Sở dĩ mật thám Pháp biết Hòa Thượng Trí Độ, Đinh-Văn-Nam và Võ-Đình-Cường vào Đảng Cộng Sản nhưng không bắt vì lúc đó Pháp muốn dùng lực lượng của Cộng Sản để chống Nhật. Nhiều đảng viên cao cấp của Cộng Sản bị bắt đã được thả ra.
Chúng tôi xin nhắc lại rằng năm 1944, Hoa-Kỳ đã phối hợp với Pháp và chính phủ Tưởng-Giới-Thạch, thành lập một toán do Hồ-Chí-Minh lãnh đạo, đưa từ Liễu Châu về Pác Bó. Toán này được huấn luyện và trang bị vũ khí để chống Nhật. Nhờ vậy, khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Việt Minh đã cướp được chính quyền ở Hà-Nội vào tháng 08 năm 1945.
Câu hỏi thứ hai:
Bác sĩ Lê-Đình-Thám, Hội Trưởng Hội An Nam Phật Học, người dẫn dắt Đinh-Văn-Nam và Võ-Đình-Cường, đã vào Đảng năm nào mà sau khi Việt Minh cướp chính quyền, ông được cử làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Miền Nam Trung Bộ ở Liên Khu V từ 1946 đến 1949?
Quả thật, Bác sĩ Lê-Đình-Thám đã giấu tông tích của ông rất kỷ, ông lại là người được Pháp giao nhiệm vụ “Phật giáo hóa” tại miền Trung, nên mật thám Pháp không nghi ngờ gì về ông. Dĩ nhiên, ông phải là đảng viên cao cấp mới được Đảng Cộng Sản cho giữ một chức vụ quan trọng như vậy. Lần theo những bước chân của ông, chúng ta có thể tìm ra con đường Thích Minh Châu đã gia nhập vào Đảng Cộng Sản.
Con đường Thích Minh Châu đi:
Bác sĩ Lê-Đình-Thám sinh năm 1897 tại Quảng-Nam, tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Y Khoa Đông Dương Hà-Nội năm 1916. Năm 1932, ông thành lập Hội An Nam Phật Học tại Huế, trụ sở đặt tại chùa Trúc Lâm. Bên ngoài ông thuyết giảng và truyền bá Phật Giáo, nhưng bên trong hoạt động cho Cộng Sản.
Đinh-Văn-Nam (tức Thích Minh Châu) và Võ-Đình-Cường là hai “đệ tử ruột” của Bác sĩ Lê-Đình-Thám, nên thầy đi đâu, trò theo đó. Trang nhà Đạo Phật Ngày Nay của báo trong nước đã nói rất rõ:
Phong trào học Phật do Bác sĩ Lê-Đình-Thám tổ chức có "Nhiều trí thức yêu nước" tham gia như: Ngô-Điền, Phạm-Hữu-Bình, Võ-Đình-Cường…. Đinh-Văn-Nam và em là Đinh-Văn-Linh đến với phong trào học Phật từ năm 1936. Đinh-Văn-Nam đã đảm nhận chức vụ Chánh Thư Ký của Hội An Nam Phật Học. Kể từ đó, ông "Gắn liền với Hội và là hạt nhân nòng cốt phát động phong trào yêu nước chống Pháp".
Năm 1940, Bác sĩ Thám cho thành lập Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục do Phạm-Hữu-Bình làm Trưởng Đoàn, Đinh-Văn-Nam (tức Thích Minh Châu) làm Phó Đoàn, Ngô-Điền làm thư ký. Trong các nhân viên của Đoàn, người ta thấy có Đinh-Văn-Linh và Võ-Đình-Cường.
Năm 1944, tại đồi Quảng Tế ở Huế, Bác sĩ Lê-Đình-Thám thành lập Gia Đình Phật Hóa Phổ. Người ta thấy Đinh-Văn-Nam và Võ-Đình-Cường trong đại hội này. Tổ chức này sau được biến thành Gia Đình Phật Tử do Võ-Đình-Cường lèo lái.
Tháng 10 năm 1945, Pháp trở lại Đông Dương, Việt Minh hô hào tiêu thổ kháng chiến và tản cư. Các tăng sĩ và cư sĩ Phật Giáo ở Huế cũng đi tản cư. Ngày 07/02/1947, Pháp chiếm lại Huế, đa số dân chúng, kể cả các tăng sĩ và cư sĩ Phật Giáo đều hồi cư. Một số tiếp tục hoạt động cho Việt Minh bị Pháp bắt, nhưng nhờ bà Từ-Cung, mẹ của Hoàng Đế Bảo-Đại, can thiệp Pháp đã thả ra, trong đó có Thượng Tọa Thích Đôn Hậu.
Xuất gia năm nào?
Tài liệu của báo nhà nước cho biết Đinh-Văn-Nam xuất gia năm 1946. Nhưng chúng tôi không tin. Lúc đó Huế đang có lệnh tản cư và tiêu thổ kháng chiến, mọi người đều lo tản cư. Bác sĩ Lê-Đình-Thám đi vào Quảng-Nam và được cử làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Miền Nam Trung Bộ ở Liên Khu V. Không lẽ trong tình trạng hổn loạn đó, Đinh-Văn-Nam lại đi vào chùa?
Cuối năm 1947, Hội An Nam Phật Học hoạt động trở lại và đặt trụ sở tại số 1b đường Nguyễn-Hoàng, Huế. Việt Minh đã giao cho Võ-Đình-Cường và Phan-Cảnh-Tú vận động tái lập Gia Đình Phật Hóa Phổ để làm cơ sở hoạt động của Việt Minh. Tổ chức này đã mượn trụ sở Hội An Nam Phật Học làm nơi sinh hoạt tạm thời. Ngày Chúa Nhật 18/01/1948, Võ-Đình-Cường chính thức làm lễ ra mắt tổ chức Gia Đình Phật Hóa Phổ mới tại chùa Từ Đàm, người ta thấy có mặt của Đinh-Văn-Nam, Tống-Hồ-Cầm, Hoàng-Thị-Kim-Cúc, Cao-Chánh-Hựu, Văn-Đình-Hy,..v.v...
Một tài liệu khác cho biết Đinh-Văn-Nam xuất gia năm 1948. Tin này có vẽ hợp lý hơn, vì năm 1948 các chùa ở Huế mới hoạt động trở lại. Có lẽ Bác sĩ Lê-Đình-Thám đã phân công cho Võ-Đình-Cường hoạt động trong giới Phật tử, còn Đinh-Văn-Nam hoạt động trong giới tăng sĩ.
Lúc đó Đinh-Văn-Nam đã 30 tuổi, xin đầu sư với Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết ở chùa Tường Vân. Năm 1949, Hoà Thượng Tịnh Khiết cho ông thụ giới “Cụ túc” tại giới đàn Hộ Quốc, chùa Bảo Quốc với pháp danh là Minh Châu. Giới “Cụ túc” là những giới luật mà hàng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni phải thọ trì. Tỳ kheo là tên gọi những người xuất gia đã thụ giới Cụ túc.
Năm 1952, ông được cho đi Sri-Lanka học tiếng Pali rồi qua Ấn-Độ học tại đại học Bihar và năm 1961 ông đậu Tiến sĩ Phật Học. Cùng đi với ông có Nguyễn-Đình-Kỳ. Nguyễn-Đình-Kỳ chỉ lo tu học về Phật Giáo và đã chết ở Ấn-Độ.
Nếu chuyện chỉ như thế, chẳng ai để ý làm gì!
Đưa Cộng Sản vào Sài-Gòn:
Câu chuyện đã đổ bể khi Viện Hoá Đạo của GHPGVNTN đề nghị với chính phủ Nguyễn-Khánh cho ông về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh của Phật Giáo.
Kinh Phổ Diệu của Đạo Phật nói “Xuất gia tứ nguyện”. Xuất gia là rời bỏ gia đình, rời bỏ cảnh giới thế tục để tu tịnh hạnh. Tứ nguyện là bốn nguyện của người xuất gia: (1) Nguyện tế độ chúng sinh khỏi nguy khốn tai ách. (2) Nguyện trừ hoặc chướng cho chúng sinh. (3) Nguyện đoạn trừ tà kiến giúp chúng sinh. (4) Nguyện độ chúng sinh khỏi vòng khổ ải.
Nhưng Hòa Thượng Minh Châu xuất gia không phải để thực hiện những điều kinh Phật dạy, mà thực hiện những điều Đảng dạy!
Năm 1964, khi GHPGVNTN mới được thành lập, Viện Hoá Đạo của Giáo Hội này đã viết văn thư xin chính phủ Nguyễn-Khánh cho Thượng Tọa Thích Minh Châu ở Ấn-Độ được về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh sắp được thành lập. Tướng Nguyễn-Khánh yêu cầu cơ quan an ninh sưu tra lý lịch.
Cơ quan an ninh đã sưu tra hồ sơ và tìm thấy Đinh-Văn-Nam và Võ-Đình-Cường đã vào Đảng Cộng Sản năm 1943. Đinh-Văn-Nam có vợ và hai con đang ở miền Bắc.
Cơ quan an ninh liền liên lạc với Tòa Đại Diện VNCH ở Ấn-Độ và xin cho biết trong thời gian ở Ấn-Độ, Thích Minh Châu đã sinh hoạt như thế nào. Toà Đại Diện cho biết trong thời gian ở Ấn-Độ, Thích Minh Châu đã hoạt động cho Hà-Nội. Tòa Đại Diện đã cung cấp nhiều bằng chứng về sự kiện này. Chúng tôi chỉ nhớ hai bằng chứng chính:
- Bằng chứng thứ nhất: Năm 1952, Trung Cộng đã mở Hội Nghị Hòa Bình Châu Á và Thái Bình Dương ở Bắc Kinh. Đảng Cộng Sản Việt-Nam đã gởi một phái đoàn tới tham dự. Phái đoàn do Luật sư Nguyễn-Mạnh-Tường làm Trưởng đoàn. Thích Minh Châu từ Ấn-Độ đã lén qua Bắc Kinh tham gia phái đoàn. Sau hội nghị, phái đoàn đã đưa ra một bản tuyên bố trong đó có đoạn như sau: “Nhân dân thế giới đều đồng tình, đòi quân đội ngoại quốc xâm lược phải rút ra khỏi ba nước Việt-Nam, Cao-Miên, Lào. Ba nước Việt-Nam, Cao-Miên, Lào độc lập hoàn toàn và thực sự”.
- Bằng chứng thứ hai: Ngày 10/02/1958 Hồ-Chính-Minh qua Ấn-Độ vận động thống nhất Việt-Nam, đòi tổng tuyển cử. Công việc tiếp đón đều do Thích Minh Châu phụ trách. Hà-Nội có cho ông Nguyễn-Di-Niên đi theo làm thông dịch. Nhưng khi đến Ấn-Độ, Thích Minh Châu là thông dịch viên chính của Hồ-Chí-Minh. Toà Đại Diện có gởi về một tấm hình Thích Minh Châu chụp chung với Hồ-Chí-Minh tại Red Fort ở thủ đô Delhi, trong một phiên họp do Thích Minh Châu tổ chức....
Tướng Nguyễn-Khánh đã thông báo các tài liệu này cho Viện Hóa Đạo biết và nói rằng chính phủ rất tiếc không thể cho Thích Minh Châu trở về Việt-Nam được, vì ông đang hoạt động cho Việt Cộng ở Ấn-Độ.
Vốn tự coi mình là một tổ chức quyền lực tối cao, sống trên và ngoài luật pháp quốc gia, GHPGVNTN liền gởi cho Tướng Nguyễn-Khánh một văn thư nói rằng ngoài Thích Minh Châu ra, hiện tại không tăng sĩ Phật Giáo nào có đủ khả năng làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, vậy xin cứ để cho Thích Minh Châu về, Giáo Hội bảo đảm sẽ không cho Thích Minh Châu hoạt động cho Việt Cộng nữa.
Thượng Tọa Thích Trí Quang còn đe doạ rằng nếu Tướng Nguyễn-Khánh không đáp ứng nhu cầu chính đáng của Phật Giáo, Phật Giáo bị bắt buộc phải hành động. Trong thông báo gởi cho các viên chức Hoa-Kỳ ở Hoa-Thịnh-Đốn (Washington) ngày 11/05/1964, Đại Sứ Cabot Lodge đã có nhận xét như sau:
“Đã lật đổ được một chính phủ, ông ta (Thượng Tọa Thích Trí Quang) nghĩ rằng có thể làm như thế để chống lại Khánh.”
(Having overthown one government, he may feel like trying again against Khanh.)
[FRUSS 1964 – 1968, Volum I, Vietnam 1964, tr. 304 – 305, Document 147].
Sợ Phật Giáo gây khó khăn, Tướng Khánh đã phê lên hồ sơ: “Cho về và theo dõi”. Ngày 13/11/1964 Viện Hoá Đạo của GHPGVNTN đã ban hành Quyết Định số 156-VT/QĐ cử Thượng Tọa Thích Minh Châu làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh! 
Bài 3: (Ngày 20/09/2012)
Ngày 13/03/1964, GHPGVNTN quyết định dùng chùa Pháp Hội ở số 702/105 đường Phan-Thanh-Giản, Quận 10, Sài-Gòn, làm Viện Cao Đẳng Phật Học và cử Thượng Tọa Thích Trí Thủ làm Viện Trưởng. Đây là cơ sở dự bị để tiến tới thành lập Viện Đại Học Vạn Hạnh.
Chuyện rắc rối nội bộ:
Lúc đó có ba tăng sĩ có thể được chọn làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, đó là Thượng Tọa Thích Thiên Ân, Thiền sư Nhất Hạnh và Thượng Toạ Thích Minh Châu. Như vậy không phải Phật Giáo Việt-Nam lúc đó không có ai có thể làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh ngoài Thích Minh Châu như Viện Hóa Đạo đã nói với Tướng Nguyễn-Khánh.
Chúng tôi đã nói về Thượng Tọa Thích Minh Châu, ở đây chúng tôi cũng xin nói qua về Thượng Tọa Thiên Ân và Thiền Sư Thích Nhất Hạnh để đọc giả có thể hiểu tại sao Thích Minh Châu đã được chọn.
1) Vài nét về Thượng Tọa Thiên Ân: Thích Thiên Ân, thế danh là Đoàn-Văn-An, sinh năm 1925 tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Ông đi tu từ lúc 10 tuổi (1935) và cùng thụ giới Cụ túc năm 1948 cùng một lượt với Thích Minh Châu ở tổ đình Bảo Quốc do Hòa thượng Tịnh Khiết làm Đường đầu truyền giới. Ông đi du học Nhật-Bản năm 1954 và đậu Tiến sĩ Văn Chương năm 1960 rồi trở về nước.
Để chuẩn bị cho ông làm Viện Trưởng một Viện đại học Phật giáo sắp được thành lập, các cao tăng đã khuyến khích ông “Cần phải trau giồi thêm kinh nghiệm, phương pháp quản lý một đại học Phật giáo có tầm cỡ quốc tế”, vì thế năm 1961 ông lại xuất dương để tu nghiệp ở Nhật-Bản và lần này ông tìm học pháp môn Thiền Rinzai (Lâm Tế) chính thống của các thiền sư Nhật-Bản. Ông đã đạt được sở nguyện. Năm 1963 ông trở lại Việt-Nam.
2) Tung tích Thiền sư Nhất Hạnh: Tung tích của Thiền sư Nhất Hạnh cũng bí ẩn như tung tích của Thượng Tọa Minh Châu, nhưng qua nhiều cuộc sưu tra, chúng tôi biết được Thiền sư Nhất Hạnh có tên thật là Nguyễn-Đình-Bảo, sinh ngày 11/10/1926 tại làng Thành Trung, xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ là người gốc Thanh Hóa, mẹ người làng Lệ Lộc, quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
Ông là con thứ trong một gia đình 5 con. Ông có người em là Nguyễn-Đình-An dạy học ở Nha Trang trước năm 1975.
Ông xuất gia năm 1942 lúc 16 tuổi, và thụ giới Cụ túc tại tổ đình Từ Hiếu với Hòa Thượng Thích Nhất Định. Khi đặt pháp danh cho các tăng sĩ tu học tại đây, các vị chủ trì thường dùng chữ “Nhất” để làm chữ đệm. Có lẽ cũng vì thế, Nguyễn-Đình- Bảo đã được ban cho pháp danh là Thích Nhất Hạnh.
Thích Nhất Hạnh theo học trung học ở Huế và năm 1956 đã vào Sài-Gòn theo học ở Đại Học Văn Khoa. Ông tốt nghiệp Cử Nhân Văn Khoa ở Sài-Gòn vào khoảng năm 1959. Năm 1961, ông được chính phủ Ngô-Đình-Diệm cho đi học về môn Tôn Giáo Đối Chiếu (Comparative religion) tại Princeton University ở New Jersey, Hoa-Kỳ.
Sau khi chính phủ Ngô-Đình-Diệm bị lật đổ, tình hình bắt đầu rối loạn, có nhiều sự tranh chấp đã xẩy ra trong nội bộ Phật Giáo về việc thiết lập và lãnh đạo GHPGVNTN (xem Bạch Thư của Hòa Thượng Thích Tâm Châu). Để tạo thanh thế cho mình, chống lại phe Bắc và phe Nam, năm 1964 Thượng Tọa Thích Trí Quang đã đích thân viết cho Thiền sư Nhất Hạnh một lá thư yêu Thiền sư trở về Việt-Nam gấp để giúp ông trong việc thống nhất Phật Giáo và vạch một hướng đi cho Phật Giáo Việt-Nam trong giai đoạn tới.
3) Tranh chấp trong nội bộ: Một câu hỏi được đặt ra là tại miền Nam lúc đó có hai người đã được huấn luyện để làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, đó là Thượng Tọa Thích Thiên Ân và Thiền sư Nhất Hạnh, tại sao Viện Hóa Đạo không chọn một trong hai người này mà phải đòi cho được Thượng Tọa Minh Châu, mặc dầu biết rõ ông đang hoạt động cho Cộng Sản ở Ấn Độ?
Như đã nói trên, Thượng Tọa Thiên Ân và Thiền sư Nhất Hạnh đều là người Thừa Thiên. Hai tăng sĩ này chịu ảnh hưởng nặng của Thích Trí Quang. Thân phụ của Thích Thiện Ân là Thích Tiêu Diêu đã tự thiêu tại chùa Từ Đàm đêm 16/08/1963. Ông vùng chạy khi ngọn lửa đang bóc cháy. Còn Thiền sư Nhất Hạnh là đàn em của Thích Trí Quang, được đi du học Hoa-Kỳ là nhờ Thích Trí Quang xin ông Ngô-Đình-Cẩn can thiệp giúp.
Mặc dầu được tu học ở Huế, Thích Minh Châu không chịu ảnh hưởng của Thích Trí Quang nên các tăng sĩ trong Viện Hoá Đạo muốn đưa Thích Minh Châu về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, chứ không muốn chọn một trong hai tăng sĩ chịu ảnh hưởng của Thích Trí Quang. Điều đáng ngạc nhiên là không hiểu vì lý do gì hoặc có sự can thiệp bí mật từ đâu, Thích Trí Quang cũng đã đồng ý chọn Thích Minh Châu.
Khi Thượng Tọa Thích Minh Châu từ Ấn-Độ về nước, ông được cử làm Phó Viện Trưởng Điều Hành của Viện Cao Đẳng Phật Học, còn Thích Thiên Ân làm Giáo Thọ Trưởng.
Có lẽ buồn lòng về quyết định của Viện Hóa Đạo, Thích Thiên Ân và Thiền sư Nhất Hạnh đã chọn con đường bỏ nước ra đi. Năm 1966, Thích Thiên Ân đi du học Hoa-Kỳ rồi ở lại Hoa-Kỳ, lập Trung tâm Thiền học Quốc tế và chùa Phật Giáo Việt-Nam ở Los Angeles, Hoa-Kỳ, và qua đời năm 1980 tại đây, thọ 75 tuổi.
Cũng trong năm 1966, Thiền sư Nhất Hạnh ra ngoại quốc kêu gọi chấm dứt chiến tranh, đòi quyền tự quyết và thành lập một chính phủ hòa giải hòa hợp. Ông làm phát ngôn viên cho GHPGAQ, đứng về phía Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và phe phản chiến ở Hoa-Kỳ. Ông đem cả cô Fleurette Cao-Ngọc-Phượng, “Pháp danh” là Sư cô Chân Không, và đứa con trai qua ở luôn tại Pháp, lập Làng Hồng sau đổi thành Làng Mai. Lúc đầu Làng Mai do bà Elizabeth Bùi-Kim-Tiền, mẹ của cô Phượng, đứng tên. Khi bà này qua đời, cô Phượng lên thay.
Viện đại học Vạn Hạnh:
Dược sĩ Nguyễn-Cao-Thăng, Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị hãng OPV (Office Pharmaceutique du Vietnam), một hãng sản xuất và nhập cảng duợc phẩm, đã thoát nạn nhờ biết chạy chọt qua ngã nhà chùa. OPV là một công ty dược phẩm của người Pháp tại Sài-Gòn, được ông Ngô-Đình-Cẩn giao cho Dược sĩ Nguyễn-Cao-Thăng đứng tên sang lại vào khoảng năm 1956, khi Pháp rút ra khỏi Việt-Nam, nên được dư luận coi là tổ chức kinh tài của Đảng Cần Lao.
Giới thạo tin tại Sài-Gòn lúc đó đều biết người đứng ra làm trung gian thu xếp giữa OPV với các nhà lãnh đạo Phật Giáo và các tướng lãnh cầm quyền để Dược Sĩ Nguyễn-Cao-Thăng khỏi bị bắt và OPV khỏi bị tịch thu là bà Đào-Thị-Xuân-Yến, nguyên Hiệu Trưởng trường trung học Đồng Khánh ở Huế. Bà là vợ ông Nguyễn-Đình-Chi, Tuần Phủ Hà Tĩnh, nên thường được gọi là bà Tuần Chi. Ông Nguyễn-Đình-Chi có họ hàng với Nguyễn-Cao-Thăng. Bà Tuần Chi cũng là đệ tử ruột của Hoà Thượng Thích Đôn Hậu ở chùa Thiên Mụ. Trong vị thế đó, bà đã đứng ra “Vận động” (lo lót) để chính quyền và Phật Giáo không đụng đến OPV. Sau vụ Tết Mậu Thân 1968, bà Tuần Chi đã theo Hòa Thượng Đôn Hậu đi ra Hà-Nội.
Qua sự thu xếp của bà Tuần Chi, Nguyễn-Cao-Thăng đã tặng cho Phật Giáo một khu đất rộng khoảng 4000 m2 ở số 222 đường Trương-Minh-Giảng, Quận 3, Sài-Gòn. Sở đất này lúc đó do bà Trương-Ngọc-Diệp, vợ của Nguyễn-Cao-Thăng đứng tên. Số tiền mặt “Cúng dường” bao nhiêu không biết được. Viện Hóa Đạo quyết định dùng khu này để xây cất Viện Đại Học Vạn Hạnh.
Trong cuốn Bạch Thư đề ngày 31/12/1993, Hòa Thượng Thích Tâm Châu còn cho biết Tướng Nguyễn-Khánh đã cho GHPGVNTN thuê tượng trưng một khu đất gần 5 mẫu ở đường Trần-Quốc-Toản để làm trụ sở chính của Giáo Hội và cúng 10 triệu đồng để làm chùa. Sau đó, Hòa Thượng có mượn thêm của chính phủ Nguyễn-Cao-Kỳ 50 triệu nữa và giao cho các Hoà Thượng Thiện Hòa, Thiện Hoa, Trí Thủ và Từ Nhơn để xây Việt-Nam Quốc Tự, nhưng họ giữ tiền và không xây (tr. 22 và 23). Thật ra họ chỉ xây cái tháp!
Theo yêu cầu của Viện Hóa Đạo, ngày 17/10/1964, Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã ban hành Nghị Định số 1805-NĐ/PG/NĐ hợp thức hóa Viện Cao Đẳng Phật Học. Viện này tạm đặt trụ sở tại Chùa Pháp Hội và Chùa Xá Lợi ở Sài-Gòn. Ngày 13/11/1964, Viện Hóa Đạo ban hành Quyết Định số 156-VT/QĐ cử Thượng Tọa Thích Minh Châu làm Viện Trưởng thay thế Thượng Tọa Thích Trí Thủ.
Ngày 09/06/1965, là ngày lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất Viện Đại Học Vạn Hạnh ở số 222 đường Trương-Minh-Giảng (nay là Lê-Văn-Sĩ). Cuối năm 1965, Viện Hóa Đạo xin phép đổi tên Viện Cao Đẳng Phật Học thành Viện Đại Học Vạn Hạnh và cử Thượng Tọa Thích Minh Châu làm Viện Trưởng, Thượng Tọa Thích Mãn Giác làm Viện Phó.
Năm 1966, việc xây cất Viện Đại Học Vạn Hạnh hoàn tất, gồm tòa nhà chính với bốn tầng lầu. Đây là nơi đặt văn phòng làm việc của Viện Trưởng, văn phòng các Phân Khoa, văn phòng các nha sở, thư viện, câu lạc bộ, các giảng đường, phòng học của sinh viên.... Năm 1970, Viện xây thêm Toà nhà B làm cơ sở cho Phân Khoa Giáo Dục. Năm 1972, Viện mua thêm bất động sản số 716 đường Võ-Di-Nguy (nay là Nguyễn-Kiệm), Phú Nhuận, để làm cơ sở II.
Thầy sao trò vậy:
Khi Viện Đại Học Vạn Hạnh được khánh thành, các cơ quan tình báo của VNCH và CIA đã cài người vào để theo dõi các hành động của Thích Minh Châu. Họ có thể là sinh viên, nhân viên, giảng viên,..v.v... Khi còn ở Việt-Nam, tôi có đọc một tài liệu của một tổ chức phản chiến Hoa-Kỳ, tố cáo CIA đã huấn luyện và cài Đoàn-Viết-Hoạt và người anh của Thích Minh Châu là Đinh-Văn-Kinh vào Đại Học Vạn Hạnh để theo dõi. Khi qua Hoa-Kỳ, tôi có viết thư cho tổ chức này xin tài liệu, nhưng họ không trả lời.
Quả thật Thích Minh Châu đã đi đúng con đường mà thầy của ông đã đi. Bác sĩ Lê-Đình-Thám khi được Pháp giao cho thành lập phong trào chấn hưng Phật Giáo ở Huế để trấn an các cuộc nổi dậy, ông đã đi học về đạo Phật, rồi rước Hòa Thượng Thích Trí Độ, một đảng viên Cộng Sản, từ Bình Định ra Huế lập trường An Nam Phật Học để huấn luyện các tăng sĩ, còn ông lập Hội An Nam Phật Học. Bên ngoài, Thích Trí Độ và Bác sĩ Lê-Đình-Thám giảng về Phật pháp rất nhiệt tình, nhưng bên trong lập các cơ sở đảng. Thích Minh Châu, Võ-Đình-Cường, Ngô-Điền.… đều được Lê-Đình-Thám chiêu dụ vào đảng. Mãi cho đến khi Việt Minh cướp chính quyền, người ta mới khám phá ra Thích Trí Độ và Lê-Đình-Thám là hai đảng viên cao cấp của Đảng Cộng Sản!
Biết mình bị theo dõi, trong thời gian làm Viện Trưởng, Thích Minh Châu không hề có một hành động hay lời tuyên bố nào liên quan đến chính trị, kể cả việc ủng hộ các cuộc tranh đấu của GHPGAQ, mặc dầu ông là Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa Giáo Dục của Giáo Hội này. Tuy nhiên, cơ quan an ninh đã khám phá ra một đảng viên của Thành Ủy Huế được Thích Trí Quang gởi vào nằm vùng ở đây, đó là Nguyễn-Trực. Các cuộc xách động sinh viên Vạn Hạnh chống chính quyền đều do Nguyễn-Trực thực hiện.
Hồ sơ của Nguyễn-Trực có đầy đủ tại Ty Cảnh Sát Huế, nhưng có lệnh không được bắt, đợi đến khi Nguyễn-Trực về Huế họp với Thành Ủy xong mới bắt. Cơ quan an ninh đã tra khảo và định đưa Nguyễn-Trực đi giam ở Phú Quốc, nhưng Thích Trí Quang can thiệp, chính quyền lại ra lệnh thả ra. Nguyễn-Trực và Võ-Đình-Cường là hai đảng viên được Thích Trí Quang bảo vệ rất chặt chẽ.
Đến ngày 30/04/1975, Thích Minh Châu và Nguyễn-Trực mới công khai xuất đầu lộ diện. Câu chuyện này chúng tôi sẽ nói sau.

Bài 4: (Ngày 27/09/2012)
Trong cuốn Bạch Thư đề ngày 31/12/1993, Hoà Thượng Thích Tâm Châu đã viết:
“Khi quân Cộng Sản từ rừng về Sài-Gòn, đã có gần 500 Tăng, Ni của phe tranh đấu Ấn Quang ra đón chào”.
Chắc đa số quý vị đã biết người dẫn gần 500 Tăng, Ni đi đón “quân giải phóng” đó là ai rồi. 
Ngoài công tác khởi đầu nói trên, sau ngày 30/04/1975, Thượng Tọa Thích Minh Châu đã được Đảng CSVN (Cộng sản Việt-Nam) giao cho hai nhiệm vụ rất quan trọng, đó là phá sập Giáo Hội Ấn Quang và huấn luyện hệ thống sư quốc doanh.
Đón quân giải phóng:
Báo Sài-Gòn Giải Phóng điện tử ngày 06/05/2009, có đăng bài “Buổi bình minh ở khu căn cứ lõm” của  Phạm-Thục kể lại chuyện quân Việt Cộng tiến vào Sài-Gòn qua ngã tư Bảy Hiền, trong đó có đoạn ghi như sau:
“Khoảng 15 giờ ngày 30 tháng 04, lực lượng của anh Hai Nhựt, anh Tư Vũ (Nguyễn-Thế-Thông) và các đồng chí khác đã về đến Bảy Hiền. Nơi đây bà con đã tập trung rất đông để chào đón những đứa con giải phóng”.
Số “Bà con đã tập trung rất đông” nói ở đây là khoảng 500 người, bao gồm một số tăng ni, sinh viên Đại Học Vạn Hạnh và một số phật tử thuộc Giáo Hội Ấn Quang. Nhóm này được Thích Minh Châu và Nguyễn-Trực điều động và dẫn đi.
Khi có lệnh các công chức và quân nhân chế độ cũ phải ra trình diện, Viện Đại Học Vạn Hạnh đã tự động biến thành một địa điểm trình diện do Nguyễn-Trực điều hành. Sau đó, Nguyễn-Trực trở thành một thành viên của Ủy Ban Quân Quản Quận Ba. Các công chức cao cấp và sĩ quan trong vùng, ít ai dám đến trình diện ở Viện Đại Học Vạn Hạnh, vì kinh nghiệm của vụ Phật giáo đấu tranh chiếm Đà Nẵng năm 1966, họ biết rằng đến một nơi do nhóm “Cách mạng giờ thứ 25” chiếm đóng, có thể bị mất mạng như chơi.
Sau này, Nguyễn-Trực tổ chức vượt biên để kiếm tiền đã bị bắt và bị khai trừ. Một nguồn tin cho biết gần đây Nguyễn-Trực đã được đến định cư tại Orange County, tiểu bang California, Hoa-Kỳ, do sự bảo lãnh của một người con vượt biên.
Vợ của Thích Minh Châu là Lê-Thị-Bé đã hoạt động tích cực trong Hội Phụ Nữ Cứu Quốc khi Việt Minh cướp chính quyền vào năm 1945 và sau đó được kết nạp vào Đảng Cộng Sản. Sau 30/04/1975, Lê-Thị-Bé và hai con đã được Đảng cấp giấy phép cho vào Sài-Gòn thăm chồng là Thượng Tọa Thích Minh Châu, nhưng chỉ được phép ở lại Sài-Gòn 10 ngày mà thôi. Trong dịp này, bà có đến thăm một vài gia đình quen thân cũ đã di cư vào Nam năm 1954. Đảng không muốn dân chúng biết lai lịch của Thích Minh Châu để bảo vệ uy tín của ông và xử dụng ông vào công tác Phật Giáo vận quan trọng sau này.
Chúng tôi may mắn được gặp và nói chuyện với một người thân đã đón tiếp bà Lê-Thị-Bé nên biết được nhiều chuyện bí mật về cuộc đời của Thích Minh Châu và gia đình của ông.
Phá sập Giáo Hội Ấn Quang:
Cũng trong cuốn Bạch Thư nói trên, Hoà Thượng Tâm Châu đã viết:
- Ngày 19/05/1975, phe tranh đấu Ấn Quang đã tổ chức sinh nhật Hồ-Chí-Minh tại chùa Ấn Quang.
 - Hiệp Thương Chính Trị thống nhất hai miền Nam, Bắc của Cộng Sản, một Thượng Tọa của phe Ấn Quang đã làm một bài tham luận, nịnh Cộng Sản, kể công của Ấn Quang và đả kích Nha Tuyên Úy Phật Giáo cùng Giáo Hội Thích Tâm Châu”.
Nhiều người đã đặt câu hỏi: Cứ theo Bạch Thư của Hoà Thượng Tâm Châu, Giáo Hội Ấn Quang rất “Có công với Cách Mạng”, tại sao nhà cầm quyền VNCS (Việt-Nam Cộng sản) lại đánh sập giáo hội này? Thích Minh Châu đã đóng vai trò gì trong vụ đó?
Câu chuyện khá phức tạp. Khi Việt Cộng chiếm miền Nam Việt-Nam, đa số các tăng sĩ trong Giáo Hội Ấn Quang tin tưởng một cách đơn giản rằng họ là những người “Có công với Cách Mạng” và Phật Giáo sẽ trở thành một thế lực lớn mạnh nhất khi thống nhất được Phật Giáo Nam – Bắc. Công việc đầu tiên là phải thống nhất Phật Giáo dưới sự lãnh đạo của Giáo Hội Ấn Quang, sau đó sẽ dùng Phật Giáo “hóa giải” Cộng Sản và tiến tới nắm chính quyền.
Trong “Đơn xin cứu xét nhiều việc” gởi nhà cầm quyền VNCS, Hoà Thượng Huyền Quang kể lại rằng sau ngày thống nhất đất nước, Giáo Hội Ấn Quang đã viết thư cho Hội Phật Giáo ở miền Bắc đề nghị thống nhất, nhưng Hội Phật Giáo này không đáp ứng. Giáo Hội đã cử Hòa Thượng Thích Đôn Hậu từ miền Bắc về, đại diện cho Giáo Hội đến xin gặp ông Nguyễn-Văn-Hiếu, lúc bấy giờ là Bộ Trưởng Văn Hóa. Hoà Thượng Huyền Quang cho biết về câu chuyện gặp gỡ giữa hai bên như sau:
“Hòa Thượng chúng tôi xin phép cho Giáo Hội chúng tôi vận động thống nhất Phật Giáo Việt-Nam, sau đó tiến đến thống nhất Phật Giáo hai miền. Nhưng bị ông Bộ Trưởng Văn Hóa từ chối với lý do: “Thống nhất Phật Giáo thì tốt, nhưng thống nhất với Phật Giáo cách mạng, chứ thống nhất làm gì với Phật Giáo phản động!” Hòa Thượng chúng tôi hỏi: “Phật Giáo phản động là ai?” Ông Bộ Trưởng Hiếu không trả lời (Ông Hiếu ám chỉ Giáo Hội chúng tôi là phản động)”.
Bị coi là “Phật Giáo phản động”, Giáo Hội Ấn Quang tưởng như đang ở dưới thời VNCH, mở chiến dịch chống lại. Cộng Sản đã đàn áp thẳng tay và tìm biện pháp xóa sổ Giáo Hội Ấn Quang.
Ngày 12/02/1980, Hà-Nội cho Hòa Thượng Thích Đức Nhuận, Quyền Hội Trưởng Hội Phật Giáo Thống Nhất (Quốc doanh miền Bắc) vào Nam vận động thống nhất Phật Giáo. Ông họp với 20 đại biểu của các tổ chức và tông phái Phật Giáo miền Nam do Mặt Trận Tổ Quốc lựa chọn. Kết quả, hội nghị đã quyết định thành lập Ủy Ban Vận Động Thống Nhất Phật Giáo và bầu Thượng Tọa Thích Trí Thủ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo Hội Ấn Quang làm Trưởng Ban, còn Hòa Thượng Đôn Hậu, Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống, làm Cố Vấn.
Thượng Tọa Minh Châu đã đóng vai trò gì trong cuộc “vận động” này?
Tài liệu cho biết Thượng Tọa Minh Châu đã họp các Thượng Tọa Trí Thủ, Trí Tịnh, Thiện Hào, Thiện Châu, Từ Hạnh và Hiển Pháp cùng với các cư sĩ Đỗ-Trung-Hiếu, Võ-Đình-Cường, Tống-Hồ-Cầm.... thành lập một nhóm chống lại sự phản kháng của nhóm Thượng Tọa Huyền Quang và Quảng Độ. Ngày 17/08/1981, Thượng Tọa Minh Châu đã làm một bản tường trình cho biết tại Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo Giáo Hội Ấn Quang “Đã diễn ra những sự kiện khác thường”, đó là việc “Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo, triệt hạ uy tín toàn Ban Vận Động Thống Nhất Phật Giáo, ngang nhiên thách thức Chính phủ và Mặt Trận Tổ Quốc Việt-Nam”.
Chúng ta cần nhớ rằng kể từ khi GHPGVNTN bể làm hai vào năm 1966, Thượng Tọa Minh Châu luôn ở trong Giáo Hội Ấn Quang với chức vụ Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa Giáo Dục cho đến sau năm 1975.
Trong đại hội ngày 04/11/1981, tại chùa Quán Sứ ở Hà-Nội, có 164 đại biểu của các tổ chức, giáo hội và hệ phái Phật Giáo tham dự, Thượng Tọa Trí Thủ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo Hội Ấn Quang, đã đem Giáo Hội này sát nhập vào Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam, tức Giáo Hội nhà nước, và được bầu làm Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự. Hòa Thượng Thích Trí Tịnh làm Phó Chủ Tịch, còn Thượng Tọa Minh Châu giữ chức Phó Chủ Tịch kiêm Tổng Thư Ký liên tiếp ba nhiệm kỳ I, II và III từ 1981 đến 1997. Sau đó, ông làm thành viên của Hội Đồng Chứng Minh.
Các Thượng Tọa Thiện Minh, Huyền Quang, Đức Nhuận, Quảng Độ và một số vị khác không tán thành, đã bị bắt.
Trường huấn luyện các sư quốc doanh:
Năm 1976, Thượng Tọa Minh Châu đã bàn giao Viện Đại Học Vạn Hạnh cho Bộ Giáo Dục, sau đó lên cơ sở II ở Phú Nhuận, thành lập Phật Học Viện Vạn Hạnh. Công việc chính được Đảng Cộng Sản giao cho ông là huấn luyện các sư quốc doanh.
Năm 1981, ông được đưa ra Hà-Nội mở Trường Cao Cấp Phật Học Việt-Nam Cở Sở I ở chùa Quán Sứ và làm Hiệu Trưởng. Nay trường này đã được đổi thành Học Viện PGVN (Phật Giáo Việt-Nam) và năm 2006, được dời về một cơ sở rộng lớn mới được xây cất ở thôn Vệ Linh, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà-Nội.
Năm 1984, ông trở lại Sài-Gòn và biến Phật Học Viện Vạn Hanh thành Trường Cao Cấp Phật Học Cơ Sở II do ông làm Hiệu Trưởng. Nay, trường này cũng đã được biến thành Học Viện PGVN.
Hiện nay, tại Việt-Nam có 4 Học Viện Phật Giáo trên toàn quốc trực thuộc Trung ương Giáo Hội Phật Giáo nhà nước được dùng để huấn luyện các sư quốc doanh, đó là các Học Viện PGVN tại Hà-Nội, Sài-Gòn, Huế và Học Viện Phật Giáo Nam Tông Khmer tại Cần Thơ.
Theo tài liệu, các tăng ni sinh khi trúng tuyển vào học tại các Học viện này, được tu học nội trú 100% trong ký túc xá. Tăng ni sinh được miễn 100% chi phí ăn ở và 90% chi phí huấn luyện trong suốt thời gian tu học. Các báo trong nước viết: “Hòa thượng (Minh Châu) đã mở trường trong Đạo và ngoài đời để huấn luyện hàng nghìn Tăng Ni cấp Cử nhân Phật học cho Giáo hội, hàng chục nghìn sinh viên có bằng cấp thành đạt cho xã hội.”
Thực chất của các “Sư quốc doanh” hay “Sư công an” được Thích Minh Châu huấn luyện như thế nào, các bloggers đã mô tả khá nhiều. Ở đây, chúng tôi chỉ xin trích lại một đoạn của một tác giả trong nước phổ biến trên các diễn đàn:
“Nhân ngày làm lễ tốt nghiệp ra trường “Đại Học Phật Giáo” cho 274 tăng ni tại thành phố Sài-Gòn hôm kia, làm tôi nhớ lại chuyến đi thăm trường “Đại Học Phật Học” này, Khi tôi vào thăm trường, cả 6 lớp đang học tiếng Phạn, khoảng 30 phút sau thì đến giờ nghỉ giải trí. Nghe nói hôm đó Thầy Thích Thanh Tứ đến nói chuyện với các tăng ni trong trường nên không khí rất vội vàng và nghiêm chỉnh. Nhìn bãi để xe của nhà trường làm tôi suy nghĩ. Các nam nữ tăng ni đi học đại học hầu hết là bằng xe gắn máy phân khối lớn và toàn loại sang. Có nhiều tăng ni đi đến trường cả bằng xe hơi nữa.
“Trong giờ nghỉ giải trí, quanh các quày bán sách, và sân trường, tiếng chuông điện thoại di động của các tăng ni reo không ngừng. Hầu hết các “Hoà thượng trẻ” đều dùng điện thoại đời mới và nhỏ xíu. Tôi ghé vào quán sách dưới bóng cây bồ đề ở góc sân trường, để tìm mua một vài quyển sách, thì thấy ở đây sách rất nhiều in và bìa đẹp, nhưng giá thì rất đắt, có quyển giá tới 540.000$. Thoạt đầu, tôi tưởng với giá đắt như thế các bậc Hoà thượng tương lai, sẽ ít mua, nhưng trái với dự đoán của tôi, bác bán sách cho tôi biết nhiều hôm không có đủ sách để bán.
“Tôi đang đứng suy nghĩ điều gì đó dưới bóng cây bồ đề, bỗng có một vật lạ bay vào đầu tôi và tôi ngạc nhiên quay về phía sau thì thấy ba nữ Ni sinh Đại học Phật Giáo, xấu hổ quay mặt đi vì các cô đó ném cái hạt ô-mai trật mục tiêu,... Lẽ ra nó phải bay xa hơn nữa và trúng vào vị nam Tăng sinh đẹp trai, người đang đứng phía trước tôi và đang say sưa trả lời điện thoại....”
Theo phúc trình mới nhất, hiện nay trong nước có khoảng 17.000 cơ sở chùa chiền với khoảng 50.000 tăng ni. Dĩ nhiên, trong số này cũng có rất nhiều vị chân tu, đi tu để tìm “Con đường giải thoát”. Nhưng đa số Sư Công An đều thuộc loại “Chân tu mà tay không tu”. Họ được phái đến “Trụ trì” tại các cơ sở Phật Giáo để bảo vệ an ninh và kinh tài.
Một đảng viên đúng tiêu chuẩn:
Các chức vụ và huân chương mà Thích Minh Châu được chính quyền ban cho kể từ sau ngày 30/04/1975, quá nhiều không thể ghi lại hết được, trong đó có làm đại biểu quốc hội 4 khóa liền, từ khoá VII đến khoá X.
Không như Thích Trí Quang, tâm đầy tham vọng và ảo tưởng lúc nào cũng xưng hùng xưng bá khoác lác và hung hăng..., Thượng Tọa Minh Châu là một con người hòa nhã không hiếu động luôn hành động theo đường lối của Đảng, không để lộ tung tích. Ông đã làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó trong công tác trí vận ở miền Nam trước và sau năm 1975, đã góp công rất lớn trong việc dẹp tan “Phật Giáo phản động” và huấn luyện cho Đảng một hệ thống sư quốc doanh hoạt động có hiệu năng. Vì thế ông là một tăng sĩ có uy tính nhất đối với Đảng và nhà cầm quyền VNCS. Người được chọn để thay ông là Hoà Thượng Thích Trí Quảng, một đảng viên người gốc Củ Chi, cũng có kiến thức và những đặc tính tương tự như Thích Minh Châu.
Sau khi Thích Minh Châu qua đời, báo trong nước cho biết các phái đoàn như Tổng Bí Thư BCH TW (Ban Chấp Hành Trung Ương) Đảng, Chủ Tịch nước, Quốc Hội, Chính phủ, Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt-Nam, Bộ Công an.... đã đến dâng hương và đảnh lễ. Qua ông, chính sách tôn giáo vận của Đảng Cộng Sản coi như đã thành công, nhưng ông ra đi không thấy Niết Bàn mà "Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ"!
Điều đáng ngạc nhiên là mặc dầu Thích Minh Châu đã góp công rất lớn trong việc làm tan rã Giáo Hội Ấn Quang, làm biến thể Phật Giáo và biến Phật Giáo thành công cụ của Đảng CSVN, ông vẫn được một số tăng ni và phật tử của Giáo Hội này quý mến và tôn sùng. Thật đắng cay cho vận nước!

MẠI DÂM - CÁ CHẾT - TRẦN THỊ LAM

Thursday, April 28, 2016



NGUYỄN THANH VIỆT

Phỏng vấn Giáo Sư gốc Việt đoạt giải Pulitzer 2016
Tuesday, April 19, 2016 6:26:50 PM



Bài liên quan
Tác giả gốc Việt đoạt giải Pulitzer 2016 cho tiểu thuyết





Thủy Phan/Người Việt
Nhất Anh/Người Việt (chuyển ngữ)


WESTSMINTER, California (NV) – Tác phẩm “The Sympathizer” của ông Nguyễn Thanh Việt, giáo sư gốc Việt chuyên ngành Văn Học tại trường đại học University of Southern California, vừa đoạt giải Pulitzer dành cho tiểu thuyết năm 2016.

Phóng viên báo Người Việt phỏng vấn Giáo Sư Việt khi ông đang có mặt tại Massachusetts để giới thiệu cuốn tiểu thuyết khác của mình, mang tên “Nothing Ever Dies: Vietnam and the Memoris of War.”





Chân dung Giáo Sư Nguyễn Thanh Việt và cuốn sách đoạt giải Pulitzer dành cho tiểu thuyết năm 2016 "The Sympathizer". (Hình: Facebook của Giáo Sư Nguyễn Thanh Việt)



Người Việt (NV): Ông cảm thấy như thế nào khi biết tin mình đoạt giải Pulitzer năm nay?

Giáo Sư Nguyễn Thanh Việt: Tôi đang ở một mình trong phòng thì trang mạng Facebook và Twitter của tôi bắt đầu đưa lên các thông tin về một người gốc Việt đoạt giải Pulitzer. Tôi rất bất ngờ khi nhận được sự ủng hộ rất lớn từ mọi người, đặc biệt là cả những người ở Việt Nam chưa có cơ hội đọc được sách của tôi. Mọi người rất phấn khởi khi có một tác giả gốc Việt đoạt giải năm nay.

NV: Có bao giờ ông nghĩ cuốn sách “The Sympathizer” của mình sẽ đoạt giải Pulitzer không?

Giáo Sư Nguyễn Thanh Việt: Không bao giờ tôi nghĩ đến chuyện đó. Tôi thấy rất vui khi cuốn sách được xuất bản và càng thấy ngạc nhiên hơn nữa khi nhiều độc giả biết đến nó trước khi nó đoạt giải Pulitzer. Tôi không nghĩ là tác phẩm này có cơ hội thắng giải Pulitzer vì thường các tác phẩm đoạt giải trước đây không làm lung lay tâm tình của độc giả. Còn tác phẩm của tôi, tôi muốn nó có thể chạm đến trái tim người đọc.

NV: Vì sao ông lại nghĩ vậy?

Giáo Sư Nguyễn Thanh Việt: Tôi dành rất nhiều thời gian suy nghĩ về con người Việt Nam mà cụ thể hơn là chiến tranh Việt Nam. Tôi nhận ra rằng mỗi cá nhân người Việt đều có cái nhìn và trải nghiệm khác nhau về cuộc chiến này. Đó chính là cách mà chiến tranh tồn tại và cách mà con người nhớ đến nó. Tôi không muốn mọi người tin rằng suy nghĩ và nhận thức của họ về cuộc chiến là đúng mà tất cả mọi người, mỗi bên, mỗi cá nhân đều có trách nhiệm với chiến tranh. Cuốn sách này không chỉ về chính trị, nó còn mang một ít chất hài hước, bi kịch, bản năng con người và bí ẩn.

NV: Về sự ủng hộ của độc giả?

Giáo Sư Nguyễn Thanh Việt: Sư ủng hộ của độc giả cho thấy rằng cuốn sách này không chỉ là sự chúc mừng chỉ riêng cá nhân tôi mà còn hơn thế nữa. Giải thưởng này không chỉ là biểu tượng dành cho cộng đồng gốc Việt mà còn cho các sắc dân khác. Nó đại diện cho tất cả mọi thành phần ở Mỹ và niềm tin của họ.

NV: Ông mừng vinh dự này như thế nào?

Giáo Sư Nguyễn Thanh Việt: Gia đình tôi đang ở Los Angeles nên tôi chưa thể tổ chức ăn mừng với gia đình được. Nhưng chắc chắn sẽ là có một buổi ăn mừng nho nhỏ với vợ và con của tôi khi tôi bay về lại California vào thứ Sáu này.

NV: Ông nghĩ giải thưởng này có làm thay đổi cách giảng dạy cũng như cách viết văn của ông?

Giáo Sư Nguyễn Thanh Việt: Tôi viết cuốn sách này trước tiên là cho chính bản thân và niềm tin của tôi chứ không cho bất cứ ai khác. Tôi không có ý định thay đổi nó. Ngay cả cuốn sách sau “The Sympathizer” là “Nothing Ever Dies: Vietnam and the Memories of War” cũng được viết cùng mục đích này. Tôi vẫn làm những gì mà tôi làm. Điều khác biệt duy nhất chính là nó là phương tiện để tôi có thể chia sẻ niềm tin của tôi.

NV: Ông có lời nào với các bạn trẻ gốc Việt muốn theo đuổi con đường viết văn chuyên nghiệp?

Giáo Sư Nguyễn Thanh Việt: Tôi muốn nhắn nhủ rằng dù bạn trẻ hay già thì văn chương là một phần của lịch sử, di sản và văn hóa của chúng ta. Có một sự thật đáng buồn rằng niềm đam mê hay tìm tòi về văn chương đang dần dần bị thay thế bằng các thứ khác. Đối với các bạn muốn theo đuổi nghệ thuật văn chương, tôi khuyến khích họ lắng nghe trái tim mình và tin tưởng vào câu chuyện mà mình sáng tác.

http://nguoi-viet.us11.list-manage2.com/track/click?u=6155c7de29befb0490fba5b53&id=69eeb20aef&e=13b6121068


NGƯỜI VIỆT CỘNG HÈN HẠ




người việt nam hèn hạ



Bài viết này sẽ không có một chữ việt nam nào được viết hoa.
Bởi chúng ta có xứng đáng được trân trọng như vậy không? Không hề.
Cách đây đã lâu, tôi đọc “người trung quốc xấu xí” của ông Bá Dương (ĐàiLoan), chưa bàn tới hay/ dở/ đúng/ sai của nội dung cuốn sách gây tranh cãi ầm ĩ đó, tôi chỉ nhớ lại cảm giác giật mình của tôi khi đó. Khi tôi đọc lướt qua vài trang sách. Tôi như vỡ ra một niềm cảm khái mà từ lâu nó cứ âm ỉ trong lòng. Tôi biết thế giới đã từng có những cuốn “Người Mỹ xấu xí”, “Người Nhật Bản xấu xí”, rồi mới đến cuốn của ông Bá Dương. Tôi vừa đọc, vừa tự hỏi, tại sao người việt nam chúng ta không có một cuốn như thế này? Tại sao chúng ta cứ tự ru ngủ mình trong cái điệp khúc dân tộc việt nam là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” & nhìn đâu cũng thấy anh hùng, liệt sĩ… Nếu thực sự chúng ta có những tố chất đó, nếu thực sự chúng ta là những người như thế, sao kết quả chúng ta hiện nay lại là một đất nước như thế này?
Một đất nước mà hơn phân nửa các cô cậu tú tài đi thi cử nhân khoe rằng mình có quay cóp một cách hoàn toàn không có chút tự trọng (đó là được hỏi, còn báo chí không cần hỏi vẫn có những hình ảnh phao thi trắng cả trường thi! Vậy thì thi cái gì? Thi xem ai quay cóp giỏi hơn chăng?). Trong đó còn có cả những đứa trẻ bảo rằng năm nay không thi thì năm sau thi, chứ làm bài mà phỉ báng “thần tượng Su-Ju” của nó là nó không thi! Mặc cho bao nhiêu tâm sức, kỳ vọng của gia đình, nhà trường, xã hội – những nền tảng đã cho nó có được cuộc sống và kiến thức để mà tiếp cận được với Su-Ju danh giá của nó. Thế mà nó vẫn được rất nhiều đứa trẻ khác tung hô! Chính là những đứa trẻ sẵn lòng khóc lóc, quỳ gối, hôn ghế… trước thần tượng. Một dân tộc gì đã sản sinh và nuôi dạy ra một thế hệ kế thừa như thế?
Con nít nó học cha anh mà ra, chúng ta đã nuôi dạy trẻ con thành ra như thế sao? Đừng ai đổ thừa cho ai. Vì Vì trường học đổ cho cha mẹ, cha mẹ đổ cho xã hội, xã hội đổ cho cha mẹ & nhà trường. Tóm lại, đừng đổ nữa. Hãy biết hốt về mình đi! Tất cả chúng ta là người lớn, chúng ta đều có lỗi.
Bởi người lớn có hơn gì? Một xã hội mà người ta đang sẵn lòng thuốc chết nhau đi từng ngày bởi tiền bạc bất kể lương tri. Làm quan thì chỉ lo vơ vét, tham nhũng, quỳ gối trước ngoại bang để duy trì sự thống trị trước nhân dân. Gần 40 năm thống nhất, việt nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường & trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có,… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng “cơm no, áo ấm”. Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! “Doanh nhân là chiến sĩ thời bình”. Cứt! Tôi ỉa vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường. Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền việt nam trước khả năng dùng “luật im lặng” của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất. Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Đơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng vì lợi ích cá nhân & gia đình nó – nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Đừng nói với tôi là “lý tưởng Hồ Chí Minh” hay “lý tưởng cộng sản” nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ Đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là “phản động”.
Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết,..
Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa?
Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh & ức hiếp bên dưới.
Sao mà tôi sợ bọn người đó như thế?!
Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm “đầy tớ” của nhân dân!
Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài gòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan.
Bọn công bộc đó đã đẩy 2 mẹ con người phụ nữ nọ phải dùng đến cách phản kháng cuối cùng mà họ có là khỏa thân ở giữa đường để đòi lại công bằng. Vì trong tay họ còn có gì để chống lại chúng ngoài phẩm cách của người đàn bà vốn được coi là thiêng liêng? Họ dùng đến cách đó, và cuối cùng bị chúng lôi kéo dọc đường và nỗi oan của họ có ai thèm đoái tới?
Bọn công bộc đó đã đẩy đến đỉnh điểm hôm nay, một người mẹ uất ức tự thiêu trước cổng 1 cơ quan công quyền vì không còn sức để chịu đựng chúng…
Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Đáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.
Bọn này tiếp tay cho bọn con buôn cũng lưu manh không kém. Thế là chúng ta ăn thức ăn có độc mỗi ngày, con cháu chúng ta uống sữa độc mỗi ngày, chúng ta đi trên những con đường hiểm họa mỗi ngày, chúng ta tiêu dùng những gì chúng mang tới, chúng ban phát, với giá mà chúng ấn định, với mức thuế mà chúng muốn,… không còn một lựa chọn nào khác. Không biết làm gì khác, không có phản ứng gì khác! Vì chúng ta lương thiện.
Kẻ không lương thiện có những phản ứng tàn độc hơn, hoặc biến hẳn sang một trạng thái sống khác, như một sự kết tinh cao cấp hơn của một xã hội đương nhiên sẽ sản sinh ra nó.
Tôi nghĩ đến bọn này khi tôi đọc tin về tên bác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.
Tôi đọc tin ông bà chủ đánh trẻ làm công đến thương tật.
Tôi đọc tin một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc chỉ vì một chiếc xe máy và chút ít tài sản.
Tôi đọc tin bọn chủ & lơ xe vứt xác hành khách bị lèn chết giữa đường mà cả xe không ai phản ứng.
Tôi đọc tin nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt.
Tôi đọc tin người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp!
… còn rất nhiều tin.
Một dân tộc gì mà độc ác và hèn hạ thế?
Dĩ nhiên không chỉ có mình tôi biết đau đớn vì những điều đó.
Chúng ta có cả một thứ to tát mà tôi tạm gọi là “nền văn chương than khóc”.
Trong những tác phẩm thi ca xuất bản từ khoảng 20 năm trở lại đây, tôi không dám nói mình đọc nhiều hay nghe nhiều, nhưng tôi cố gắng đọc, nghe, cố gắng tìm tòi, cố gắng tìm kiếm một tác phẩm nó xứng đáng làm cho tôi thấy dân tộc việt nam của tôi thực sự là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” một cách đúng nghĩa. Vì hãy quên những hình tượng cách mạng cao đẹp trong văn chương hay cả âm nhạc của miền Bắc thời chiến tranh đi! Đó không phải là văn chương, nó là thuốc pháo, tìm cách dẫn dắt, thôi thúc người ta chém giết & chết. Không hơn không kém.
Các bạn có tìm kiếm giống tôi không? Và các bạn có tìm thấy không? Hay đầy rẫy xung quanh chúng ta chỉ có 3 loại:
. Loại mờ nhạt, rẻ tiền, xúc cảm vu vơ, vụn vặt, vô thưởng vô phạt.
. Loại có trăn trở, có suy tư, nhưng toàn đau đáu những nồi niềm xưa cũ, tương lai chả biết phải vứt đi đâu và vứt cho ai?
. Loại mạnh mẽ hơn, trực diện hơn, nhưng tầm vóc tác phẩm chỉ ở mức gẩy lên 1 tiếng đàn, rồi thôi! Tinh thần chúng ta đang được nuôi dưỡng bằng những thứ chỉ đến mức đó thôi.
Còn những thứ hổ lốn lai căng phát trên TV, bán ngoài sạp báo mỗi ngày, tôi không dám kể tới, vì đó là nỗi kinh hoàng mà nếu phân tích thêm, chỉ muốn vứt cái đầu mình đi, không cần suy nghĩ nữa làm gì cho mệt óc.
Vậy cái gì đã gây nên nông nỗi?
Tôi không muốn tạo ra sự hiểu lầm là cái gì cũng do lỗi cộng sản.
Nhiều người rất cực đoan, nói ra cái gì sai, họ cũng đổ vấy hết cho cộng sản.
Nhưng cộng sản tệ đến thế mà cai trị được chúng ta đến ngày giờ này, thì chúng ta cũng tệ không kém!
Nghe nói cụ Tản Đà có câu:
Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn!
Cho nên quân ấy mới làm quan.
Những gì độc ác, bẩn thỉu của cộng sản, những người khác đã nói đầy cả ra rồi, tôi nghĩ mình cũng không cần nhắc lại.
Tôi chỉ nghĩ đến một điều, cái gì đã làm cộng sản tồn tại lâu như thế?
Ngoài sự cấu kết quyền lực – quyền lợi để cùng bảo vệ lẫn nhau, cộng sản đã làm gì để chúng ta thành ra một dân tộc việt nam hèn hạ tự trên xuống dưới, từ già tới trẻ như ngày hôm nay? Ngoài sự mafia, côn đồ, trấn áp bằng sợ hãi, giáo dục một cách ngu dân ra, chúng còn làm gì nữa?
Ai từng học luật đều biết, khi quy phạm pháp luật không điều chỉnh được, thì hành vi con người sẽ phải điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức. Pháp luật không theo con người lên giường, vào toa-lét, xuống bếp. Nhưng đạo đức theo ta khắp nơi, tận trong ngõ ngách tâm hồn. Pháp luật cũng không ép tạo ra đạo đức. Chính sự vô thần vô thánh, không thừa nhận đức tin mà cộng sản triệt để nhồi nhét từ khi họ nắm được dân tộc này đã hun đúc ra những con người sẵn sàng bán thịt thối cho người ta ăn, đút sữa độc vào miệng con nít, chém mẹ ruột, giết con đẻ,… Vì những người này họ không sợ, hoặc họ tin rằng họ sẽ tránh được sự trừng trị của pháp luật. Khi pháp luật không trị được mà người ta không sợ luân hồi, không sợ quả báo, không sợ bị đày xuống địa ngục,… thì họ còn sợ gì nữa? Việc gì mà họ không dám làm?
Còn những kẻ yếu không có niềm tin là có Phật, có Chúa, có Thánh Allah luôn soi sáng mình, giúp đỡ mình, ngự trị trong mình, thì họ còn biết dựa vào đâu để tìm lại niềm lạc quan mà sống? Mà tranh đấu để tự tìm lấy giá trị sống thiêng liêng mà đấng tạo hóa đã ban cho mỗi chúng ta?
Tôi có cảm giác như mình đang sống giữa một bầy đàn hỗn loạn nhưng hoang vu, hỗn loạn về vật chất – nhưng hoang vu về tinh thần. Bạn có thấy như thế không?
Giữa sự hỗn loạn và hoang vu ấy, cái ác sẽ luôn luôn ngự trị, kẻ có sức mạnh sẽ luôn trấn áp chúng ta. Chúng ta - những kẻ được đến trường nhưng thật ra thất học, những kẻ nghĩ mình lương thiện nhưng thật ra không có lương tri, những kẻ đủ ăn mặc nhưng thật sự chưa hề nếm mùi vị hạnh phúc, những kẻ đọc sách – nghe nhạc mỗi ngày nhưng không biết đó chẳng phải là nghệ thuật đích thực – một nền nghệ thuật có thể soi sáng tâm hồn ta chứ không phải ru ta ngủ trong quên lãng.
Những kẻ hoang mang không biết tin ai, không hiểu nên làm gì cho đúng.
Lúc đó, lúc hỗn loạn và hoang vu đó, anh cộng sản xuất hiện và nói: Đời chúng mày chỉ cần độc lập – tự do – hạnh phúc.
Chúng ta tưởng thế là hay ho lắm! Dù nền độc lập này có mang lại tự do không? Có hạnh phúc không? Hay chúng ta đang cúi đầu nô dịch cho ai đây? Chúng ta thực chất đang sống thế nào đây? Và đang để lại cho con cháu chúng ta di sản gì?
Chúng ta đeo bám theo họ, quên cả chính bản thân mình, một con người, cần phải sống sao cho đúng nghĩa, đúng phẩm cách, hành động đúng theo những gì mà một con người có lương tri cần phải hành động.
Bạn có đang tự hào vì mình là người việt nam không? Hỡi những con người ấu trĩ mang trong mình một đinh ninh sắt đá là tôi rất tự hào vì tôi là người việt nam “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” đã từng đấu tranh thắng Mỹ, các bạn không thấy điều đó nó hết thời rồi à? Ta thắng Mỹ để có một xã hội phồn vinh, một dân tộc được tôn trọng. Chứ còn thắng Tàu, thắng Pháp, thắng Mỹ, thắng khắp nơi… Mà ngày nay những kẻ ta từng thắng đó, nó coi chúng ta còn không hơn con chó thì cái chiến thắng đó nhắc tới làm chi cho thêm nhục?
Mặt phải, chúng ta ra rả trên báo mỗi ngày là “Mỹ đã đến biển Đông”, “bà Hillary dọa TQ không nên gây hấn”,.. để mong lòng dân yên ổn. Mặt trái, chúng ta tổ chức ngày hội gặp gỡ những lớp cán bộ đã từng được Tàu đào tạo để cám ơn họ đã “dạy dỗ” cả đám chóp bu việt nam. “Đĩ” chưa từng thấy! Chưa có cái chính quyền nào mà “đĩ” như chính quyền việt nam hiện tại. Dựa hơi mà cũng không biết dựa hẳn bên nào cho trót. Lá mặt lá trái như thế bảo sao quốc tế nó không khinh?
Còn dân việt nam thì sao? Dám cầm súng đánh TQ hay đánh bất cứ thằng nào xâm lược việt nam nữa không? Mà cầm súng để làm gì? Kết quả của gần 40 năm độc lập, ai cũng thấy cả rồi, không cần nói nữa.
Và cả bọn hèn hạ chúng ta đang ôm lấy nhau, hồi hộp chờ đợi hồi chuông báo tử.
* * *
Bổ sung:
Sau khi bài này được upload, tôi nhận được khá nhiều comments và cả message. Không biết phải đánh giá như thế nào về những comments hỏi ngược lại tôi với một thái độ khinh khỉnh, qua nhiều câu chữ khác nhau, nhưng đại khái cùng 1 ý: "Vậy bạn có hèn không?". He he...
Tôi chỉ muốn nhấn mạnh lại 1 điều, suốt cả bài viết, tôi không gọi những người hèn là "các bạn", tôi gọi là "chúng ta". Như vậy có dễ hiểu hơn chưa nhỉ?
Tôi không thích tự nhận hay gán ghép. Tôi chỉ nói lên những suy nghĩ của mình, còn đánh giá tôi hay đánh giá chính mình, các bạn cứ tự làm lấy. Thiết nghĩ, đâu cần phải tranh luận chuyện ai hèn, ai không hèn ở đây! Biết hay không biết mới là quan trọng. Mà cái sự khổ sở để đi từ cái "không biết/ chưa biết" đến cái "biết" nó sẽ là một quá trình gian nan mà mỗi người phải tự thân trải nghiệm. Không ai giúp ai được đâu. Và tôi hiểu, cái "biết" của tôi nó cũng chỉ giới hạn trong tầm nhân sinh quan nhỏ bé của cá nhân tôi mà thôi. Còn bạn, hãy tiếp tục giữ lấy niềm lạc quan của bạn. Con cừu vẫn có được niềm hạnh phúc mỗi ngày được gặm cỏ non, uống nước suối, ngắm bầu trời xanh, chờ đến ngày xẻ thịt mà! Đúng không? Hạnh phúc vẫn khắp quanh ta! Những con cừu không biết "tự sướng", không biết "thủ dâm tinh thần" thì quả thực là ngu còn hơn... cừu! He he...

* * *
Bổ sung tiếp:
"... Ông bảo xã hội nào cũng có những điều bẩn thỉu. Tôi công nhận điều ấy. Nhưng xã hội bẩn thỉu nhất ông có biết là xã hội nào không? Là xã hội mà thằng ăn cắp không cho rằng nó phạm pháp, nó đang làm điều xấu, người lương thiện thì run sợ, thằng bất lương lại coi việc nó làm là bình thường và kẻ vô liêm sỉ như ông thì vênh vang tự đắc: ta là số đông. Chính là xã hội này đây..." (trích comment của khongnoibiet).




TỰ DO PHẢI TRANH ĐẤU BẰNG XƯƠNG MÁU VÀ CẢ TINH MẠNG

NGUYỄN TIẾN DÂN * MẠI DÂM

Mại dâm dưới chế độ Cộng sản ...


Trước tiên phải bái phục sự can đảm của tác giả cho biết rõ dịa chỉ nhà ở, số điện thoại của tác giả một cách công khai.


Thứ hai khâm phục hiểu biết và lý luận thật vững chắc không có một sơ hở nào để bị đánh bại. Qua hai yếu tố trên, tôi đánh giá bài viết "HAY NHẤT TRONG NĂM" (vì không thấy đề năm nào) không những của VN mà của cả thế giới, nhất là THẾ GIỚI CỦA NGƯỜI NGHÈO. Quí vị nghĩ sao ?

Ðọc bài này nghe ly' thu', sướng cái lỗ tai quá ! Xin bái phục sự can đảm của tác giả. “Mại dâm dưới chế độ Cộng sản”.



Kính gửi: ông Trương Tấn Sang,
Chủ tịch nước CHXHCN Việt nam.
Tên tôi là: Nguyễn Tiến Dân.
Ðịa chỉ: 208 Ðịnh Công Thượng – quận Hoàng Mai – Hà nội.
Ðiện thoại: 0168-5d0-56-430

Như đã viết trong bức thư trước, lần này, xin hầu chuyện ông với đề tài “Mại dâm dưới chế độ Cộng sản”. Ðề tài mà rất nhiều người đã đề cập. Tiếc thay, do không có thực tế, nên họ chỉ đề cập được 1 cách phiến diện.

1/ Phán xét về mại dâm, chưa có ai cho rằng nó là tốt. Ai cũng cho nó là xấu. Bởi ít nhất, nó chà đạp lên nhân phẩm của người phụ nữ. Tuy vậy, cũng không thể không thừa nhận: Mại dâm là 1 thực tế khách quan. Nó hiện diện ở khắp nơi trên trái đất. Nó có từ xa xưa. Nó tồn tại đến ngày nay và chắc chắn, nó sẽ song hành cùng nhân loại.
Ðừng có mơ cấm được mại dâm. Mại dâm chỉ không có trong xã hội nguyên thủy và trong thế giới của loài súc vật.

2/ Viết về mại dâm, không thể không nhắc đến 2 tác phẩm: Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu.

a/ Ở truyện Kiều, Nguyễn Du tố cáo chế độ phong kiến mục nát, suy đồi. Ngay từ “thằng bán tơ” mạt hạng, cũng biết cách câu kết với quan lại, sai nha để ngang nhiên ăn cướp của dân lành. Truyện Kiều không nói rõ, nhưng tôi đoán (rất mong là đoán nhầm), chúng đã ném “2 cái bao cao su đã qua sử dụng” vào nhà Vương viên ngoại, tạo cớ cho “trận cướp đẹp”. Cướp sạch của nổi, của chìm của người ta rồi, chúng vẫn chưa thỏa mãn. Chúng tiếp tục “huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc”, để bắt bớ, đánh đập, tra người, khảo của. Chung cuộc, nàng Kiều dẫu có tài sắc vẹn toàn đến đâu thì cũng phải tự bán mình vào lầu xanh, lấy tiền mà đút lót tiếp cho lũ tham quan vô lại. Chỉ dám mong 1 điều thật nhỏ nhoi: Của thì đã mất rồi, nhưng cha và em được “cốt nhục vẹn toàn". Xét về đạo lí, sự hi sinh ấy, thật là lớn lao, thật là cao thượng.
Cũng như nàng Kiều, từ xưa tới nay, bao cô gái khác, khi bước chân vào chốn lầu xanh, phải đâu do họ tự nguyện. Xã hội phong kiến vô pháp, vô luân đã dồn họ đến bước đường cùng. Thúy Kiều tuy chỉ là gái lầu xanh. Nhưng từ đầu tới cuối tác phẩm, Nguyễn Du chưa bao giờ mạt sát, khinh bỉ nàng. Ông mô tả nàng có tình cảnh đáng thương và có cuộc đời đáng được thông cảm. Sống trong đống bùn, mà nhân cách vẫn tỏa sáng. Nàng không giống những kẻ đê tiện: Tối chơi gái tràn lan, ngày vẫn lên mặt “Nghĩ mình phương diện Quốc gia”. Sự khinh bỉ nếu có, Nguyễn Du chỉ dành cho chế độ phong kiến suy đồi. Một cách nhìn đầy nhân văn, phải không ông?

b/ Trong truyện ngắn Chí phèo, Nam Cao mở đầu: “Một sáng tinh sương, anh thả ống lươn nhặt được đứa bé mới đẻ xám ngắt, đùm trong cái váy đụp vứt ở lò gạch cũ”… Cuối cùng: “Thị nhìn nhanh xuống bụng mình, và thoáng chợt thấy một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…”. Nam Cao giỏi ở chỗ tuy không trực tiếp nói ra, nhưng độc giả vẫn hiểu: “Ðó là kiếp luân hồi. Chí Phèo này có chết đi, còn nhiều thằng Chí Phèo khác đã chuẩn bị mọc lên thay thế. Ðời không thể thiếu vắng Chí Phèo”.

Với Tiếng hát sông Hương, ông Tố Hữu cũng dùng thủ pháp tương tự. Mở đầu, hiện thực của thời Thực dân, Phong kiến: “Trên dòng Hương Giang” là cô gái với bao nỗi nhục nhã, ê chề khi phải bán thân nuôi miệng… Cuối cùng (nguyên văn trong tác phẩm), ông ta có cách dòng (ngầm hiểu là đã bước sang trang, đã đến “ngày mai huy hoàng”), rồi cũng vẫn lại “Trên dòng Hương Giang”.
Riêng về mặt này, Tố Hữu xứng đáng là bậc tiên tri. “Ngày mai huy hoàng” đã đến, không còn cô gái kia trên sông, bởi cô đã quá già. Thay vào đó, hằng hà sa số những cô gái trẻ khác, mọc lên thay thế. Mại dâm đâu có mất đi trong chế độ CS. Thậm chí nó còn phát triển mạnh mẽ hơn (Khắp hang cùng ngõ hẻm, tìm đâu cũng có), tinh vi hơn (Vì nó biết cách ứng dụng cả công nghệ thông tin) và trắng trợn hơn (Bởi nó ngang nhiên tiếp thị ở ngay ngã 3, ngã 4 đường phố. Thậm chí hành nghề ngay tại gốc cây, sườn đồi)

3/ Thưa ông Chủ tịch, Trời sinh ra con người. Trên cơ thể mỗi con người, có nhiều bộ phận. Mỗi bộ phận, đều có chức năng riêng. Nếu không hoạt động, chức năng ấy sẽ bị suy thoái. Một kẻ, dẫu có mang danh Giáo sư – Tiến sĩ, nhưng đầu óc mà lười suy nghĩ, kẻ đó tất bị lú lẫn, u mê. Mắt mà không tự nhìn đường, cứ đi theo “định hướng” của ai đó, lâu dần sẽ bị thong manh.
Ðổ băng keo vào miệng thiên hạ, sẽ khiến người ta không nói được. Người ta không nói được, khiến ta không phải tranh biện với ai. Không phải tranh biện với ai, lâu dần lưỡi ta sẽ cứng lại. Lúc đó, ta ăn nói giống như 1 kẻ ngây ngô, thiểu năng về trí tuệ. “Ðè đầu cưỡi cổ” thiên hạ, những tưởng mình giỏi giang và lấy làm đắc ý. Ðâu hay: Ngồi trên lưng người khác, chân tay ta lâu ngày không phải hoạt động, cơ của nó sẽ teo đi.
Trên con tàu vũ trụ, do được điều kiện không trọng lượng nâng đỡ, xương của phi hành gia không phải làm việc như bình thường. Lâu dần, nó sẽ bị thoái hóa. Trở về mặt đất, cần phải có thời gian và chế độ riêng để nó phục hồi… Khác gì những tổng công ty, những tập đoàn kinh tế nhà nước. Chúng hoạt động, mà không dựa vào thực lực của mình. Chúng tồn tại, dựa trên sự bú mớm vào ngân sách nhà nước. Trước sau, chúng cũng phải chết. Ðó là những sự thực hiển nhiên.




Tương tự, bộ phận sinh dục của con người, khi già-trẻ; ốm-khỏe có tần suất hoạt động khác nhau. Nhưng nói chung, nếu không được “cọ xát”, dẫu có thủ dâm thì nó cũng vẫn sẽ bị suy nhược. Từ đó, u – xơ – ung – nhọt dễ có điều kiện phát sinh. Nghiêm trọng hơn, “bí hạ (thì phải) phá thượng”. Ối anh sẽ bị suy nhược theo nó. Ðó là thường thức cơ bản của phép dưỡng sinh.

4/ Chẳng cứ Việt nam, nhiều nước khác cũng muốn cấm mại dâm. Liệu họ có đạt được mục đích không? Ta hãy thử xét về mặt đạo lí và qui luật cung – cầu:

a/ Với người đi mua dâm:

Xin không nhắc đến “một bộ phận không nhỏ” những kẻ mê tín, chỉ thích đi lùng gái trinh như Lương Quốc Dũng. Cũng không xét đến những bậc nam nhi, vợ con đề huề, thỉnh thoảng vẫn thích đi ăn vụng như Nguyễn Trường Tô. Ở đây, chỉ xét những trường hợp có nhu cầu thật sự và mong nhận được sự thông cảm của những người, mà tối đến, vợ chồng vẫn còn được ôm nhau ngủ. Chẳng hạn: Có người, vợ chết sớm, để lại cho mình những đứa con thơ dại, kháu khỉnh, thông minh. Tuy còn trẻ khỏe, nhưng tình yêu mãnh liệt với người vợ, đã khiến ông ta không muốn đi bước nữa. Ông ta ở vậy để nuôi con. Bởi, chúng là kết tinh tình yêu của họ. Thỉnh thoảng, ông ta muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?
Tôi có quen 2 người cao tuổi. Vợ họ bị ốm liệt giường hàng chục năm trời. Họ dịu dàng chăm sóc vợ. Không hề có một lời phàn nàn, cáu gắt trong chừng ấy năm trời. Họ cũng chẳng ngó ngàng tới bất cứ một người nào khác giới. Nhân cách, tình yêu của họ thật đáng ngưỡng mộ. Trên thế gian này, hỏi có mấy người được như vậy. Ðặt giả thiết: Thỉnh thoảng, họ muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có được coi là chính đáng và có nên thông cảm không?
“Tốt mái, hại trống" câu này ai cũng biết. Chắc chắn, ông cũng quen nhiều bà quan chức. Họ ăn lắm, tẩm bổ nhiều, béo như con trâu trương. Gia đình họ, nếu sống thủy chung, ông chồng “má hóp đít tóp” là điều chẳng phải nghi ngờ. Ngược lại, có những ông chồng khỏe đến phát sợ. Có thể “nhất dạ, ngũ giao…”. Vợ khỏe cũng chẳng chịu nổi, kể chi đến những bà hom hem, bệnh tật. Thế nên, ngày xưa có bà phải tự nguyện “tay bưng trầu, đầu đội lễ” đi hỏi vợ lẽ cho chồng. Mong sao có người, đêm đến nó đỡ đần cho. Nay, làm gì có chế độ đa thê. Không đưa tiền cho người ta đi xả bớt ra, kẻ bị thiệt thòi chính là bà vợ. Nhu cầu ấy, đành rằng là không chính đáng, nhưng có nên thông cảm cho bà vợ của ông ấy không?
Những người nước ngoài sang công tác lâu dài ở Việt nam, do điều kiện, họ không thể mang vợ con theo được. Họ khỏe mạnh, họ có tập quán thoáng đãng về tình dục. Thỉnh thoáng, họ muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?
Có người thiệt thòi toàn diện: Không bảnh trai, văn hóa lùn, hoàn cảnh gia đình lại khó khăn. Không cô gái nào chịu lấy anh ta làm chồng. Nhu cầu kia rõ ràng là vẫn có. Thỉnh thoáng, anh ta muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?
Có những chàng trai, do phấn đấu cho sự nghiệp, nên họ lập gia đình muộn. Họ không muốn gạ gẫm, bồ bịch bất chính với bạn học. Không muốn gạ gẫm, bồ bịch bất chính với “con thày-vợ bạn-gái cơ quan”. Họ cũng không muốn “nhịn” quá lâu. Thỉnh thoáng, họ muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?
Còn nhiều và rất nhiều trường hợp khác nữa. Nhưng sợ phải làm mất thì giờ quý báu của ông, nên tôi không tiện kể thêm.

b/ Với người đi bán dâm:

Thưa ông, tôi có mở quán Karaoke và Xông hơi tại 544 đường Láng – Ðống đa – Hà nội. Dĩ nhiên, trong quán của tôi không có dịch vụ mại dâm. Do đặc thù công việc, tôi phải tiếp xúc hàng ngày với các cháu nhân viên. Xin khẳng định với ông: Không có cháu nào cảm thấy hãnh diện, khi phải làm cái nghề này. Phải đi làm, bởi không có con đường nào khác. Tôi kể ông nghe một trường hợp:
Cách đây hơn chục năm, có 1 cháu đến làm việc ở chỗ tôi. Cháu nó không đẹp, ăn mặc lại giản dị. Nhưng nhiều người thích nó. Ai rủ đi ngủ, cháu cũng đi. Lạ nhất là: kiếm được rất nhiều tiền, nhưng cháu không hề đua đòi, chưng diện.
Tò mò, tôi có hỏi cháu. Nó khóc, rồi dẫn tôi về thăm nhà. Ðến nơi, tôi bàng hoàng. Nhà nó nghèo. Bố mẹ đã già yếu, lại bệnh tật. Các em đã đông, lại còn nhỏ. Nhà cửa, trước kia chỉ là mái lều tranh xiêu vẹo. Ruộng đất không có. Là chị cả, cháu cam chịu hi sinh thân mình, để cứu cả nhà. Cháu nghiến răng xác định: Ra Hà nội để kiếm tiền. Bao nhiêu tiền kiếm được, cháu đều gửi về quê. Trước hết, cho tất cả các em được đi học. Còn lại, để bố mẹ làm ăn và xây được căn nhà cấp 4. Ðối với gia đình cháu, đó là mơ ước, tưởng như không bao giờ là hiện thực. Chuyện của cháu, chỉ bố mẹ biết. Nhưng, khác hẳn với thái độ của những người CS các ông. Họ luôn ân hận, xót xa vì mình không giỏi, nên con cái phải chịu khổ. Sau này, khi nhà cháu đã qua được bước khó khăn, cháu bỏ nghề. Lập gia đinh, cháu lấy người chồng biết rõ và thông cảm với hoàn cảnh của cháu. Về nhà chồng, cháu không có của riêng tư chìm nổi. Trước khi ra đi, cháu nó khóc và nói với tôi: “Con xin vĩnh biệt bố”. Tôi hiểu, mình không được phép khuấy động cuộc sống riêng tư của cháu và sẽ tốt hơn, nếu để quá khứ đau buồn, nó chìm vào quên lãng.
Ông ơi, nhân cách của những CON NGƯỜI ấy, có xứng đáng được ta tôn trọng? Thúy Kiều có vĩ đại bằng cháu không? Ðứng trước cháu, tôi có cảm giác, mình bị lùn đi. Còn ông, ông thấy thế nào?

5/ Bây giờ, với tư cách là người đứng đầu đất nước, xin ông trả lời công khai cho người dân chúng tôi: Các ông luôn gào thét, đòi để “đảng CS được lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối” xã hội Việt nam. Các ông lãnh đạo kiểu gì, mà bao nhiêu nam thanh, nữ tú của chúng ta thất nghiệp. Họ không thể kiếm tiền, để nuôi sống được chính bản thân mình. Nói chi đến gia đình. Không có tiền, đói các ông có cho họ ăn
ăn không? Không có tiền, con cái của họ có được các ông cho đi học không? Không có tiền, ốm đau các ông có cho họ được đến bệnh viện không? Không có tiền, lại thất học và vô nghề nghiệp, các ông có bố trí được công ăn việc làm cho họ không?...
Tất cả các câu hỏi trên, đều có chung câu trả lời. Ðó là “Không”. Là người Việt, ông Chủ tịch không thể không biết câu này “Bụng đói, đầu gối phải bò”. Ðường cùng, các cháu đành mang cái “vốn tự có” ra mà kiếm ăn. Không sung sướng gì đâu, nhục nhã lắm, ông ạ.
Những người CS các ông, quả thật là lũ bất tài, vô dụng. Làm lãnh đạo, mà không lo được cuộc sống tối thiểu về ăn mặc, khám chữa bệnh, học hành, công ăn việc làm cho người dân. Khiến rất nhiều cháu gái, chúng nó phải đi bán thân (18.000 gái Việt ra nước ngoài hành nghề mại dâm mỗi năm; còn Bộ Lao động - thương binh & Xã hội ước tính năm 2013 có 33.000 gái mại dâm, đó là không thèm thống kê ở 2 địa bàn trọng điểm Quất Lâm, Ðồ Sơn). Lẽ ra, người phải ân hận, phải xấu hổ là các ông, là đảng CS. Ðã không biết xấu hổ, lại còn nhâng nháo lên mặt đạo đức khi ra lệnh cấm mại dâm. Ðể mà đổ lỗi, cho rằng mại dâm là tàn dư của chế độ cũ (Chế độ, mà nó sụp đổ cách đây có nhõn 4 chục năm); cho rằng, các cháu phải đi bán thân, bởi chúng nó hư hỏng, lười lao động và thích ăn chơi. Ông Chủ tịch và các quí bà to mồm, ăn no, rửng mỡ ở hội Phụ nữ VN, ở bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có hình dung ra kịch bản này không: Khi các ông cấm riết, các cháu làm nghề mại dâm trên toàn quốc, chúng nó kéo về trụ sở hội Phụ nữ và trương biểu ngữ: “Nhiệt liệt hoan nghênh nhà nước cấm mại dâm (chúng nó hoan nghênh thật lòng đấy, ông ạ) – Xin hãy bố trí công ăn việc làm cho chúng tôi – Nếu không được, hãy nuôi chúng tôi – Nếu không nuôi được chúng tôi, hoặc mặc kệ để chúng tôi đi bán dâm; hoặc các ông, các bà hãy từ chức đi, để chúng tôi bầu những người có tài, có đức lên làm thay – Họ sẽ lo cho chúng tôi”. Lúc đó, các ông, các bà sẽ “xử lý” như thế nào?

6/ Ông ạ, đã có ai nói với ông về những sự thật này chưa:

Nhiều phụ nữ, trẻ em Việt ở độ tuổi vị thành niên, bị gạ gẫm, rồi bị đem bán vào các động mãi dâm ở Campuchia, ở Ma cau...? Nhiều phụ nữ Việt bị bắt cởi trần truồng, cho mấy thằng Ðại Hàn, Trung Quốc, Ðài Loan ngắm nhìn, sờ mó để tuyển… “vợ”? Có phụ nữ Việt bị đặt trong lồng kính để bán đấu giá tại Mã Lai; bị rao bán công khai trên bích chương tại Ðại Hàn? Nhiều phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc, Ðài Loan đã bị đánh đập, bị hành hạ, bị giết. Nhưng, tỉ lệ này còn thấp và ít rủi ro hơn so với lấy chồng Trung Quốc. Tình trạng lấy chồng Trung Quốc, sau đó bị ngược đãi, bị làm vợ tập thể, bị sang tay và vứt ra đường khá phổ biến.

Cuối năm 2013, ba cô dâu Việt Nam là Tô Thị Hà, Trịnh Thị Hoa, Mai Thị Sư được điều trị tại Bệnh viện thần kinh thành phố Phúc Châu, tỉnh Kiến Phúc (chắc là Phúc Kiến) – Trung Quốc. Cả ba người đều là nạn nhân của lấy chồng Trung Quốc. Họ bị đày đọa nhiều năm, cho đến khi thân tàn thì bị đuổi ra khỏi nhà… Có nhiều trường hợp bị đẩy vào động mại dâm, bị khai thác như súc vật cho đến khi bệnh tật, bị chết hoặc điên dại.”.

Báo Dân trí ngày 18/01/2014 đưa tin: “Sự sỉ nhục nhìn từ những cô dâu bị giết”.

Nhân phẩm người phụ nữ Việt xuống cấp. Họ chỉ như một món hàng, bị bọn ngoại quốc, công khai giày vò, làm nhục. Tại ai? Ðó không phải là quốc nhục, thì đối với những người CS, cái gì đáng bị gọi là quốc nhục? Trước thực trạng ấy, với tư cách là nguyên thủ Quốc gia, ông có thấy nhục nhã và xấu hổ không?
Ra ngoài đường thì so vai, rụt cổ, im thin thít, chẳng dám ho he - thể hiện sự hèn hạ vô cùng. Về đến nhà, múa gậy vườn hoang, tỏ rõ bản lĩnh anh hùng nơi xó bếp. Thần dân trông thấy, họ khinh bỉ mãi không thôi. Ðó là nói về tư cách của lũ đê tiện, “khôn nhà dại chợ”.

7/ Cứ coi các cháu phải đi bán dâm, chỉ là đồ chơi trong tay những thằng đàn ông. Xin hỏi ông:
Làm đồ chơi trong tay con trai Việt và làm đồ chơi trong tay bọn đàn ông ngoại quốc, đằng nào đỡ nhục nhã hơn? Không dám mơ có lầu son, gác tía để hành nghề như nàng Kiều. Làm đồ chơi trong nhà nghỉ kín đáo và ngồi vạ vật bên đường, đằng nào làm cho nhà nước đỡ xấu mặt hơn?
Không thể cấm được mại dâm. Vậy, hợp pháp hóa mại dâm + chăm sóc sức khỏe cho các cháu và để mại dâm lén lút, tự phát nguy cơ truyền nhiễm bệnh tật cao, đằng nào nhân đạo hơn?

8/ Tiếp xúc với những thứ chướng tai, gai mắt nơi nhà hàng, tôi không hề thích. Chính vì vậy, tôi và gia đình đầu tư vào làm thủy lợi, vào trồng trọt, vào chăn nuôi. Ai ngờ, tôi bị chính quyền CS đủ cả 4 cấp: Xã – Huyện – Thành phố - Trung ương câu kết với nhau lừa đảo, cướp đoạt trắng tay hơn chục tỉ VND. Mĩ miều, thì nói là “cả hệ thống chính trị” nhà các ông. Còn dân gian, đơn giản hơn nhiều. Chúng tôi nói rằng: “cả lò cả ổ” nhà các ông là 1 lũ khốn nạn, một lũ cướp ngày. Ông Chủ tịch có cách gọi nào khác, “đẹp” hơn để thay thế không?

9/ Thưa ông Chủ tịch, sau khi đọc những loạt bài của tôi, có 1 bác nào đó quan tâm, gọi điện hỏi tôi có bị cơ quan an ninh làm khó dễ gì không?
Câu trả lời là chưa. Cứ như thể, chưa bao giờ có những bài như thế. Lí do thật đơn giản. Ðơn từ đòi tiền, tôi gửi các ông nhiều lần, nhiều cấp trong hơn chục năm rồi. Nhưng, chính quyền CS của các ông vẫn giả câm, giả điếc. Ðể tránh tiếp xúc, các ông học những con chuột cống, chui sâu vào trong hang. Bị hun bao nhiêu là khói, nhưng với bản lĩnh cao cường, các ông vẫn chưa chịu chui ra. Bởi, chui ra tiếp xúc là phải nói đến chuyện trả tiền. Ðối với các ông, thà bị nghe chửi, thà bị người khác hạ nhục, thậm chí bị chết vì ngạt khói, còn hơn là phải trả lại những đồng tiền ăn cướp.

Ðây cũng là nét “đặc thù” rất riêng về Nhân quyền của chính quyền CS Việt nam.

Tôi tin lần này, lượng khói mà tôi quạt vào hang vẫn chưa đủ “đô”, nên các ông chưa chịu chui ra đâu. Các ông vẫn coi như không có nó và hiển nhiên, các ông sẽ không sờ mó đến tôi cũng như cửa hàng của tôi. Về việc này, xin cảm ơn ông Chủ tịch trước. Nhưng, những lần sau, lượng khói sẽ tăng lên. Không chịu được thì hãy bò ra. Ðừng cố thủ. Chết, uổng.

Lần sau, xin hầu chuyện ông Chủ tịch với đề tài “Dưới giác độ của nền văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ nghĩa CS ở Việt nam, những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó”. Ðề tài này, cũng không đến nỗi khô khan lắm đâu. Nội dung của nó, tuy hơi dài, nhưng “Cơm ngon, (thì hãy) ăn làm nhiều bữa”. Lo gì. Ông có muốn nghe không? Có muốn cử những tay lí luận hàng đầu của đảng CS vào tranh biện công khai và thẳng thắn không? Xin ông: Chớ có cho đội ngũ Dư luận viên dốt nát cộng với mớ lí luận cùn nhập cuộc và nhớ đừng có dùng bạo lực như lũ khùng điên. Bọn chúng, khi đuối lí, chỉ có mỗi một cách, đó là giơ nắm đấm lên. Ðừng học lũ mất dạy đó, ông ạ.
Chào ông.

Nguyễn Tiến Dân









No comments:
CỜ VÀNG TẠI ONTARIO
Quốc Hội bang Ontario Canada rợp bóng cờ  Vàng


Ngày 22/04/2016, Quốc Hội bang Ontario Canada đã công bố văn bản HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO. Trước Dân biểu Julia Munro cho biết các dân biểu được khuyến khích đeo khăn quàng cờ vàng di sản của cộng đồng người Việt tại Canada.
Xem toàn Quốc Hội bang Ontario Canada https://www.facebook.com/CONGHOATHOIBAO/videos/1721695811402240/
Xem bà Dân biểu Julia Munro phát biểu https://www.facebook.com/CONGHOATHOIBAO/videos/1721721148066373/


alt
__._,_.___

THẠCH ĐẠT LANG * CÁ CHẾT



Thạch Đạt Lang (Danlambao) - Mấy ngày vừa qua, tin tức về việc cá chết hàng loạt, trôi dạt vào bờ tại nhiều nơi trên bờ biển Việt Nam ở 4 tỉnh miền Trung từ khu công nghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh) qua Quảng Bình, Quảng Trị đến phía Nam tỉnh Thừa Thiên, Huế được loan báo dồn dập trên nhiều tờ báo online trong và ngoài nước, kể cả các tờ báo lề phải trong nước như Tuổi Trẻ, Thanh Niên…

Đọc những tin tức này, nhìn những hình ảnh cá đủ các loại nằm chết la liệt trên các bờ biển, đầu óc tôi tê liệt, không còn suy nghĩ được điều gì. Tôi muốn viết ra điều gì đó để biểu lộ sự tức giận, căm phẫn nhưng quả thật không biết mình nên bắt đầu từ đâu.



Thôi thì nghĩ được điều gì viết điều đó. Bài viết không nói đến những nguyên nhân còn đang được điều tra, tìm hiểu, chỉ nói đến sự im lặng một cách kỳ lạ, khó hiểu của 4 người lãnh đạo cao nhất trong chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay là Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thị Kim Ngân.



Bốn nhân vật lãnh đạo đất nước này hoàn toàn im lặng trước một biến cố mang tầm vóc quốc gia đang gây chấn động trong dân chúng. Vì lý do gì?


Sự viêc xẩy ra đã hơn nửa tháng, từ những phát hiện đầu tiên về đường ống dẫn thải chất độc màu vàng dài 1,5 km, đường kính 1,1m ở khu công nghiệp Vũng Áng Formosa,liên tục phun chất độc ra biển, lẽ ra phải được báo động nhanh chóng và có biện pháp tức khắc để ngăn chận thiệt hại, ô nhiễm môi trường nhưng không có cơ quan chức năng nào quan tâm hay phản ứng mà chỉ báo cáo, xin chỉ thị. (1)


Thiệt hại về kinh tế cho 4 tỉnh dọc theo ven biển là bao nhiêu? Chưa ai dự đoán được nhưng chắc không dưới con số vài tỷ đô la Mỹ. Tuy nhiên ảnh hưởng môi trường mới quan trọng, chắc chắn sẽ kéo dài vài chục năm, nếu cá chết do nước biển bị nhiễm độc bởi nguồn nước thải từ khu công nghiệp Vũng Áng. Thiếu phương tiện, tài chánh, chuyên môn, kỹ thuật... việc tái tạo môi sinh là điều nan giải.



Nghĩ xa hơn, đời sống những ngư dân trong các vùng biển này sẽ ra sao trong thời gian sắp tới? Những sa sút về thu nhập trong gia đình khi không còn đánh cá được nữa sẽ dẫn tới xáo trộn kinh tế trong xã hội, trở thành phản ứng dây chuyền. Thất nghiệp, đói kém sẽ tăng, ngư dân sẽ rời bỏ làng mạc, tràn về thành phố, đưa tới tình trạng trộm cướp là điều khó tránh khỏi khi họ không tìm được việc làm hay phương tiện sinh nhai khác.


Chuyện quốc gia đại sự, không ai trong tứ đầu chế Trọng, Phúc, Quang, Ngân quan tâm, chỉ thấy 2 ông Đinh La Thăng và Nguyễn Xuân Phúc thi nhau lên tiếng trong vụ quán cà phê Xin Chào bị kết án vi phạm hình sự vì khai trương với giấy phép trễ 5 ngày.



Giải quyết một việc chỉ cần viên chức chuyên môn ở cấp quận, huyện lại phải lụy đến 2 nhân vật cao cấp nằm trong bộ chính trị, một là thủ tướng, một là bí thư thành ủy. Thật không còn biết dùng ngôn từ nào để diễn tả khả năng lãnh đạo, sự hiểu biết tối thiểu của người cộng sản.



Lãnh đạo quốc gia ở các nước tự do, dân chủ như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật, Nam Hàn... khi có biến cố trọng đại thì dù đang nghỉ hè hay đi công du ở hải ngoại cũng bỏ ngang, trở về nước để họp nội các, tìm biện pháp, lên truyền hình thông báo đường lối của chính phủ, trấn an, chia buồn với dân chúng.


Lãnh đạo của cộng sản Việt Nam thì ngược lại, khi có biến cố trọng đại như vụ giàn khoan HD 981 của Tầu cộng năm 2014 xâm phạm lãnh hải Việt Nam thì trốn chui trốn nhủi, câm như hến, không một người nào ló mặt ra hay có một lời nói nào để động viên, bày tỏ sự quan tâm của chính phủ đến biến động.



Chắc chắn Phú Trọng, Xuân Phúc, Đại Quang, Kim Ngân phải biết rõ sự việc cá chết hàng loạt nhưng họ không lên tiếng, chỉ cho một đàn em, thứ trưởng bộ Tài Nguyên và Môi Trường tuyên bố một cách ngu xuẩn là cá chết hàng loạt do hiện tượng thủy văn, nước biển nóng lên và thiếu oxy trong khi đã có những báo cáo về vụ xả chất thải độc hai ở Vũng Áng.


Tại sao? Chẳng qua khu công nghiệp Formosa do Tầu cộng tài trợ toàn bộ. Ra lệnh cho thuộc cấp điều tra, "làm rõ vụ việc" thì đụng chạm mạnh đến ông bạn láng giềng tham lam, hung ác, nham hiểm đang chống lưng cho chế độ.


Ngày 22.04.2016, hơn nửa tháng sau khi có những tin tức về cá chết hàng loạt tại bờ biển Hà Tĩnh nơi có khu công nghiệp Formosa, Nguyễn Phú Trọng thăm khu dân cư mẫu xã Thạch Văn và khu công nghiệp tại đó, đồng thời làm việc với ban chấp hành tỉnh bộ nhưng hoàn toàn không hề bước chân ra biển xem tình hình cá chết ra sao. (2)


Sự lẩn tránh trách nhiệm, ngậm miệng ăn tiền nói lên bản chất hèn hạ, khốn nạn tột cùng của các lãnh đạo trong chế độ cộng sản Việt Nam.


23/4/2016

PHÁT MINH CỦA MYA lE THAI



Mya Le Thai

Các nhà nghiên cứu tại trường Đại Học University of California, Irvine (UCI) vừa khám phá ra cách gia tăng sức mạnh của những dây nano có thể được dùng để tạo ra những cục pin lithium-ion bền đến mức hầu như không bao giờ hỏng.




Mya Le Thai và cùng phát minh sẽ làm thay đổi thế giới.


Người đứng đằng sau khám phá quan trọng có tính cách mạng trong kỹ nghệ pin điện này là cô Mya Le Thai, một nghiên cứu sinh gốc Việt đang chuẩn bị lấy bằng Tiến Sĩ tại Đại Học UCI.




Từ lâu nay, các nhà nghiên cứu vẫn tìm cách sử dụng dây nano trong pin điện, bởi vì những sợi này mỏng hơn sợi tóc người hàng ngàn lần, có tính dẫn điện tốt và có diện tích bề mặt lớn để chứa cũng như truyền hạt điện tử. Vấn đề họ gặp phải chính là, dây nano cực kỳ mỏng manh và nhanh chóng bị phá hủy sau nhiều lần mất điện và nạp điện.





Mya Le Thai giải bài toán về tính dễ vỡ này bằng cách bọc một sợi nano vàng trong một lớp vỏ manganese dioxide, rồi gói toàn bộ trong một chất điện phân làm bằng một chất gel giống như Plexiglas. Kết hợp này đã giúp cho sợi nano bên trong trở nên bền vững hơn nhiều lần.



Phát minh này được công bố hôm Thứ Năm tuần này trong Bản Tin Năng Lượng của Hiệp Hội Hóa Học Mỹ.





Bản tin dẫn lời ông Reginald Penner, Trưởng khoa Hóa Học tại UCI, nói rằng trong những thí nghiệm của mình, Mya Le Thai đã nạp đi nạp lại cấu trúc sợi nano do cô chế tạo hàng trăm ngàn lần. Ông Penner cho biết, thông thường loại sợi này chỉ nạp chừng 6-7,000 lần là bị hủy.


Kết quả của phát minh này là những cục pin điện bền cả một đời người sẽ được dùng trong máy điện toán, điện thoại thông minh, đồ gia dụng, xe hơi và cả phi thuyền.





Mya Le Thai đã nghiên cứu về công nghệ nano trong chương trình cử nhân tại Đại Học UCLA. Cô làm trưởng phụ tá giáo sư tại UCI trong hơn 2 năm sau đó. Năm 2015, cô đến Washington D.C. làm việc tại Trung Tâm Nghiên Cứu Năng Lượng Tiên Phong thuộc Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ, trước khi trở về lại UCI đảm nhận một số công việc tổ chức cho các ban nghiên cứu về công nghệ nano cho trường đại học.



Hiện nay Mya Le Thai đang theo đuổi chương trình Tiến Sĩ Hóa Học Vật Lý tại UCI.


Nhất Lang


***


UCI chemists create battery technology with off-the-charts charging capacity





https://www.youtube.com/watch?v=lzFzBpwl8aU



Irvine, Calif., April 20, 2016 — University of California, Irvine researchers have invented nanowire-based battery material that can be recharged hundreds of thousands of times, moving us closer to a battery that would never require replacement. The breakthrough work could lead to commercial batteries with greatly lengthened lifespans for computers, smartphones, appliances, cars and spacecraft.
Scientists have long sought to use nanowires in batteries. Thousands of times thinner than a human hair, they’re highly conductive and feature a large surface area for the storage and transfer of electrons. However, these filaments are extremely fragile and don’t hold up well to repeated discharging and recharging, or cycling. In a typical lithium-ion battery, they expand and grow brittle, which leads to cracking.
UCI researchers have solved this problem by coating a gold nanowire in a manganese dioxide shell and encasing the assembly in an electrolyte made of a Plexiglas-like gel. The combination is reliable and resistant to failure.
The study leader, UCI doctoral candidate Mya Le Thai, cycled the testing electrode up to 200,000 times over three months without detecting any loss of capacity or power and without fracturing any nanowires. The findings were published today in the American Chemical Society’s Energy Letters.


Hard work combined with serendipity paid off in this case, according to senior author Reginald Penner.



“Mya was playing around, and she coated this whole thing with a very thin gel layer and started to cycle it,” said Penner, chair of UCI’s chemistry department. “She discovered that just by using this gel, she could cycle it hundreds of thousands of times without losing any capacity.”


“That was crazy,” he added, “because these things typically die in dramatic fashion after 5,000 or 6,000 or 7,000 cycles at most.”


The researchers think the goo plasticizes the metal oxide in the battery and gives it flexibility, preventing cracking.


“The coated electrode holds its shape much better, making it a more reliable option,” Thai said. “This research proves that a nanowire-based battery electrode can have a long lifetime and that we can make these kinds of batteries a reality.”


The study was conducted in coordination with the Nanostructures for Electrical Energy Storage Energy Frontier Research Center at the University of Maryland, with funding from the Basic Energy Sciences division of the U.S. Department of Energy.


GIÃ TỪ PHAN LAC PHÚC


Ông Phan Lạc Phúc qua đời bên Úc. 

Tin buồn loan báo từ ngày thứ hai 25 tháng 4-2016, bác Phan Lạc Phúc bị đột quỵ đã qua đời. Hưởng thọ 88 tuổi. Thực ra bác đã mất ngay tại nhà, cấp cứu đưa vào nhà thương giữ cho bệnh nhân sống bằng các ống trợ sinh. Chờ các con về đông đủ sẽ rút ra để có thể chính thức giã từ sự sống. Nhiều thân hữu trên thế giới đã biết tin. Chúng tôi gửi đến các bạn trong danh sách riêng để cùng cầu nguyện cho bác Phan Lạc Phúc. Tìm trên Internet với tên Phan Lạc Phúc các bạn sẽ thấy toàn là những bài bác viết đầy chuyện tử tế, nhân hậu để lại cho chúng ta.. Tôi là độc giả của bác từ Việt Nam. Rồi khi ra tù qua Úc, bác Phúc tiếp tục viết Tạp Ghi chuyện xa gần quanh ta viết cho bạn bè. Tác giả là con người tử tế. Viết toàn chuyện tử tế về những anh em tử tế trong cuộc đời tử tế. Sự nhân hậu tử tế thể hiện trong văn phong cả chuyện trong tù. Đối với bác Phúc có cả những tay cai tù và ngay cả trưởng trại tù cũng có người tử tế. Bác viết về chuyện người coi trại tù khi nói chuyện với những tù cải tạo gọi là các ông. Chuyện chưa từng có. Bác Phúc đặt tên người tù nhẩy Bắc Nguyễn Hữu Luyện là Người Tù Kiệt Xuất.



Riêng tôi mấy năm sau này bác Phúc nghỉ viết lại trở thành độc giả của Giao Chỉ. Tôi hết sức hân hạnh. Chúng tôi tao ngộ bên Úc nhân dịp được báo Việt Luận mời qua gặp độc giả. Trong đó có vị độc giả thân yêu của tôi là bác Phúc. Sau đó hàng tháng bác Phúc chuyện trò với chúng tôi qua điện thoại. Sự khích lệ của độc giả đặc biệt như nhà văn Phan Lạc Phúc quả thực là niềm hân hạnh cho tác giả Giao Chỉ.
Tôi có khá nhiều độc giả cao niên, nhưng hiểu nhau và nói với nhau những lời tử tế thương yêu, tôi vẫn chờ đợi ở bác Phan Lạc Phúc. Lần qua Úc năm xưa, bác Phúc dẫn vợ chồng tôi vào thăm bác gái trong nhà dưỡng lão. Bác trai cầm gói khoai đưa cho bác gái nói rằng. Hôm nay mình phải đi ăn trưa với ông bà khách từ Mỹ qua. Mẹ nó ăn cơm xong dùng củ khoai nầy tráng miệng. Người vợ thương yêu của bác Phuc cười rất hiền lành mà gật đầu. Khách viễn phương từ Mỹ qua cầm tay bác Phúc gái lắc nhẹ. Hình ảnh này chúng tôi không bao giờ quên được. Bác Phan Lạc Phúc là người thông thái văn chương kim cổ. Giỏi Pháp văn và cả Hán tự. Nhưng tinh thần hoài cổ vẫn tràn ngập trong lòng. Nói thực ra đời sống của bác vẫn đầy tính chất nông thôn. Chữ dùng cho đúng bác là người nhà quê mà Nguyễn Bính thường dùng chữ CHÂN QUÊ.
Con người chân quê đó tôi hết sức kính trọng và yêu mến. Thôi thế từ nay sẽ không còn tiếng nói viễn liên từ phía dưới địa cầu gọi cho Giao Chỉ với những lời khích lệ chân tình.
Dù tuổi thọ của bác bao nhiêu, tôi cũng không quan tâm. Thật tình, tôi chỉ muốn ông sống mãi để khen ngợi công việc của chúng tôi. Ở cái tuổi nầy tiền tài danh vọng rồi cũng sẽ qua đi. Lời khích lệ của tri kỷ làm ta sống được mỗi tuần. Nhìn đi nhìn lại, bạn bè hiểu nhau lần lượt ra di. Biết ai chia xẻ từ nay đến ngày 30 tháng từ năm tới. Hai giờ đêm qua tôi trao đổi đôi lời với bác Văn Quang tại Việt Nam có nhắc đến bác Lô Răng Phan Lạc Phúc. Lại sắp làm lễ tưởng niệm cho Nguyễn Ngọc Bích, cũng là một người tử tế đã làm toàn chuyện tử tế suốt 40 năm qua. Còn chuẩn bị lễ phủ cờ vàng cho mũ đỏ Hoàng Tích Hữu Ái. Con người một đời ngang dọc đang nằm chờ nhưng giây phút cuối vẫn còn thắc mắc không biết giờ này tổ quốc ở đâu. Ra đi ở Sacramento không biết tổ quốc có cử ai đến phủ cho ta một là cờ. Nhưng lá cờ tử tế kỳ này phải dành cho Phan Lạc Phúc ở bên Úc. Lá cờ dành cho Giao Chỉ để sẵn tại Việt Museum. Lá cờ nào cho Văn Quang ở Sài Gòn. Có lẽ sẽ phủ trên Internet.
Xin xem tin về bác Phúc dưới đây để biết ông đã ra đi như thế nào
****************************
Nhà báo Phan Lạc Phúc
hấp hối trên giường bệnh!
Nhà báo Phan Lạc Phúc, cựu chủ bút Nhật báo Tiền Tuyến (tiếng nói của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa), nổi danh qua bút hiệu “Ký giả Lô Răng” trước 1975, và nay là các bút ký “Bạn Bè Gần Xa” - đã lâm trọng bịnh, khi bị đột qụy tại nhà riêng ở vùng Bonnyrigg NSW. Australia.
Tối thứ Hai 25.4.2016 vừa qua, cháu ngoại thấy điện trong phòng của ông vẫn còn để sáng, dù lúc ấy đã hơn 11 giờ khuya. Bước vào định tắt điện, và phát giác ông đã nằm bất động trên vũng máu, vội gọi mẹ là bà Phan Hồng Hà.

Bởi nhà gần bệnh viện Liverpool nên xe cứu thương đến ngay chỉ sau mươi phút, nhưng vẫn không cứu chữa kịp, bởi cú đột qụy mạnh đã quật ông té ngã, khiến một phần xương hàm bên trái bị bể vỡ, và máu tràn ra khắp miệng, mũi, tai và mắt!

Hiện ông đang nằm tại Bệnh viện Liverpool và thở nhờ ống trợ sinh. Bác sĩ cho biết máu đã vỡ tràn trong óc, nếu mổ cũng không cũng cứu chữa được! Với lại thời gian ông bị đột qụy đã quá lâu không ai biết, khiến não không còn hoạt động. Bà Hồng Hà cho biết: “Đúng ra bố đã đi rồi! Nhưng nhà xin để ống trợ thở để chờ chị Cần ở bên Mỹ về”. Bà Phan Tú Cần là trưởng nữ của nhà văn Phan Lạc Phúc, thứ Năm 28.4 này từ California sẽ về đến Sydney, và sau đó ống trợ sinh sẽ được rút. Bác sĩ cho biết, bệnh nhân có thể ra đi bất cứ lúc nào, kể cả trước khi ống trợ sinh được tháo bỏ.

Nhà báo Phan Lạc Phúc sinh năm 1928, năm nay đã 88 tuổi, tuy vậy sức khoẻ của ông vẫn rất sung mãn. Ông vẫn thường tham gia các sinh hoạt Cộng đồng, và đến nursing home thăm vợ hàng tuần. Bà Phúc chỉ kém ông một tuổi, nhưng đã phải vào nhà hưu dưỡng ở Cabramatta mấy năm nay, và tay chân không còn cử động! Bà HồngHà cho biết: “Tụi cháu không dám báo cho mẹ biết, vì mẹ có thể đi theo bố ngay nếu nghe tin!”
Ông Phan Lạc Phúc trước khi bị đột qụy mấy tiếng còn nói chuyện trên viber với nhà văn Phan Lạc Tiếp, là em ruột của ông hiện định cư ở Mỹ. Gia đình cũng không dám báo tin dữ cho ông Tiếp, bởi sợ ảnh hưởng đến sức khoẻ của ông chú.

Được biết, cựu Trung tá Phan Lạc Phúc sau 10 năm bị “học tập cải tạo” ở miền Bắc, đã đến Úc đoàn tụ năm 1992 do con cái bảo lãnh. Ngay khi đến Úc ông đã cộng tác với Nhật báo Chiêu Dương do ông Nhất Giang làm chủ bút, bởi ông Nhất Giang đã từng là thuộc cấp của ông Phan Lạc Phúc tại Nhật báo Tiền Tuyến.


CÁNH CÒ * VŨNG ÁNG

7966. Khi Vũng Áng trở thành vũng lầy của Đảng

“Ông Phàm đã làm bể bí mật của Đảng vì tức tối cá nhân: tại sao cho Formosa khai thác trên vùng biển Vũng Áng mà lại cấm xả thải? Vừa muốn lấy tiền cho thuê biển lại vừa muốn có cá là…sao?  Tội nghiệp ông Phàm, tập đoàn của ông làm việc có trả tiền thuê Vũng Áng cho dân đâu mà lại bảo là họ muốn cả hai? Cái phần tiền thuê đã chạy thẳng vào túi của Đảng còn phần cá của nhân dân thì các ông không được phép đụng vào là đúng rồi còn ca cẩm gì nữa”.
____
Cánh Cò
25-4-2016
Vũng Áng là cái tên từng đâm thẳng vào tim người dân Hà Tĩnh từ lâu chứ không phải mới đây, khi vụ cá chết hàng loạt bắt đầu từ ngày 6 tháng 4 tại xã Kỳ Lợi sau đó lan sang các xã Kỳ Hà, Kỳ Ninh gây phẫn nộ cho người dân khắp nước. Vũng Áng hiền lành nay chợt bùng lên như một ngọn lửa, không phải thứ lửa được tô vẽ bằng chiếc áo cách mạng, mà ngọn lửa âm ỉ bấy lâu nay gặp chất dẫn cháy đã rực lên thứ ánh sáng lương tâm, thức tỉnh người dân cả nước vốn âm thầm trước mọi nguy biến của dân tộc. Ngọn lửa Vũng Áng không bao lâu nữa sẽ đốt rụi mọi u mê mà Đảng Cộng sản Việt Nam đang cố lấp liếm che giấu những gì mà họ đã và đang làm cho người dân.
Hơn 250 cây số chiều dài dọc bờ biển 4 tỉnh duyên hải Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế đã chứng kiến hàng chục ngàn tấn cá chết tấp vào bờ. Trong khi báo chí, người dân hớt hải đi tìm nguyên nhân cũng như loan tải những thông tin cần thiết về nhà máy Formosa, nơi bị cho là xả chất thải kịch độc làm môi sinh bị hủy diệt thì Đảng Cộng sản Việt Nam được dẫn đầu bởi ông Nguyễn Phú Trọng cho thấy bất cần sinh mạng cũng như cuộc sống người dân lên tới đỉnh cao nhất của mọi đỉnh cao.

Cá chết hôm nay thì mai đây có thể sẽ được phục hồi bằng hàng tỷ con cá khác theo quy luật sinh tồn của tạo hóa, nhưng cái quan trọng trong biến cố này là hàng loạt các vấn đề như cây kim lâu ngày trong bọc lòi ra cắm sâu vào tay người dân, nhức nhối âm ỉ trước một chính quyền vô trách nhiệm, táng tận lương tâm từ lời nói tới việc làm của bọn tự xưng là đày tớ.
Ngày 22 tháng 4, người đày tớ số má nhất là Nguyễn Phú Trọng vẫn lầm lì như mọi lần, dắt một đoàn đày tớ cộm cán tới thăm và làm việc tại Hà Tĩnh, Vũng Áng nơi đang xảy ra vụ cá chết hàng loạt bắt đầu từ ngày 6 tháng 4 tức là 16 ngày trước. Ông Trọng tới không phải để tìm hiểu vụ cá chết mà để kiểm tra mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, khu dân cư mẫu nông thôn mới và tiến độ dự án Formosa.
Báo chí tường trình vụ này mà không có lấy một lời quan tâm của ông Trọng về diễn biến cá đang chết đầy các bờ biển được xem do nhà máy Vũng Áng xả chất thải vào biển gây ra sự cố. Ông Trọng cùng với phái đoàn Đảng của ông ngày hôm sau tiếp tục quan tâm tới một ông tổ cộng sản khác là Hà Huy Tập để ăn mừng ngày sinh thứ 110 của ông cố Tổng này.
Một lần nữa, các ông Nguyễn Phú Trọng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Văn An, Nguyễn Sinh Hùng ngồi ngây dại trong hội trường, mắt mở to nhìn băng trôn đỏ thắm khắp phòng mà không một lời nhắc nhở cái màu đỏ phủ khắp mọi nơi tại Hà Tĩnh, Vũng Áng cùng các tỉnh miền trung khác. Màu đỏ ấy không phải là màu cờ cộng sản mà là máu cùng nước mắt nhân dân.
Người tại chỗ không thể sinh sống bằng nghể cá còn kẻ ở nơi khác thì nhìn vào đó để thấy rằng tương lai u ám của một Việt Nam bị lệ thuộc quá sâu nặng vào đồng tiền, vào yếu tố nước ngoài do Đảng đang áp đặt lên đất nước mà hệ lụy đầu tiên là mất chủ quyền không cần che dấu.
Những ai bi quan cho rằng nước đã mất vào tay ngoại bang nay có dịp chứng minh lập luận của họ một cách thuyết phục. Chủ quyền quốc gia đã rơi khỏi bàn tay chính phủ, nơi dại diện cho dân chúng, và điều này được báo chí công khai tường thuật không cần lạng lách. Cụ thể nhất là ông Phạm Khánh Ly, vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản thuộc Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn nói với báo chí rằng phái đoàn của ông không được phép vào Vũng Áng để điều tra vì Khu công nghiệp Vũng Áng có yếu tố nước ngoài nên muốn vào phải có giấy phép của trung ương.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã công khai bảo kê cho tập đoàn Formosa bằng các rào cản hành chánh núp dưới hình thức bảo vệ đầu tư nước ngoài thay vì bảo vệ quyền lợi và an ninh quốc gia.
Bên trong dãy hàng rào kiên cố ấy Formosa còn được bảo vệ bởi một thứ quyền lực kiên cố hơn đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng đã cho phép Formosa làm nhiều điều vượt khỏi mọi quy tắc thông thường của một đất nước có chủ quyền bởi vì Đảng tự cho mình là đất nước. Cầm tay Formosa chỉ cho tập đoàn này cách vượt thoát mọi con mắt người dân bằng hàng rào sắt chưa đủ, Đảng đã trói tay luôn những cán bộ ăn lương nhà nước thực hành nhiệm vụ của mình vì một lý do rất đơn giản: Formosa trả lương cho Đảng để bảo vệ nó.
Với 97 tỷ cho phép khai thác trong vòng 70 năm, Formosa bấm chặt cặp môi của Đảng bằng đồng tiền rẻ mạt nhưng Đàng vẫn cúc cung tận tụy bảo vệ nó thì người dân có quyền nghĩ đến một đáp án khác: Phải chăng ông Trọng đã lĩnh cả gói lương hưu do Formosa cấp để đích thân tới Vũng Áng chỉ đạo cho người dân tại đây không nên lo lắng về cái họa Formosa?
Vũng Áng, sau gần một tháng tang thương, sáng hôm nay màu trởi trở nên trong veo đến kỳ lạ. Trong veo vì tấm màn bí ẩn xả chất độc vào biển nay đã được vén lên bởi chính người trong cuộc. Nhân vật trong cuộc ấy có lẽ không hiểu lắm cung cách của Đảng Cộng sản Việt Nam làm từ gần trăm năm qua đó là không nói tới, không bình luận và không xác nhận hay phủ nhận việc của nó làm.
Ông Chu Xuân Phàm – Giám đốc đối ngoại Công ty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã phạm sai lầm nghiêm trọng vì qua mặt “đối tác” của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Trả lời kênh truyền hình VTC News rằng Hà Tĩnh “không thể được cả hai nên phải lựa chọn, hoặc là nhà máy thép, hoặc là cá tôm”.
Chỉ bằng ấy chữ, ông Chu Xuân Phàm đã làm rơi chiếc mặt nạ dày cộm của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua đó người dân thấy rằng Formosa là nơi xả chất thải hủy diệt môi sinh biển là có thật, và cái có thật thứ hai là Đảng đang âm thầm ra sức bao biện cho sự thật này bằng các công bố lững lờ sai trái.
Chỉ một ngày trước khi Chu Xuân Phàm lỡ miệng, ông Võ Tuấn Nhân, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cung cấp thông tin liên quan đến đường ống xả thải nhằm đánh tan nghi vấn là tập đoàn này lắp đặt đường ống xả bất hợp pháp. Ông Tuấn xác nhận “Đường ống xả thải của phía Formosa đi ra biển là được các Bộ ngành cấp phép, chứ không phải là đường ống được lắp đặt lén lút. Trước khi xả thải ra biển, phía Formosa đều phải tuân thủ các quy trình xử lý chất thải một cách chặt chẽ”
Cùng lúc, dàn đồng ca của các tỉnh có cá chết được Đảng cầm cây gậy chỉ huy lên tiếng với lập luận rằng: đã bước đầu xác định cá chết không phải là do dịch bệnh, cũng không phải do nguồn nước bị ô nhiễm. Đến nay tình trạng cá chết đã giảm. Các thông số về môi trường phân tích như nhiệt độ, pH, độ mặn… đều nằm trong giới hạn cho phép.
Ông Phàm đã làm bể bí mật của Đảng vì tức tối cá nhân: tại sao cho Formosa khai thác trên vùng biển Vũng Áng mà lại cấm xả thải? Vừa muốn lấy tiền cho thuê biển lại vừa muốn có cá là…sao?
Tội nghiệp ông Phàm, tập đoàn của ông làm việc có trả tiền thuê Vũng Áng cho dân đâu mà lại bảo là họ muốn cả hai? Cái phần tiền thuê đã chạy thẳng vào túi của Đảng còn phần cá của nhân dân thì các ông không được phép đụng vào là đúng rồi còn ca cẩm gì nữa.
Đóng bài viết này lại, lần đầu tiên không còn buồn như hàng trăm bài viết trước đây. Ít ra dân tôi cũng he hé được đôi mắt của họ một chút để thấy rằng đất nước hôm nay không còn của họ nữa, vậy thì việc gì lại nghe theo cái Đảng đã dâng hiến chủ quyền quốc gia cho ngoại bang, nhất là trong cái cảnh mà Vũng Áng đang trở thành vũng lầy của Đảng?

THƠ CÔ GIÁO HÀ TĨNH


Trần Thị Lam, áo trắng đứng giữa, là giáo viên Trường Chuyên - Hà Tĩnh.



CÔ GIÁO TRẦN THỊ LAM (HÀ TĨNH) BỊ CÔNG AN BẮT, CÓ THỂ BỊ KỶ LUẬT ĐUỔI DẠY. 




Thông tin mới nhất cho biết Cô Giáo dạy Văn trường THPT Chuyên ở Hà Tĩnh, tác giả bài thơ "ĐẤT NƯỚC MÌNH NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH" đã bị Công An mời lên trụ sở sách nhiễu, đe dọa đồng thời đóng cửa Facebook (https://www.facebook.com/an.nhu.775)...

Bài thơ được đăng lên FB vào 20h ngày 25.4.2016. Tới 23h ngày 26.4.2016 đã có hơn 2000 lượt chia sẻ. Bây giờ thì FB của cô ấy đã bị khóa lại.


ĐẤT NƯỚC MÌNH NGộ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn


Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…

Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…

Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…

Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu…

Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…

TRẦN THI LAM

(Hà Tỉnh)

Đất nước.


Nhân bài thơ của cô giáo Lam ở Hà Tỉnh “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” đang làm xúc động cộng đồng mạng, xin mạn phép làm bài thơ nhỏ, tiếp nối nguồn cảm hứng của cô.

Đất nước.

Đất nước mình không những “ngộ” đâu em
Mà phải nói là rất “ngầu” mới đúng
Từ Bắc vô Nam dân không ai cầm súng
Nhưng giết đồng bào là số một em ơi

Người ở quê tưới rau bằng thuốc lạ
Kẻ thị thành dùng hóa chất nuôi heo
Miếng thịt đỏ để mười ngày không thối
Và dân ta cứ thoải mái rao mời

Thế cho nên Vũng Áng cá chết tươi
Thì Sài Gòn chạy ra mua bằng hết
Những chiếc xe to chất đầy cá chết
Vào trong Nam làm nước mắm cho dân

Đất nước mình xem ra rất tương thân
Nhưng chuyện ấy chỉ xảy ra trong đảng
Cán bộ chở che nhau vì ăn chung một ảng
Bất kể nhân dân trắng mắt ngồi chờ

Cho tới khi dân nổi dậy bất ngờ
Thì đảng mới giả vờ…xin lỗi
Em tin đi, dân sẽ cười tha tội
Bởi đất nước mình là một lũ mau quên

Đất nước mình lây nhiễm bệnh mau quên
Nên Vũng Áng cũng chỉ là chuyện nhỏ
Hãy nhìn kỹ cả nước mình bỏ ngỏ
Tàu hay Tây bất kể, tự nhiên vào.

Đất nước mình ngầu lắm mới tự hào
Mẹ liệt sĩ ngắm tượng đài quên đói
Trẻ vùng cao ở truồng chân quên mỏi
Chạy tới trường cho kịp trống điểm danh

Đất nước mình đầy một lũ lưu manh
Lấy tiếng loa phường thay cho súng ống
Dân cứ mãi tin vào ngày mai thơ mộng
Chẳng còn bao xa nên tiếp tục chịu đòn

Đất nước mình có một lũ luồn trôn
Quỳ mọp trước cả tập đoàn quỷ đỏ
Đất nước mình cứ mỗi ngày mỗi nhỏ
Vì đất đai bị chia chát trăm lần.

Đất nước mình vậy đó, cứ lâng lâng
Như say thuốc chạy lòng vòng. . . mãi mãi.
https://www.danluan.org/tin-tuc/20160428/an-ninh-van-hoa-bao-ve-chinh-tri-noi-bo-pa83-thua-nhan-sach-nhieu-co-giao-ha-tinh
 TRẢ LỜI
Em hỏi anh, ta lại cứ hỏi nhau
Nếu chỉ hỏi thế, thì ai trả lời thay được ,
Hơn 80 triệu dân hợp thành tổ quốc
Chỉ có 3 triệu Việt gian, chúng bán cả đất nước mình
Đồng bào ơi! Sao có thể làm thinh
Cúi đầu mãi chịu làm thân nô lệ,
Nuốt nhục, đắng cay ngày ngày như thế
Bảy mươi năm rồi, chưa đủ nữa sao ?
Hãy vùng lên ơi, hỡi đồng bào
Giành quyền sống cho mình,
cho tương lai con cháu
Đừng hỏi nữa, em ơi anh không chịu thấu.
Hãy cùng anh, ta bước xuống đường
Đòi lại những gì đang mất của Quê Hương.






https://youtu.be/TP5yPAUb8c0

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 4 năm 2016


Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh - Thơ Trần Thị Lam - Nhạc Mai Đằng - Tiếng hát Hạt Sương Khuya

 



ĐỊNH NGUYÊN *TÔI MUỐN ĐƯỢC ĐẶT CHÂN TỚI MỸ”



TÔI MUỐN ĐƯỢC ĐẶT CHÂN TỚI MỸ”
ĐỊNH NGUYÊN


Đó là tựa đề bức thư của một bạn trẻ tên Nguyên Giang (30 tuổi), viết từ Sài Gòn, Việt Nam mà tôi đã đọc được trên mạng “net” do một người bạn gởi ( xin đính kèm theo đây ). Nội dung bức thư nầy, ngoài “ước mơ cháy bỏng” được đến Mỹ để “tìm hiểu về nền văn hoá, chính trị, giáo dục, kinh tế của nước nầy”, tác giả Nguyên Giang còn có nhiều câu hỏi muốn nhờ các bậc chú bác ở Mỹ giải thích để cho Nguyên Giang và các bạn trẻ khác ở VN được hiểu biết và thấu rõ .........


Tưởng mọi chuyện đã chìm vào quá khứ sau mấy thập niên qua Myỹ, nhưng bức thư đã gợi hứng để tôi viết bài nầy gọi là tâm tình với bạn Nguyên Giang cũng như các người Việt Nam trong nước.


Trước hết, bạn Nguyên Giang hỏi: “Vì sao rất nhiều đồng bào tôi có mặt ở đây , nơi tòa Đại Sứ Mỹ ! Và sự ra đi nầy kéo dài hơn một thế hệ rồi, mà đến bây giờ hằng ngày đi ngang qua Toà Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn vẫn còn lũ lượt đầy dẫy người chờ đợi một tấm vé đặt chân vào Mỹ Quốc ! Dù đất nước Việt Nam tôi im tiếng súng đã lâu …”.....


Người Việt đến định cư tại Mỹ gồm nhiều thành phần khác nhau, bằng nhiều con đường khác nhau. Từ vượt biên, vượt biển, đoàn tụ, con lai…cho đến chương trình HO, phần lớn ra đi vì một mục đích duy nhất: Tránh sự bức hại của cộng sản !!!!! Đến nay, sau 41 năm, chiến tranh đã hết nhưng nhiều người Việt Nam còn muốn ra đi vì vẫn thấy nghẹt thở , khó sống , “khó thở” với nhà cầm quyền hiện nay. Chế độ CSVN, dù đã thay đổi phần nào, dù có sơn phết dưới bất cứ một màu sắc hoa hoè nào, họ vẫn là một chế độ độc tài, sắt máu , vô nhân nghĩa , vô đạo lý và phi dân tộc.


Một ngày năm bốn (54) cha bỏ quê ta
Chôn đã chôn sâu cắt rốn bao nhiêu đời


…………………………………………………………..


Một ngày 75 con bỏ nước ra đi
Hai mươi năm là hai lần ta biệt xứ…

(1954- cha bỏ quê ra đi , 1975 con bỏ nước ra đi ... / Nhạc Sĩ Phạm Duy)

Đó là thảm cảnh của người Việt Nam từ ngày có cộng sản. Trong lịch sử dân tộc, chưa bao giờ người Việt Nam lại bất chấp tất cả, bất chấp từ mạng sống đến nhà cửa , tài sản , ruộng vườn, quê hương làng xóm… để ồ ạt ra đi , ra đi khỏi Miền Bắc VN và ra đi khỏi đất nước VN như mấy thập niên vừa qua !!!!!!!!..... Dù sinh sau ngày Việt cộng cưỡng chiếm Miền Nam VN năm 1975 , nhưng với thực tế trước mắt, với dư luận rộng rãi từ quần chúng và với các truyền thông khắp mọi nơi thì không có lý nào bạn Nguyên Giang lại không biết và không nghe nói những điều như thế ???!!!!!!


Người Việt đến định cư tại Mỹ như tôi và gia đình tôi khá đông. Và khi đến Mỹ, chúng tôi coi như được “tái sinh” vào một cõi đời mới, rộng mở và tự do !!!!! Đúng , có đầy Tự Do , Dân Chủ , Nhân Bản , Dân Quyền , Nhân Quyền , Công Lý , Bình Đẳng và Nhân Ái !!!!!!! ........


Vào khoảng tháng 5 năm 1990, sau thời gian chờ đợi và hoàn tất mọi thủ tục, gia đình tôi chuẩn bị rời Việt Nam để đi Mỹ. Buổi sáng hôm ấy, ngồi đợi chuyến bay tại phi trường Tân Sơn Nhất chúng tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì sắp tìm được tự do, lo vì biết đâu sẽ có thay đổi, bị trục trặc , bị kẹt ở lại VN vào phút chót !!!! . Dưới chế độ cộng sản chuyện gì cũng có thể xẩy ra !!!!. Đã có người vào đến phi trường liền bị công an , cảnh sát và an ninh Cộng Sản đuổi lui. Lại có kẻ “khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt” khi bị chặn lại tại chân cầu thang máy bay vào phút cuối !!!!! Biết có những trường hợp như thế, chúng tôi rất hồi hộp và bất an tuy đã được vào “phòng cách ly” đợi giờ lên máy bay.... Khi đã ngồi trên máy bay trực chỉ Thái Lan, mặc dầu niềm vui đang tràn ngập tâm can, nhưng nỗi lo vẫn còn đó.... Mãi đến khi rời máy bay, đặt chân lên đất Thái, chúng tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Tôi nói với vợ con tôi: “ Chúng mình thoát rồi em ơi , các con ơi ” !!!!!


Đó là điều mỉa mai nhưng rất thật.


Tại sao từ bỏ quê hương thân yêu và bà con ruột thịt để đến một nơi hoàn toàn xa lạ, “tứ cố vô thân” mà lại gọi là “thoát”? Vâng, chúng tôi không “thoát” quê cha đất tổ và bà con nội ngoại mà “thoát” khỏi chế độ cộng sản, thoát khỏi một chế độ ngoại lai tàn bạo , độc ác và vô nhân tính. Sau khi giật sập chế độ VNCH của Miền Nam thì Cộng Sản VN ra tay đánh gục toàn bộ người miền Nam. .... Với chiến dịch đánh tư sản, đổi tiền, kiểm kê tài sản…của Việt cộng thì người miền Nam trở nên trắng tay, sống trong điêu đứng và sợ hãi. Một người mỗi hoàn cảnh khắc nghiệt và mất mát khác nhau, nhưng có điểm chung là bị mất tự do, nghèo đói và gia đình tan nát !!!!! Bởi vì chúng tôi là những quân nhân, công chức của chế độ VNCH, nên chúng tôi đã phải chịu nhiều cay đắng và tủi nhục hơn ai cả: -- chồng bị đi tù, vợ con nheo nhóc thiếu thốn lại bị chế độ sắt máu mới kỳ thị và ức hiếp..... Sau gần chín năm bị giam và học tập , tôi được ra tù, lúc đó hoàn cảnh lại thê thảm hơn: thêm một miệng ăn trong cảnh khốn khổ, đói rách , túng quẫn , vợ con bữa cháo bữa khoai !!!!!..... Trong thời gian “quản chế”, hằng ngày tôi phải trình diện công an địa phương, làm tạp dịch tại phường…. Hết “quản chế” tôi vẫn chỉ là một phó thường dân thất nghiệp không biết làm gì để sống! Đa số chúng tôi gia nhập đội ngũ xe thồ (xe đạp), xích lô, bốc vác trong điều kiện ăn uống thiếu thốn, sức khoẻ hao mòn. Cuộc sống khốn khó như thế nhưng chúng tôi nào được yên thân. Hễ có biến cố lễ lượt nào quan trọng, chúng tôi bị tập trung về công an phường hay thành phố đề ngừa “phản động”! Thoát được , từ bỏ được cuộc sống bấp bênh, nghèo khổ và đầy đe doạ như thế, chúng tôi không mừng sao được! Tránh được bàn tay sắt máu , độc ác của một chế độ hà khắc , gian tham , nham hiểm như chế độ CSVN thì chúng tôi thật sự đã “thoát” cảnh địa ngục trần gian !!!!!


Khi đến được Mỹ chúng tôi thật sự được đổi đời một cách toàn diện. Trên quê hương Việt Nam, chúng tôi bị những người cầm quyền đồng chủng ghét bỏ , đánh đập , tra tấn , hành hạ , bạc đãi và thù hằn !!!!!!!...... Khi sang đến Mỹ, chúng tôi được những người “dị chủng” tiếp đón nồng hậu, thân mật, chuẩn bị cho chúng tôi mọi thứ chu đáo . Ở Việt Nam, chúng tôi mang thân cựu tù khố rách áo ôm, đi đâu chẳng ai thèm ngó, chiếc xe đạp cà tàng không có mà đi !!!!! ..... Qua Mỹ, năm bảy chiếc xe hơi nghênh đón tại phi trường. Về tới nơi, nhà cửa đã có sẵn. Các hội thiện nguyện đã nhận tiền từ chính phủ Mỹ lo thuê nhà và trang bị mọi phương tiện cho đời sống chúng tôi, từ thực phẩm, đến chăn nệm, bàn ghế, nồi niêu soong chảo, chén bát…Từ những kẻ “vô sản”, phút chốc chúng tôi có tất cả ! Đáng phục và cảm động thay lòng nhân đạo , tình thương , sự giúp đỡ và sự chăm sóc chu đáo của người Mỹ và các người Việt đồng hương chúng ta !!!!!!


Bạn Nguyên Giang viết: “Tôi muốn đến Mỹ xem coi có phải là Thiên Đường không ???? Mà đồng bào tôi, bạn bè tôi sau khi định cư vài năm có trở vể thăm quê, họ như một con người khác! Lịch sự, nhã nhặn! Có kiến thức giỏi giang hơn rất nhiều!!! Tôi tự hỏi điều gì đã làm nên đôi hia bảy dặm đó?”


Dễ hiểu thôi, bạn. Người ta nói: “chế độ nào, quần chúng đó”. Với chủ trương “hồng hơn chuyên”, chế độ CSVN đã đặt mọi ưu tiên vào sự tuyên truyền nhồi sọ ca tụng bác và đảng , một sự ca tụng , tôn thờ ảo tưởng , hư vô và ngu muội !!!!!! Bác và Đảng chỉ có biết ăn cướp , giết người, lọc lừa , gian ác , xảo quyệt mà thôi !!!!! Họ đào tạo các cấp lãnh đạo nhà nước , các thanh niên , thiếu nữ , tuổi trẻ , sinh viên , học sinh và trường học dựa trên ý thức chính trị ĐỎ (hồng) , ĐỎ ( Hồng ) là máu , là phải giết chóc , phải nhuộm máu , làm cho đổ máu , đổ máu nhân dân , đổ máu Dân Tộc ; Màu Đỏ là màu máu của lá cờ cộng sản Tàu Chệt Trung Quốc và màu máu đỏ của lá cờ Cộng Sản Việt Nam !!!!!! ...., kiến thức phổ thông hoặc các ngành nghề chuyên môn (Chuyên) chỉ là thứ yếu , thứ phụ !!!!!! Với chủ trương như thế, làm sao người Việt Nam có kiến thức bằng người ta được ??? Với cái gọi là “bạo lực cách mạng”, CSVN sẵn sàng thủ tiêu, giết chóc , tra tấn , đấu tố , bỏ tù, trù dập…những ai không tuân phục họ. Họ khống chế , thống trị xã hội bằng cách tạo sự nghi ngờ, mâu thuẩn , thù ghét giữa các thành phần dân chúng, kể cả cha mẹ, vợ chồng, con cái trong gia đình.... Với cuộc sống luôn rình rập, sẵn sàng để hại nhau , sát phạt nhau , làm ác nhau như thế thì làm sao người Việt Nam có sự “nhã nhặn”, “lịch sự” , thành thật , tốt đẹp , tử tế với nhau được ????? !!!!!!!!!!!!! ...........


Nước Mỹ chỉ có “chuyên”, không hề có “hồng”. Họ chuộng tự do và dân chủ, không ai có thể buộc họ phải tôn sùng bất cứ một chính phủ hoặc một lãnh tụ nào. Tại Mỹ, mọi người bất cứ tuổi nào cũng có thể đi học. Chính phủ khuyến học bằng cách trợ giúp tài chánh (Finacial Aid). Rất nhiều người Việt tỵ nạn lúc đầu đi học cốt để kiếm tiền, nhưng cũng nhờ đó mà tiến lên, nếu không thì kiến thức cũng được mở rộng. Trường đại học Mỹ chỉ cung cấp kiến thức phổ thông, đào tạo các chuyên gia chuyên môn về các ngành nghề một cách biệt lập và thấu đáo, không hề bị áp lực từ chính quyền, không hề bị nhồi nhét một chủ thuyết chính trị nào..... Vì thế, người Mỹ (kể cả người Mỹ gốc Việt) “có kiến thức giỏi giang” hơn người trong nước là điều quá dễ hiểu....... Và còn có rất nhiều điều khác biệt nữa , nhưng không thể nói hết nơi đây ....... Thí dụ : -- Ở Mỹ , không có các điều đái bậy hay iả bậy bất cứ nơi nào như ở Việt Nam bởi vì hầu như khắp nơi đều có nhà cầu , nhà xí : -- ở trong chợ , trong nhà thờ , dọc các đường sá , trong các trạm xăng , các tiệm tạp hoá , các văn phòng ..... đều có nhà cầu , nhà xí cho dân chúng ........ !!!!!!!!!!! ...........


Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ biến cố nghiệt ngã 30 tháng Tư năm 1975.


Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 ấy, khi chưa có các chương trình đi tái định cư ồ ạt ở Mỹ , nhưng với chính sách phân biệt, kỳ thị , chia rẽ dân tộc của “bên thắng cuộc” thì các hố sâu ngăn cách tách biệt giữa tuổi trẻ cùng dòng giống Lạc Hồng Việt Nam đã hiện rõ: Một bên là con cháu của thành phần “cách mạng”, bên kia là con cháu của “ngụy quân ngụy quyền” và dân Miền Nam “phản động”..... Với chủ trương phân biệt , kỳ thị nầy, con cháu chúng tôi đã bị đẩy ra bên lề xã hội. Một số các con cái lớn tuổi thì bị thất học vì phải cùng với mẹ tần tảo , lặn lội suốt tối ngày để kiếm sống và nuôi cha đang ở tù. Một số các con cái nhỏ tuổi được đi học nhưng bị ghét bỏ , kỳ thị , phân biệt xa lánh. Năm 1977 tôi (khi còn ngồi tù) đã nhận được một lá thư của bà xã (gởi chui) than rằng thằng B., con trai đầu của chúng tôi khi đi học bị các bạn trong lớp tẩy chay , kỳ thị , ghét bỏ nói với nhau rằng : -- " Thằng đó con của ngụy , đừng chơi ” !! Nếu không có sự tuyên truyền nhồi sọ của người lớn, của các đảng viên , các cán bộ Cộng Sản thì con nít 5-6 tuổi, với sự trong trắng ngây thơ của chúng, làm sao chúng biết hành động những điều ấy?! Làm sao chúng có “lập trường thù ghét bạn” rạch ròi như chủ trương của tập đoàn tội ác Mafia Việt cộng nham hiểm , độc hại và phi dân tộc?!!


Thời thế đổi thay, những đứa trẻ bị trù dập và coi rẻ ấy đã cùng cha mẹ rời bỏ đất nước để ra đi thoát khỏi chế độ Cộng Sản ..... Sang đến Mỹ , họ như cá gặp nước, mặc sức tung hoành. Chỉ chưa tới một thập niên, vượt qua mọi trở ngại về ngôn ngữ, đa số họ đã có mặt trong các trường đại học trên khắp nước Mỹ. Hiện nay, sau gần ba thập niên, những đứa trẻ khi còn ở Việt Nam bị bạc đãi, bị hất hủi , bị thất học, hoặc thi đại học đậu nhưng không được phép nhập học vì lý lịch của cha mẹ là ngụy quân ngụy quyền … đã thành công , thành danh và có cuộc sống vững vàng, rực rỡ , tươi sáng .... Ngày nay các con em của người Việt trên đất Mỹ trở thành Tiến sĩ, Bác sĩ y khoa, Dược sĩ, Nha sĩ, Kỹ sư, Luật sư, Thầy giáo cũng như đảm nhiệm các chức vụ lớn , quan trọng ông nầy bà nọ trong các ngành nghề rất nhiều , ở khắp nơi …đếm không hết...... Về giáo dục, nước Mỹ chủ trương đào tạo nhân tài chung, không ưu tiên cho một thành phần nào, tất cả mọi người đều có thể sắp hàng chạy đua. Ai giỏi chạy đến đích thì họ hoan nghênh và xử dụng..... Riêng Cộng Sản VN thì ngược lại, để nắm giữ chính quyền lâu dài, họ có “diện chánh sách” giành ưu tiên cho con cháu cán bộ và đảng viên cộng sản của họ, đảng tội ác Mafia cướp bóc , giết người của họ , các người ngoài Đảng thì rất khó lọt vào...... Nhờ có nền giáo dục trong sáng và công bằng của Mỹ, giới trẻ Việt Nam ở Mỹ đã chen chân dành được những vị trí , những địa vị xứng đáng trong xã hội trong khi một số lớn các người bản xứ lại phải dựa vào trợ cấp xã hội, hoặc đi làm với đồng lương căn bản (vì lười không chịu “chạy”)! .... Hiện nay các thành phần ưu tú , siêu việt có kiến thức cao nhất , có giáo dục và học vấn cao nhất ở Mỹ Quốc ( Hoa Kỳ ) là các con cháu của các Cộng Đồng Việt Nam ở Mỹ !!!!!!!!! ......... Theo tôi, đó mới là thiên đường, là đất hứa thật sự (Promised Land) mà chúng tôi cảm nhận và là những điều mà bạn Nguyên Giang cùng với các bạn tuổi trẻ , sinh viên , học sinh , thanh niên nam nữ và những người khác ở Việt Nam đang muốn biết...............


Giới trẻ Việt Nam tại hải ngoại rất trong sáng, có nhiều kiến thức mang tầm quốc tế và thời đại tân tiến , và đặc biệt họ là những người RẤT TỰ DO, không nô lệ một chủ thuyết hoặc hệ tư tưởng nào. Tuổi trẻ trong nước, lớn lên hấp thụ giáo dục xã hội chủ nghĩa (phải học về chủ thuyết Marxist-Leninist !!!!! đã qúa cũ , qúa lỗi thời , qúa hủ lậu lại bị uổng phí mất rất nhiều thời giờ !!!!!! Thật là Phi lý , vô lý qúa xá !!!!!!!!!), phải làm việc với chế độ CSVN, một chế độ dựa trên chủ thuyết ngoại lai ấy nên có không ít kẻ trong số họ cũng chỉ là những kẻ “bị cầm tù làm nô lệ , làm con mọt , con rận , con trùn trong ý thức hệ cũ rich , lổi thời và hủ lậu ” (Imprisoned in an old ideology/Lý Quang Diệu)....... Đó là chưa kể đến các tệ trạng tham nhũng , hối lộ , đòi ăn tiền , mua quan , bán chức , mua bán các bằng cấp giả mạo , bằng tiến sĩ giấy , tiến sĩ DỞM của Nguyễn phú Trọng , Trần đại Quang , Cử nhân DỞM của Trương tấn Sang ........ v..v........ và ....... v...v............. !!!!!!!!!!!!!!!!!!


Tuổi trẻ Việt Nam tại Mỹ phần lớn có trình độ học vấn cao hơn cha mẹ của họ, đã hoà nhập vào xã hội Mỹ dễ và sâu hơn cha mẹ của họ, đã học hỏi những điều hay trong lối sống Mỹ nhiều hơn cha mẹ họ. Như đã trình bày phần trên, cha mẹ họ đã khác xa so với những người cùng thế hệ ỏ trong nước thì đương nhiên họ phải khác với giới trẻ tại Việt Nam.... Cho dù một số thanh niên nam nữ tại các thành phố trong nước, dựa vào thế lực của cha mẹ là các đảng viên , các cán bộ cao cấp cộng sản , có nhà cao cửa lớn, đua đòi trưng diện nào là “xe khủng”, “điện thoại và đồng hồ xịn”, quần áo bảnh bao hào nhoáng…thì đó cũng chỉ là lớp sơn loè loẹt bên ngoài trước mặt tiền của một căn nhà đang rệu rã , mục nát đầy mối mọt và đầy xú uế bên trong.....


Lớp già chúng tôi, tuy đã thay đổi nhiều nhưng vẫn còn đậm chất Việt Nam, dễ thông cảm với những điều kém văn minh, thiếu lịch sự của người trong nước. Nhưng giới trẻ con em chúng tôi đã Mỹ hoá nhiều, “chất Việt Nam” không còn bao nhiêu .. . Vì vậy , cho nên các lối sống chụp giật, xô bồ , bon chen , cẩu thả , lọc lừa , gian trá , bừa bãi, mất vệ sinh…của người trong nước, kể cả giới trẻ thì họ khó mà dung nạp và hoà đồng được. Đó có thể là một trong những lý do tại sao đa số du học sinh Việt Nam tại Mỹ không muốn về nước sau khi tốt nghiệp từ các Đại Học của Mỹ ......


Xin đừng nghĩ hay chụp mũ cho tôi là tôi nói xấu người trong nước. Xin đừng phủ chụp tôi bêu rếu quê hương. Sự khác biệt giữa người trong nước và kiều bào hải ngoại nói chung là rất rõ nét , rõ ràng. Nguyên nhân của các sự khác biệt ấy cũng rõ ràng không kém. Trước khi có cộng sản, người Việt Nam, kể cả người Việt Nam dưới thời VNCH không có các sự khác biệt như vậy. Chỉ có những người đã sống khá lâu ở trong hai đất nước, trong hai nền văn hoá , trong hai xã hội, hai thể chế chính trị khác biệt của Mỹ và Việt Nam (cộng sản) mới có thể cảm nhận được những điều khác biệt nầy một cách thấu đáo. Nếu đến Mỹ trong một thời gian ngắn để du lịch hoặc thăm viếng, người ta (nhất là giới trẻ) khó mà hiểu hết được.


Nhưng, nếu có thể, bạn Nguyên Giang nên “Cỡi ngựa xem hoa” một chuyến, cũng thích thú và đáng giá lắm. Chúc bạn toại nguyện.

Mùa Tháng Tư, Năm 2016

ĐỊNH NGUYÊN






Tác-giả: Nguyên-Giang




Bài dự thi viết về nước Mỹ gửi từ Sài-Gòn bằng email, được đăng nguyên văn, không thêm bớt! Bài viết ngắn, tác giả 30 tuổi, cho biết: đây là những câu hỏi mong được các chú bác anh em ở Mỹ trả lời!!!



Tôi muốn được đặt chân tới Mỹ!
Đó là điều mơ-ước cháy-bỏng của tôi từ khi biết nhận- thức sau khi rời Trung-Học để bước vào đời! Vì sao ư? Để tôi tìm hiểu về nền văn-hóa, chính-trị, giáo-dục, kinh -ế của nước này. Để tôi tự trả lời cho nhiều câu hỏi cứ thôi-thúc trong đầu mình bao nhiêu năm qua, từ khi tôi biết nhận-thức về đời sống!
Tôi muốn đến Mỹ, để tôi hỏi vì sao đồng-bào tôi có mặt ở đây! Và sự ra đi này kéo dài hơn một thế-hệ rồi, mà đến bây giờ hàng ngày đi ngang Tòa Đại-Sứ Mỹ ở Sài-Gòn vẫn còn lũ-lượt người chờ đợi một tấm vé đặt chân vào Mỹ! Dù đất nước Việt tôi im tiếng súng đã lâu! Từ khi tôi chưa chào đời!!!
Tôi muốn đến Mỹ xem coi có phải đó là Thiên-Đường không? Mà đồng-bào tôi, bạn bè tôi sau khi định-cư vài năm có trở về thăm quê, họ như một con người khác! Lịch-sự, nhã-nhặn! Có kiến-thức giỏi-giang hơn rất nhiều!!! Tôi tự hỏi điều gì đã làm nên đôi hia bảy dăm đó?
Tôi muốn đi để hỏi các cô gái lấy chồng“Việt Kiều Mỹ” niềm vui rạng-ngời hơn các cô gái phải bán thân đi Đài- Loan, Hàn-Quốc, Campuchia?
Tôi muốn đi để thấy, để biết Tổng-Thống Mỹ có phải ông Trời không? Mà sao cả thế-giới phải nghe-ngóng, chờ-đợi mỗi mùa bầu-cử Tổng-Thống Mỹ?
Và tôi muốn đi để hỏi các Chú Bác những chiến-hữu của Ba tôi ngày xưa, được chìa khóa HO để đến thiên-đường nước Mỹ! Có còn nhớ đến bạn bè chiến hữu, quê hương hay không? Mà sao ai cũng chen chân tháo chạy bỏ lại“chùm khế ngọt!" để mà hân-hoan đi làm kẻ lưu-vong???
Tôi muốn gặp những người cùng lứa tuổi tôi là Người Mỹ Gốc Việt để thử xem cách xa hai nửa bán cầu, tuổi trẻ có gì giống và khác nhau?
Cuối cùng, tôi muốn đi để xem vì sao, hấp lực gì mà hàng triệu người Miền Nam đổ xô ra biển không định-hướng đi ra khỏi Việt Nam những năm sau 1975 đến những năm 1990 và tiếp-tục đến bây giờ bằng nhiều cách ?


Nhưng đường đến nước Mỹ với mình chắc xa diệu-vợi ! Thôi thì các Chú, Bác anh em đồng-bào ở Mỹ có ai còn tâm- tình với những người bên này vui lòng trả-lời dùm tôi, một thanh-niên 30 tuổi những câu hỏi vừa nêu, để tôi khỏi khắc- khoải về một nước Mỹ vô cùng lạ-lẫm, và thần-kỳ! Nếu vậy, thì âu cũng là một niềm vui lớn rồi! Chứ chưa dám nghĩ ngày nào đó mình đặt chân đến Mỹ quốc!!!



Mong lắm thay!














Nguyên Giang







**** Ghi Chú Thêm : -- Bạn Nguyên Giang ơi , mấy lúc nầy , các sinh viên , học sinh Việt Nam đang xin vào Mỹ để Du Học nhiều lắm !!!!!!!! Các con cháu của các Cán bộ và các đảng viên cao cấp cũng đua nhau , thi nhau nạp đơn xin vào du học ở Mỹ rất nhiều ..... Các con cháu , thân quyến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vào Mỹ Du học , định cư , sinh sống , mua nhà cửa và các tài sản của họ ở Mỹ rồi ..... Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đã mua hai biệt thự ở miền Nam bang California cho các con của ông , nhất là cho cậu ấm của ông ăn ở và học hành ở Mỹ từ mấy năm nay rồi !!!!! Cô Nguyễn thị Thanh Phượng , con gái của Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng cũng đã ra khỏi Việt Nam để lấy chồng Việt kiều Mỹ và làm ăn , sinh sống ở Mỹ rồi !!!!!! Vậy thì , Đồng bào ơi , hãy dậy mà đi !!!!!! Dậy mà đi , hỡi đồng bào ơi !!!!!!!!!! .............Dậy mà đi , hỡi đồng bào ơi !!!!!!!!!!!!!! .......................

No comments: