Saturday, October 30, 2010

SƠN TRUNG * HỒI KÝ CỦA TRẦN QUANG CƠ





BBC * HỒI KÝ CỦA TRẦN QUANG CƠ
Bộ Văn hóa muốn kiểm soát hồi ký
Hồi ký Trần Quang Cơ trên mạng
Nhiều hồi ký, tự truyện liên quan chính trị đã được phổ biến phi chính thức qua internet
Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam vừa gửi văn bản cho Bộ Chính trị Đảng Cộng sản và Thủ tướng Chính phủ, đề nghị ban hành quy định đối tượng được viết hồi ký, thời điểm viết và những nội dung được viết.

Văn bản số 4993/BVHTT-XB nói thời gian gần đây, một số cán bộ, công chức đã viết hồi ký và tự phổ biến qua nhiều kênh, ở dạng sách hoặc đưa lên mạng internet, trong đó đưa ra một số nhận định, đánh giá "mang tính cá nhân, gây dư luận xấu trong xã hội."

Bộ Văn hóa - Thông tin nói cần đưa việc viết và xuất bản hồi ký, tự truyện vào nề nếp, hạn chế những hậu quả tiêu cực.

'Viết gì, viết lúc nào'

Bộ này đề nghị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành văn bản pháp luật để "điều chỉnh toàn bộ những đối tượng tham gia việc viết và xuất bản hồi ký, tự truyện liên quan đến các vấn đề lịch sử, bí mật công tác và bí mật quốc gia, trong đó quy định cụ thể đối tượng được viết hồi ký, thời điểm viết và những nội dung được viết."

Theo Bộ Văn hóa - Thông tin, một văn bản như vậy sẽ tạo ra khung pháp lý nhằm "chủ động kiểm soát, hạn chế việc tùy tiện công bố bí mật công tác, bí mật quốc gia và có cơ sở để xử lý những đối tượng vi phạm các quy định của pháp luật."

Nhiều cuốn hồi ký không được in chính thức nhưng được lan truyền rộng rãi thời gian qua, có thể kể đến hồi ký của cựu thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ, hay các cuốn của Hoàng Tùng, Trần Thư và Đoàn Duy Thành.

Đề nghị của Bộ Văn hóa - Thông tin cho thấy Đảng Cộng sản muốn hạn chế việc viết hồi ký liên quan nhiều vấn đề nhạy cảm và đồng thời muốn răn đe những người đang và sẽ viết hồi ký trong tương lai.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/12/061226_memoir_proposal.shtml


ĐÔI DÒNG VỀ TÁC GIẢ

Tập hồi ký Hồi ức và Suy nghĩ của ông Trần Quang Cơ (1920–) lưu chuyển trong nước từ đầu năm 2003. Tác giả nguyên là Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao, thành viên Đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Hội nghị Paris (68–73) về Việt Nam.

Trước khi làm việc tại Bộ Ngoại Giao (1954), Trần Quang Cơ là sĩ quan quân đội nhân dân giảng dạy tại trường Cao Đẳng Ngoại Giao. Ông là cán bộ ngoại giao suốt 44 năm (54–97) – 1964 làm bí thư thứ nhất ở Đại Sứ Quán Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Indonesia – 1966 Trần Quang Cơ trở lại Hà Nội, 1976 phụ trách Vụ Bắc Mỹ rồi chuyển sang vụ Âu Châu trước khi sang làm Đại Sứ tại Thái Lan vào năm 1982. Được đưa vào Trung ương đảng cộng sản Việt Nam từ 1986; ròng rã 12 năm kể từ 1979, ông Trần Quang Cơ tham gia các cuộc thương lượng nhằm giải quyết chiến tranh tại Cambodia. Sau chiến tranh Việt Nam, ông tham gia cuộc đàm phán bình thường hoá quan hệ với ba nước Hoa Kỳ, Liên Xô, và Trung Quốc. Tháng hai 1991, ông xin rút ra khỏi danh sách đề cử vào Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Việt Nam khóa VII nhưng không được chấp thuận. Tháng bẩy cùng năm ông gặp Tổng Bí Thư Đỗ Mười xin không nhận chức bộ trưởng ngoại giao thay thế ông Nguyễn Cơ Thạch. Cuối năm 1993, ở Hội nghị giữa nhiệm kỳ, ông tự ý xin rút khỏi Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Việt Nam.

Trong chiều hướng đi tìm những đối thoại thẳng thắn giữa cựu thù, McNamara đề nghị những học giả và cựu lãnh đạo cuộc chiến hai bên cộng sản Việt Nam và Hoa Kỳ cùng ngồi xuống duyệt lại những quyết định trong cuộc chiến nhằm hiểu rõ để khả dĩ rút được những kinh nghiệm lịch sử, thực dụng cho toàn cầu qua “bài học Việt Nam”. Sáu hội nghị như trên đã diễn ra tại Hà Nội từ tháng 11, 1995 đến tháng 2, 1998;Hội nghị thứ 7 thực hiện tại Viện Rockefeller ở Bellagio, Italy.

Ông Trần Quang Cơ, Nguyễn Cơ Thạch và một số học giả, tướng lãnh và cựu lãnh đạo CHXHCN Việt Nam đã tham dự chuỗi hội nghị này, quan trọng nhất là hai hội nghị chính vào tháng 6, 1997 và tháng 2, 1998.

Tập tài liệu này ghi lại nhiều dữ kiện quan trọng về quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa lớn nhỏ, với Hoa Kỳ và khối ASEAN cũng như những tranh chấp trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam.

Ghi lại những thông tin nổi cộm về các vấn đề của Việt Nam cận đại sau hơn bốn mươi năm mắt thấy tai nghe – được giữ kín–mật, chưa bao giờ phổ biến – cùng với những suy nghĩ của một cán bộ cộng sản trung kiên, tập hồi ký này sẽ phần nào giúp các nhà quan sát, những người cầm bút, thêm tài liệu phân tích cục diện Việt Nam những năm sau cuộc nội chiến và những tháng ngày trước mặt.

Dù ở ngàn năm trước hay ngay thời đương đại, quan hệ Việt– Trung lúc nào cũng là nỗi quan ngại của người Việt Nam, nhất là trước những mất mát, thiệt hại, đe dọa lớn đến chủ quyền và tài nguyên Việt Nam trong những năm gần đây dọc đường biên giới phía Bắc cũng như ở Vịnh Bắc Việt và cả vùng Biển Đông của Tổ Quốc; tập tài liệu này chỉ rõ một số hệ quả của tư duy và cách ứng xử của những người có trách nhiệm an dân bảo quốc trong những thập niên cận đại. Đấy là những bài học quý giá cho tất cả mọi người Việt quan tâm đến vận mệnh dân tộc.

Phụ đính, mục lục, tất cả những cước chú và chú thích ở tập tài liệu nhằm giúp người đọc dễ hiểu hơn và để tra cứu thêm khi cần.

Trần Giao Thủy http://www.truyen-thong.org/so14/so14.html



VÀI SUY NGHĨ VỀ TẬP HỒI KÝ
CỦA CỰU THỨ TRƯỞNG NGOẠI GIAO
TRẦN QUANG CƠ

SƠN TRUNG


Cựu thứ trưởng ngoại giao CHXHCN Việt Nam công tác trong ngành ngoại giao rất lâu, 44 năm (1954-1997) nhưng trong tập hồi ký này, ông chỉ nói đến những sự kiện lịch sử từ 1975 cho đến 1991. Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày sơ lược và góp ý vài điểm chính.

I. ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN

Trước tiên là ông cũng như đa số cán bộ cộng sản hết sức ca tụng chiến thắng ở miền Nam năm 1975:
Nước Việt Nam ta trong những năm 70 của thế kỷ 20 đã trải qua những sự kiện to lớn: Hiệp định Paris 1973 về Việt Nam kết thúc cuộc đàm phán “ma-ra-tông” 1968-1973 giữa Việt Nam và Mỹ toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 đã đưa Việt Nam tới đỉnh cao của giải phóng dân tộc và uy tín quốc tế. Thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ không chỉ là một tác nhân đưa đến những thay đổi rất quan trọng trong chiến lược của các nước lớn mà còn làm chuyển đổi cục diện chính trị khu vực Đông Nam Á. (Ch. 1)
Và ông cũng cho rằng Việt Nam lúc bấy giờ rất oai phong, các nước xung quanh đều "nể sợ Việt Nam"... (Ch. 1)

Như ông đã biết, trong giai đoạn trên, chiến tranh lạnh giữa Nga,Trung Quốc, Mỹ đã chấm dứt, Mỹ không cần hiện diện ở Việt Nam nữa, Mỹ rút khỏi Việt Nam:
Bối cảnh quốc tế lúc này rất phức tạp, chiến tranh lạnh đã đi vào giai đoạn cuối, cả 3 nước lớn Liên Xô, Mỹ, Trung Quốc đều có những chuyển đổi về chiến lược, từ chỗ đối đầu quyết liệt với nhau chuyển sang hoà hoãn tay đôi rồi tay ba. Cục diện chính trị luôn biến đổi ở châu Á - Thái Bình Dương tác động trực tiếp đến tiểu khu vực Đông Nam Á và nước Việt Nam ta. (Tựa)

Nếu ông ở trong ngoại giao, biết tình hình thế giới, hẳn ông biết tổng thống Kennedy đã muốn thương thuyết hòa bình, chấm dứt chiến tranh lạnh nhưng phe Lìên Xô không chịu nên cuộc chiến vẫn tiếp diễn. Và trước khi Mỹ tiếp xúc với Trung Quốc, Mỹ đã đàm phán với Liên Xô. Sau khi đàm phán xong với Trung Quốc, Mỹ rút quân.

Và sau chiến tranh Việt Nam, Mỹ bang giao và buôn bán với Trung Quốc. Và trước đó, trong chiến tranh Trung Xô, tại sao Mỹ bênh vực Trung Quốc và đe dọa Liên Xô, sẽ dùng bom hạch tâm tiêu diệt hàng trăm thành phố Liên Xô nếu Liên Xô đánh Trung Quốc. Tại sao Mỹ bênh Trung Quốc? Nếu Mỹ ghét Trung Quốc, sao không nhờ tay Liên Xô tiêu diệt Trung Quốc? Mỹ có mưu kế gì khi bênh vực Trung Quốc và bơm cho con nhái Trung Quốc to thành con bò? Nếu Mỹ đe dọa Liên Xô thì Mỹ sao không tặng cho Việt Nam vài quả bom hạch nhân mà phải chịu rút lui? Như vậy, Mỹ rút lui là vì chiến lược hay vì thua trận ? Chúng ta cũng biết rằng ông đứng vào hàng ngũ cộng sản, chức cao, quyền trọng, phải nói theo tiếng nói của phe ông và thời đại ông, không thể khác.

Hơn nữa, ông không nhận thức rằng dân chúng hai miền Nam Bắc bỏ nước ra đi vì chán ghét cộng sản, vì cộng sản đã bỏ tù, cướp đoạt nhà cửa, miếng cơm manh áo và tài sản của nhân dân hai miền Nam Bắc. Những người như ông thuộc giai cấp mới, được mọi ưu tiên, trong khi nhân dân đói khổ, bị tước đoạt mọi quyền tự do mà thời quân chủ và thực dân, con người vẫn được hưởng ít nhiều.

Vì sống xa quần chúng nhân dân, nên ông không hiểu thực tế chính trị và xã hội Việt Nam. Có lẽ ông cũng biết chính Hồ Chí Minh, Trường Chinh đã giết dân lành và cán bộ trong CCRD , Cải Tạo Công Thương Nghiệp và Chỉnh Đốn Đảng. Sau đó, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt đã tàn sát nhân dân miền Nam , bọn Giải Phóng Miền Nam, và bọn chúng đã cướp tài sản Hoa Kiều khắp nơi, đuổi họ ra khỏi nước khi chúng thi hành chánh sách đánh đuổi Bắc kinh bành trướng? Theo ông cựu thứ trưởng, dân chúng miền Nam Bắc bỏ nước ra đi là do vấn đề xã hội và kinh tế (1). Đó là một điều dối trá, theo giọng điệu tuyên truyền cố hữu của cộng sản, nói trắng thành đen, lừa đảo nhân dân trong nước và thế giới.



II. QUAN HỆ VIỆT MỸ

Trong chương đầu, ông đã nói đến quan hệ Việt Mỹ. Ông cho biết vài tháng sau 4-1975, thông qua Liên Xô, Mỹ ngõ ý muốn đàm phán ngoại giao, và hai bên đã tiến tới đàm phán tại Paris nhưng Việt Nam đòi tiền Mỹ, bắt Mỹ phải trả cho Việt cộng 3, 2 tỷ Mỹ kim tiền bồi thường chiến tranh như Mỹ đã hứa trong bản hiệp định Paris. Tham tiền và già néo đứt dây. Trần Quang Cơ cũng như Dương Danh Dy đều cho là Việt Nam đã bỏ lỡ một cơ hội bằng vàng.

Đến giữa tháng 3 ta nhận tiếp đón Léonard Woodcock, đặc phái viên của tổng thống Mỹ Carter sang Việt Nam. . .Sau chuyến đi thăm mở đường này, hai bên đã thoả thuận mở cuộc đàm phán về bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ tại Paris.. . .Theo chỉ thị đã nhận trước khi đi, ta kiên quyết đòi phải giải quyết “cả gói” (8) 3 vấn đề: ta và Mỹ bình thường hoá quan hệ (bao gồm cả việc bỏ cấm vận và lập quan hệ ngoại giao đầy đủ), ta giúp Mỹ giải quyết vấn đề MIA và Mỹ viện trợ 3,2 tỷ đô-la cho Việt Nam như đã hứa hẹn trước đây. . .

Rõ ràng năm 1977 chính quyền Carter thực sự muốn bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Ngoại trưởng Mỹ C. Vance, ngày 10.1.77 tuyên bố: “Việc tiến tới bình thường hoá quan hệ Mỹ – Việt nam phù hợp với lợi ích của hai nước” Năm 1977 đã có khả năng thực tế để ta bình thường hoá quan hệ với Mỹ nhưng ta đã bỏ qua.(Ch. 1)

Ông đã phê phán quyết định của cộng sản Việt Nam:

Là nhân chứng lịch sử và cũng là người trực tiếp tham gia các hoạt động ngoại giao này với tư cách là vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ Bộ Ngoại giao, trực tiếp tham gia đoàn đàm phán về bình thường hoá quan hệ với Mỹ ở Paris năm 1977, rồi ở Nữu-ước năm 1978, tôi thật sự đau xót vị ta đã bỏ lỡ mất cơ hội củng cố thế đứng của Việt Nam trong hoà bình để tập trung phát triển đất nước sau bao năm chiến tranh, lỡ cơ hội san bằng khoảng cách với các nước cùng khu vực. Trong tập hồi ký của mình (12), Lý Quang Diệu đã nhận xét:Năm 1975 thành phố Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Bangkok. Nhưng nay (năm 1992) nó tụt lại đằng sau tới hơn 20 năm”.


Việc ta từ chối lời đề nghị “bình thường hoá quan hệ không điều kiện” của Mỹ, làm cao trước việc ASEAN ngỏ ý muốn Việt Nam tham gia tổ chức khu vực này, theo tôi, đã đưa lại những hệ quả vô cùng tai hại cho nhân dân và đất nước ta. Liệu Trung Quốc có dám tiếp tay cho bọn diệt chủng Polpot khiêu khích ta và có dám đánh ta năm 1979 nếu như Việt Nam sau Chiến thắng 1975 có một chiến lược “thêm bạn bớt thù” thực sự cầu thị hơn ? Việc bình thường hoá quan hệ với Mỹ và việc gia nhập khối ASEAN mãi ngót 20 năm sau (1995) ta mới thực hiện được một cách khá chật vật.

Theo tôi, tư duy đối ngoại có phần cứng nhắc của ta lúc ấy quả đã không theo kịp bước chuyển biến của chính trị thế giới thể hiện qua sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn sau sự kiện Việt Nam 1975, để dám có những quyết sách linh hoạt kịp thời đem lại lợi ích to lớn lâu dài cho dân tộc ta. Ngược lại, việc ta bỏ lỡ cơ hội bình thường hoá quan hệ với Mỹ lúc này đã khiến Việt Nam gần như đơn độc trước một Trung Quốc đầy tham vọng. (Chương 1)


III. VIỆT NAM & KAMPUCHIA

Cuộc chiến tranh Việt Miên là do Tam Lê ( Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh ) chủ trương. Cùng là cộng sản anh em, tại sao hai bên đánh nhau?
Có nhiều lý do. Lý do thứ nhất là Việt Nam muốn bợp tai Trung Quốc, chống lại Trung Quốc. Đánh Khmer đỏ là đánh Trung Quốc. Cổ nhân có câu " đánh chó phải ngó chủ nhà". Nay Việt Cộng đánh Khmer đỏ tức là đánh Trung Quốc. Tại sao Trung Quốc mà ông Hồ ca tụng là "đồng chí anh em", còn bọn Lê Duẩn lại muốn đánh bạn, phản thầy?


Bởi vì Trung Quốc tuy ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, vẫn muốn hai nước Việt Nam tồn tại. Nói rõ ra, Trung Quốc cấm Việt Cộng xâm chiếm miền Nam. Lê Duẩn không thể từ bỏ việc xâm lăng miền nam cho nên phải chống Trung Quốc. Việc này sẽ nói rõ hơn đoạn dưới về bang giao Trung Cộng với Việt Cộng.

Chống Trung Cộng cả hai mặt. Phía bắc, Việt Cộng đã điều binh đánh Trung Quốc từ 1973 nhưng Việt cộng giấu dân chúng. Còn các binh sĩ vì lệnh cấm, không ai dám hé môi. Họ không thể bưng bít, khi quân Trung Cộng tàn phá Lạng Sơn và các tỉnh biên giới năm 1979. Còn phía Nam, họ đánh Kampuchia.

Lý do thứ hai là vì hào khí anh hùng vô địch sau cuộc thắng Mỹ 1975, Việt Cộng muốn xưng đế, cai trị Đông Dương theo tinh thần vô sản quốc tế của chủ nghĩa đế quốc cộng sản xuyên suốt từ Liên Xô, Trung Quốc đến Việt Nam.

Lý do thứ ba, theo người Mỹ là Việt Cộng theo lệnh Liên Xô chống Trung Quốc. Đó là cuộc chiến tranh ủy nhiệm: Lê Duẩn làm tay sai cho Liên Xô còn Pol Pot làm tay sai cho Trung Quốc. Trần Quang Cơ viết:

Nét đặc trưng của giai đoạn 1975-1978 là Campuchia trở thành tiêu điểm của sự đối đầu giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Việt Nam được Liên Xô ủng hộ. Sự đối đầu ấy trở thành xung đột quân sự ngay từ tháng 5.75 và phát triển lên thành cuộc chiến tranh biên giới Tây-Nam nước ta. Trong khi trả lời phỏng vấn, ngày 8.1.78, Z. Brzezinski, cố vấn an ninh của tổng thống Mỹ, đã nhận định: “Điều lý thú đây là trường hợp đầu tiên của một cuộc chiến tranh qua tay người khác [13] giữa Liên Xô và Trung Quốc: xung đột giữa Việt Nam được Liên Xô ủng hộ và Campuchia được Trung Quốc ủng hộ.” ( Chương 2)

Kết quả là chiếm đuợc Kampuchia nhưng Việt Nam tổn thất về chính trị và kinh tế. Trần Quang Cơ viết:

Như vậy chỉ hơn 4 năm sau khi giải phóng được đất nước, ta lại bị xô đẩy vào cuộc chiến thảm khốc ở Campuchia, đối đầu ngay với Trung Quốc, kẻ đã từng là đồng minh chiến lược của ta trong 30 năm chiến đấu chống xâm lược phương Tây. Sau hai cuộc kháng chiến gian khổ, dân ta mới chỉ được hưởng mùi vị của chiến thắng và hoà bình êm ả chưa đầy 5 năm. Vết thương chiến tranh chưa lành thì đã lâm vào cảnh nửa hoà bình nửa chiến tranh. Chiến tranh chống Mỹ tuy gian khổ khốc liệt song Việt Nam còn có được mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ, còn trong cuộc chiến đấu chống diệt chủng Polpot thì Việt Nam hầu như hoàn toàn cô lập.

Các nước cùng khu vực lo sợ Việt Nam sau khi “hạ xong” Campuchia sẽ phát huy sức mạnh quân sự ra cả Đông Nam Á. Còn Trung Quốc ra sức vu khống “Việt Nam xâm lược Campuchia” và có mưu đồ lập “Liên bang Đông Dương” để làm chủ cả Lào lẫn Campuchia, xoá mờ tính chất “chống diệt chủng” của việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia. (Chương 1)

Trần Quang Cơ đã nói về quan điểm của Đặng Tiểu Bình về chiến tranh Việt Miên:

Chính là thông qua cuộc nói chuyện với Kayson ngày 7.10.89 ở Bắc Kinh mà Đặng Tiểu Bình đã bộc lộ rõ phần nào những tính toán sâu xa của mình đối với Việt Nam: phân hoá Việt -Lào, Việt - Campuchia, Việt – Xô và phân hoá cả nội bộ Việt Nam. Đặng nói với Kayson rằng: Việt Nam đã có biểu hiện chống Trung Quốc từ khi Hồ Chí Minh còn sống; rằng sau khi thắng Mỹ, Lê Duẩn trở mặt chống Trung Quốc, xâm lược Campuchia, Việt Nam đi theo Liên Xô, đưa quân vào Campuchia, nên mới có chuyện Trung Quốc đánh Việt Nam. Lúc đầu Trung Quốc cho là vì Brejnev xúi giục nên Việt Nam xâm lược Campuchia, nhưng chính là do Việt Nam có ý đồ lập Liên bang Đông Dương, không muốn Lào, Campuchia độc lập. Việt Nam chống Trung Quốc vì Trung Quốc là trở ngại cho việc lập Liên bang Đông Dương.(Chương 9)

Ông không nói ra nhưng báo chí trong nước cũng đã nói lên thủ phạm là Lê Duẩn Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh. Chính đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ngăn cản cuộc chiến này, chính vì vậy, ông làm mất lòng Lê Duẩn và Lê Đức Anh nên ông bị chuyển công tác qua ngành " ngừa thai cai đẻ". Ngày xưa, Khổng Minh tấn công thành nhưng Tư Mã Ý đóng chặt cổng thành, Khổng Minh bèn gửi cho Tư Mã Ý khăn yếm đàn bà. Tư Mã Ý vui vẻ mà nhận chứ không nổi điên mở cửa thành xông ra! Bây giờ, Lê Duẩn lại tặng Võ đại tướng chức vụ này, đó cũng là óc trào lộng ghê gớm của Lê Duẩn nhưng Lê Duẩn thâm hơn Khổng Minh ngàn vạn lần vì cái yếm thì lịch sự hơn là cái bao cao su! Và Võ Nguyên Giáp cũng như Tư Mã Ý nén giận cúi đầu thần phục tam Lê dù họ làm nhục ông và chặt tay chân ông cho nên ông mới sống đến đại lễ ngàn năm Thăng Long. (2)

Cuộc tiến công vào Kampuchia của Việt Nam có nhiều bí ẩn, và nhiều động lực thúc đẩy, gây nhiều hậu quả tai hại cho Việt Cộng. Sau 1975, khoảng 1980-1904, quân Viêt Nam Cộng Hòa đêm đêm tấn công các đồn trại quân Việt Cộng tại Miền Nam. Họ đi nghênh ngang hàng đoàn, từ biển lên rừng. Việc này thì nhiều cán bộ và chiến binh cộng sản chiếm đóng tại miền Nam đã biết, và tôi cũng biết qua những người bà con đi bộ đội vào đóng quân tại miền Nam. Một ông lão làm nghề đốn cây cho tôi biết ngày xưa trên rừng đầy Việt Cộng thì nay trên rừng cũng đầy quân Cộng Hòa. . .

Qua một vài bài báo, thiếu tướng Nguyễn Văn Chức cũng cho biết ông đã chỉ huy đoàn quân Cộng Hòa này (3). Chính đoàn quân Cộng Hòa và quân Pol Pot đã tiến đánh các cơ sở cộng sản khiến cho bao nhiêu khu kinh tế mới của Việt Cộng xung quanh ba biên giới đã bị tiêu hủy. Và tôi được biết điều này là do những người đi kinh tế mới kể lại. Từ đó, Việt Cộng hủy bỏ chương trình kinh tế mới và nhân dân miền Nam cũng thoát việc bị đày đi kinh tế mới. Nếu không còn sự kiện này , theo chương trình của Việt Cộng, sau khi ngụy quân, ngụy quyền bị giam , gia đình họ sẽ đi kinh tế mới. Tiếp theo là dân Bắc kỳ di cư, dân Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo,, cựu viên chức. . sẽ đi kinh tế mới ở Kampuchia, Thái Lan. . .

Quân Cộng Hòa chọc giận quân Việt Cộng khiến Việt Cộng phải phản công. Cũng vì ỷ có Liên Xô, yểm trợ và muốn phản thầy, Việt Cộng đã tấn công Kampuchia. Bắt buộc Việt Cộng phải đánh Kampuchia để giữ miền Nam khỏi bị ung thối và sụp đổ. Lê Duẩn và Lê Đức Anh không thể ngồi yên, không thể làm khác. Không thể một chủ nhà nào ngồi yên khi bọn trẻ ném đá, ném phân vào nhà và chửi tam đại nhà ông và nói xấu ông, nào là ông hiếp dâm, ăn trộm, ăn cắp... It nhất ông phải nhảy ra đuổi chúng, có thể ông bợp tai chúng , bóp cổ chúng.. . Lúc đó, xóm giềng xuất hiện can thiệp, có thể họ lôi ông ra bót cảnh sát, tố cáo ông hành hung trẻ con!

Thật vậy, sau khi Việt Cộng chiếm Kampuchia, cả thế giới kết tội Việt Nam từ bậc anh hùng trở thành tên ăn cướp. Trước đó Mỹ muốn bang giao, Việt cộng đòi tiền bồi thường chiến tranh, Mỹ bảo luật pháp Mỹ không cho phép, Quốc hội Mỹ không đông ý, nay nhân vụ này, Mỹ thẳng cánh từ chối trả 3,2 tỷ và hủy bỏ việc bang giao (4). Từ số tiền này, Lê Duẩn nuôi mộng mỗi nhà Việt Nam sẽ có một xe hơi, một TV, một tủ lạnh. . . .Việc phá hủy các khu kinh tế mới đã dẫn đến việc phá hủy công cuộc Liên Xô tái thiết các đồn điền cao su của Pháp ở Việt Nam coi như là món quà Việt Nam dâng quan thầy Liên Xô ( Việc này do hàng vạn dân chúng ngoài Bắc vào Nam kể lại).
Sau khi Việt Cộng chiếm Kampuchia, quân Cộng Hòa rút sang Thái Lan và thiếu tướng Nguyễn Văn Chức sang Mỹ!

Ông cựu thứ trưởng quên nói rằng sau khi hiệp định ký kết về hòa bình Kampuchia, khoảng 1990 quân Việt Cộng giả bộ rút lui còn để lại hàng triệu dân chúng miền Bắc và một số quân đội ẩn náu ở trên đất Kampuchia như trường hợp sau hiệp định Genève, Việt Cộng cho cán binh ở lại hoạt động rồi lập Mặt trận Giải Phóng Miền Nam. Việc cấy người này, bọn Việt Cộng cũng đã thực hiện tại Lào, Thái Lan và Âu Mỹ. Nay nhiều báo chí ngoại quốc nói về cảnh khổ của dân Việt trên xứ Chùa Tháp, mà họ quá đa cảm , không nói rõ những người Việt này là những tên thực dân mới của chủ nghĩa cộng sản. Bọn Việt Cộng đem con bỏ chợ. Họ đem dân qua Kampuchia, bán người ra ngoại quốc lấy tiền rồi bỏ mặc theo chủ trương " đem con bỏ chợ" hoặc vắt chanh bỏ vỏ của họ!

Việc Việt Nam đánh Kampuchia cũng có nhiều bí ẩn khác. Ông thứ trưởng Trần, cho biết Trung Quốc đã hy sinh cộng đảng Mã Lai, giết Pol Pot ( 5), và ông không hiểu sao Liên Xô trước đây thúc đẩy Việt Nam đánh Kampuchia nay lại thờ ơ, Liên Xô và Mỹ tích cực giải quyết vấn đề Kampuchia, và Liên Xô còn đẩy Việt Cộng vào vòng tay sắt của Trung Cộng (6 ). Còn Trung Quốc thì vui sướng cho "rằng ghìm chân Việt Nam ở Campuchia càng lâu càng có lợi cho họ" (ch.2). Trần Quang Cơ cho rằng " Thái Lan giữ một vai trò không nhỏ trong việc cùng Trung Quốc nuôi dưỡng Khmer Đỏ và làm chảy máu Việt Nam bằng vấn đề Campuchia. (Ch.9)
Viết như vậy, không lẽ ông cựu thứ trưởng muốn nói Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc hè nhau giăng bẫy ở Kampuchia cho Việt Cộng nhảy vào mà thương vong?

IV. QUAN HỆ VIỆT NAM TRUNG QUỐC

1. Tại sao Lê Duẩn chống Bắc Kinh bành trướng?

Thời ông Hồ, bọn Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng thường kéo nhau sang Trung Quốc cầu viện và xin chỉ thị như là một thứ tôi tớ nhưng họ lại hãnh diện đó là quan hệ quốc tế vô sản, là tình "đồng chí anh em, núi liền núi, sông liền sông."
Đến thời Lê Duẩn thì hai bên trở mặt thành thù. Đặng Tiểu Bình đã mắng Việt Cộng là bọn "du côn mấy dạy, phải dạy chúng một bài học". Sao vậy?

Lê Duẩn lúc bấy giờ có bà bé tại Trung Quốc nên đi Liên Xô cũng ghé thăm cơ sở hai. Các lần trước đều êm xuôi nhưng lần cuối, Đặng Tiểu Bình không tiếp Lê Duẩn và ra lệnh không cho vũ khí Liên Xô đi vào Trung Quốc để đến Việt Nam. Lê Duẩn về tức giận, ra lệnh mở chiến dịch chống Trung quốc bành trướng. Các viện, sở và trường đại học thi nhau tố "Trung Quốc bá quyền," "Trung quốc sô vanh nước lớn". Tôi cũng đã tham dự các cuộc tố Trung Quốc này. Chửi Trung Quốc đủ danh từ nhưng tôi không nghe họ hài tội Trung Quốc ra, họ không nói rõ tại sao phải đá giò lái Trung Quốc! Tại sao Trung Quốc là nước cộng sản mà nay bị kết tội là bành trướng? Nó bành trướng ở chỗ nào? Tại sao nay ta chống người đồng chí anh em vĩ đại? Nếu Trung Quốc là xấu xa thì xưa nay ta chơi với bọn xấu xa ư? Vậy đảng cộng sản xưa nay là theo ác quỷ sao? Ông Hồ theo Trung Quốc là sai đường lạc lối ư?

Tôi chợt nhớ trước 1975, tôi có đọc một bài báo nói rằng sau hiệp định Geneve ký kết xong xuôi, Chu Ân Lai mở tiệc chiêu đãi hai phái đoàn Việt Nam. Phạm Văn Đồng bước vào phòng, thấy đại diện VNCH liền tức giận bỏ ra về, Chu Ân Lai cười mà nói: Các ông là người Việt Nam cả mà!" .

Trung Quốc bao giờ cũng muốn chiếm Việt Nam. Giúp Hồ Chí Minh là một cách, thuyết phục và đe dọa Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh là một cách. Khi Ngô Đình Diệm bị Mỹ quở trách, NGô Đình Nhu đã nhờ Pháp viện trợ, mà Pháp lúc bấy giờ quá yếu, phải"canh ty" với Trung Quốc,. Sau 1975, nhóm Lê Quốc Túy, Mai Văn Hạnh cũng nhờ vào liên minh này. Mỹ không muốn Pháp và Trung Cộng chiếm Việt Nam nên đã nhờ tay quân lực VNCH giết Ngô Đình Diệm và cộng sản giết Mai Văn Bá, Lê Quốc Quân. . .

(Việc này tôi đã tường thuật trong các bài " Bang giao Việt Cộng" và "Pháp Trung Quốc và Việt Nam" đăng trong BKBĐD, nay thu thập vào Văn Tập-Lich Sử như trình bày ở phần Các đề tài liên hệ ở dưới.)

Nay thì được Trần Quang Cơ hé lộ một phần. Ông cựu thứ trưởng đã nói điều mà xưa nay ít người há miệng, đó là mâu thuẫn giữa Lê Duẩn- Mao Trạch Đông bởi vì Mao và Đặng Tiểu Bình muốn tồn tại hai nước Việt Nam, nhưng Lê Duẩn lại muốn giải phóng miền Nam:

Còn với Trung Quốc, sau khi có Hiệp định Paris 1973, Trung Quốc có lợi ích duy trì nguyên trạng ở Đông Dương, nhất là việc Việt Nam chia cắt thành hai miền dưới hai chế độ chính trị khác nhau là phù hợp với ý đồ lâu dài của họ ở Đông Nam Á. Sau khi đi thăm Trung Quốc về, thượng nghị sĩ Mỹ K.Mansfield báo cáo trước Quốc hội Mỹ (1.2.75): “Trung Quốc tán thành để hai nước Việt Nam tiếp tục tồn tại. Trung Quốc cho rằng một nước Campuchia thống nhất, trung lập là điều chủ yếu trong một Đông Dương ổn định.”(Chương 1)

Mâu thuẫn đó đưa đến chiến tranh Việt Hoa và sau này phát triển thành tham vọng của Trung Cộng chiếm Việt Nam và biển đông. Họ viện trợ cho Việt Nam chẳng qua là để Việt Nam mắc nợ và cấy người vào đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Hồ biết không? Biết chứ nhưng ông vui vẻ chấp nhận như một người muốn thăng quan tiến chức, muốn đắc lợi đã sẵn sàng đem vợ con dâng cho quan thầy và các đại gia. Sau này bọn đàn em của ông theo theo đường lối nô lệ Trung Quốc của ông. Người phạm sai lầm đầu tiên gây ra hậu quả tai họa này chính danh thủ phạm tên là Hồ Chí Minh.

2. Tại sao bọn Nguyễn Văn Linh,Lê Đức Anh, Lê Đức Thọ lại nhượng bộ và đầu hàng Trung Quốc?

(1). Khối Cộng sản sụp đổ:

Từ thời Lê Duẩn, Việt Cộng ôm chân Liên Xô và dựa vào Liên Xô chống Trung Quốc, khinh thường Mỹ và Asean. Lúc Nguyễn Văn Linh lên làm tổng bí thư được it lâu thì Đông Âu sụp đổ và Liên Xô tan rã. Bọn Việt cộng sợ hãi bèn quay sang thần phục Trung quốc.
Trần Quang Cơ viết:

Nhưng rồi sang năm 1989, khi bắt đầu cuộc khủng hoảng trong phe XHCN, một số ngành trong Trung ương và ngay trong Bộ Chính trị lại xuất hiện những ý kiến khác nhau về đánh giá sự kiện Thiên An Môn cũng như đánh giá tình hình Liên Xô - Đông Âu. Lúc này luận điểm được ưa dùng lại là “dù bành trướng thế nào Trung Quốc vẫn là một nước XHCN”.(Ch.4)

Lê Đức Anh chủ trương : “Mỹ và phương Tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc.”(Ch. 14)

Quan điểm này sai lầm vì Trung Quốc và Liên Xô bản chất là một loại thực dân, đế quốc.Hơn nữa, Trung Quốc nay bề ngoài vẫn mang nhãn hiệu XHCN nhưng bản chất là tư bản chủ nghĩa đúng như lời Mao Trạch Đông đã chỉ trích Đặng Tiểu Bình.

(2).Việt cộng đã thất bại quân sự

Lý do chính mà Việt Cộng phải quỳ lạy Trung Quốc, không còn hống hách vì họ đã thất bại trước lực lượng hùng hậu của Trung Quốc. Năm 1979, quân Trung Quốc tiến đánh Việt Nam nhưng sự thực cuộc đọ súng giữa hai bên đã xảy ra từ 1973 (Chương 1). Và từ đó Trung Quốc đã xâm chiếm Việt Nam nhưng Việt Nam im lặng. Không những thế, chúng còn đầu hàng Trung Quốc, cúi đầu thần phục, hết nhượng biển rối đất liền. Trong khi Dương Danh Dy và Vũ Thư Hiên cho biết Trung Quốc xâm lấn Việt Nam từ thời họ lập căn cứ, kho tàng ở biên giới lấy cớ viện trợ cho ông Hồ, vào khoảng 1950, ông Hồ biết nhưng vui vẻ âm thầm dâng đất hối lộ. Còn Trần Quang Cơ cho rằng Trung Quốc đã xâm chiếm Việt Nam từ 1974:

Từ 1973 đã xảy ra những va chạm ở biên giới Việt-Trung. Năm 1974, Trung Quốc chiếm ngon lành nốt phần còn lại ở quần đảo Hoàng Sa của ta. Có người cho rằng chỉ sau khi ta ngã hẳn theo Liên Xô thì Trung Quốc mới chống ta. Song sự thật là các hoạt động thù địch của Trung Quốc đối với Việt Nam đã xảy ra từ trước khi Việt Nam tham gia khối SEV (tháng 6.78) và ký Hiệp ước hữu nghị với Liên Xô (tháng 11.78). Tháng 12.75, sau khi thăm Trung Quốc qua Paris, H.Kissinger nói: “Mỹ đang tính toán việc sử dụng Trung Quốc để hạn chế ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực.” (Ch.1)

Ông Trần Quang Cơ cũng nói đến việc Trung cộng đánh tan hải quân Việt Cộng năm 1988 (7)
Ngày xưa họ kết tội vua Tự Đức đầu hàng, Phan Thanh Giản bán nước, nay đại bại trước lục quân và hải quân Trung cộng, Việt Cộng đầu hàng dâng biển, nhượng đất. Ngoài việc thất bại quân sự mà bề ngoài họ rêu rao đại thắng bốn tên đầu sõ thế giới là Nhật, Pháp Mỹ và Trung Quốc nhưng họ dấu kín không cho nhân dân biết thực trạng thảm thương của đất nước. Cộng thêm đó, bọn Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh đã được Trung Quốc cung cấp tiền bạc và gái , một mặt họ hù dọa tấn công khiến cho bọn này nhắm mắt ký kết các hiệp định bán nước.

3. Thái độ và đường lối của cộng sản

Sau khi Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nội bộ công sản phân hóa, họ có những tâm lý, chủ trương và thái độ khác nhau.

(1). Tâm lý nô lệ Trung Quốc

Cộng sản Việt Nam là một bọn xảo trá và hèn nhát. Dựa vào Liên Xô, Việt Cộng xua quân đánh Kampuchia năm 1979, nhưng than ôi, khi Trung Quốc tiến đánh mấy tỉnh biên giới Việt Nam thì Liên Xô khoanh tay ngồi yên. Chính cái kinh nghiệm này đã khiến Việt Nam thêm sợ Trung Quốc và nghi ngờ Mỹ! Khi Liên Xô hùng mạnh, họ xui Việt Nam chống Trung Quốc , hứa yểm trợ Việt Nam chống Trung Quốc nhưng khi Trung Quốc ra tay, họ im lặng. Sau khi Liên Xô tan rã, Việt Cộng hoàn toàn cô đơn.

Bọn Cộng sản chia làm hai phe, một phe muốn kết thân với các phe ngoài khối cộng sản như Mỹ, Nhật, châu Âu và các nước Asean. Một phe muốn quay về với Trung Cộng.
Trong giai đoạn 1987. đảng Cộng sản đã không còn theo chính sách của Lê Duẩn chống Trung Quốc mà quay sang quỳ lạy Trung Quốc vì tâm lý bọn côn đồ tuy oai dũng bề ngoài nhưng sự thật bên trong họ luôn cần những tay đàn anh bảo vệ. Vì vậy, từ đó, Việt Cộng quay sang cam tâm thần phục Trung Quốc, cầu mong Trung Quốc che chở:

Nhiều ý kiến cho rằng trong khi Trung Quốc đang chống ta trong vấn đề Campuchia và tìm cách lấn chiếm biên giới hải đảo của ta, việc ta quyết định rút quân khỏi Campuchia, sửa Lời nói đầu của Điều lệ Đảng là hữu khuynh trong quan hệ với Trung Quốc. Chủ trương của Bộ Chính trị về giảm tuyên truyền chống đối Trung Quốc cũng không được thực hiện đầy đủ. Ngày 20.5.87, với tinh thần thực sự cầu thị, Bộ Ngoại giao làm tờ trình lên BCT kiến nghị sửa Lời nói đầu của Hiến pháp, bỏ chỗ nói Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất như đã sửa Điều lệ Đảng, mãi tới 26.8.88 Quốc hội mới có nghị quyết thông qua việc sửa này. Có người còn nói mỉa: có phải Ngoại giao định quỳ gối trước Trung Quốc không?” (Ch.4)

Lúc trước, Việt cộng nhờ cậy Liên Xô. Nguyễn Văn Linh theo Gorbachev mà đổi mới chứ chẳng phải y là yêu nước, là nhìn xa thấy rộng. Nhưng khi Đông Âu sụp đổ, Liên Xô rung rinh, bọn Việt Cộng hoảng sợ bèn niu áo Trung Quốc, quỳ mọp dưới chân Trung Quốc, xin tha thứ tội lỗi và thề thốt trung thành.

Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên còn nhấn vào âm mưu của đế quốc Mỹ sau cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu. TBT có ý kiến: “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước XHCN cùng chống âm mưu đế quốc xoá bỏ CNXH (Chương 9)

Bọn theo Trung Cộng thì biện hộ theo Trung Cộng để chống Mỹ theo tinh thần Marx:
Lý giải hiện tượng các nước khu vực mong muốn Mỹ tiếp tục có mặt sẽ giúp ổn định khu vực, còn Việt Nam cho Mỹ là mối đe dọa nguy hiểm nhất.(Chương17)

Cái nguyên do chính là sợ Mỹ mà Việt Cộng phải cầu cứu Trung Quốc, cam tâm làm nô lệ dù họ biết Trung Quốc là một tên thực dân đế quốc đã xâm chiếm hải đảo và lãnh thổ Việt Nam. Cái thảm họa Trung Quốc xâm lược khởi đầu do Hồ Chí Minh cần Trung Quốc viện trợ đã dâng hiến tổ quốc, và sau đó là bộ chính trị Việt cộng thời Nguyễn Văn Linh lại cúi đầu dâng hiến đất đai để xin làm nô lệ Trung Quốc.

Cái trường hợp của Nguyễn Văn Linh và bộ Chính trị thời đó còn khó khăn trăm lần thời Mạc Đang Dung, Hồ Quý Ly và Lê Chiêu Thống bởi vì Việt Cộng là thằng học trò phản sư môn, thằng bạn phản phé, ăn cháo đá bát cho nên bị Trung Quốc trừng trị, khinh bỉ và hành hạ cho bỏ hận. Vì vậy mà Việt Cộng phải cam chịu để cho Trung Quốc mổ ruột xé gan, xâm chiếm biển và đất.

Thêm vào đó cái tâm lý thần phục Trung Quốc trong bọn cầm đầu cộng đảng Hà nội như Nguyễn Đình Thi đã viết trong Nguyễn Trãi về Đông Đô là trong mỗi con người Việt Nam đều có hình ảnh một thái thú Trung Quốc ngự trị!

Kể từ khi Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh (1991), đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam chính thức trở thành thái thú Giao Chỉ quận. Hoàng Lê Nhất Thống Chi cho biết vua Lê Chiêu Thống mỗi khi cần việc gì phải sang bẩm báo với Tôn Sĩ Nghị. Bọn Đỗ Mười, Lê Đức Anh cũng vậy. Trần Quang Cơ viết:

Sau Đại hội VII, mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà nước đều do Hồng Hà, bí thư TƯ, phụ trách đối ngoại, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê Đức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của TBT Đỗ Mười, quyết định. Những phần công việc xưa nay vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do Hồng Hà và Ban Đối ngoại chủ trì. Một thí dụ điển hình về vì ý đồ cá nhân họ sẵn sàng bỏ qua danh dự và quốc thể: Ngày 5.8.91, tại cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: ‘Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Đức Duy (Đại sứ Trung Quốc), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh’. Lê Đức Anh cho biết khi ở Trung Quốc, Phó ban Đối ngoại Trung Quốc Chu Lương có đề nghị: vì lý do kỹ thuật, quan hệ giữa hai Đảng xin làm qua Trương Đức Duy. (Chương 18)

Ngày 28.7.91, đoàn đã đến Bắc Kinh và trong mấy ngày sau đó đã gặp Kiều Thạch, Lý Bằng, Giang Trạch Dân thông báo khá chi tiết về Đại hội VII. Thông báo cả những ý kiến khác nhau quá trình thảo luận, tranh luận và việc biểu quyết những vấn đề quan trọng trong Đại hội, và cơ cấu nhân sự của Ban Chấp hành TƯ mới..., Giang Trạch Dân và Lý Bằng tỏ ra quan tâm đến việc Việt Nam sẽ có ngoại trưởng mới (thay Nguyễn Cơ Thạch) trong kỳ họp Quốc hội tháng 8.91, Giang tỏ ý hài lòng: “Từ đáy lòng mình, tôi hết sức hoan nghênh kết quả Đại hội VII của các đồng chí Việt Nam”.(Chương 18)

Dưới thời Lê Duẩn, Lê Đức Anh làm mưa làm gió, điều quân đánh Khmer Đỏ, nay chính Lê Đức Anh sang quỳ mọp tạ lỗi Trung Quốc . Nhất là Lê Đức Anh và Hồng Hà phải báo cáo chi tiết về đại hội VII. Tại sao việc này phải sang tận Bắc Kinh mà báo cáo tường tận? Rõ ràng là bọn Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng không coi trọng quốc thể, không còn nhớ gì đến khẩu hiệu độc lập tự do, và quên cả khí phách ngày nào oang oang Việt Nam anh hùng, "kẻ thù nào cũng đáng thắng, khó khăn nào cũng vượt qua"! Và Việt Nam anh hùng, đã đánh thắng bốn tên đầu sõ thế giới là Nhật, Pháp, Mỹ và Trung Quốc! Trần Quang Cơ viết:

Đặc biệt mặc dù chuyến đi có mục đích gặp lãnh đạo Trung Quốc thông báo về Đại hội VII và bàn quan hệ hai nước, nhưng Lê Đức Anh và Hồng Hà đã chủ động xin gặp Từ Đôn Tín tới 2 lần, chiều 29.7 và tối 31.7 để tạ lỗi (?). Mở đầu cuộc gặp chiều 29.7, Lê Đức Anh đã nói: Năm ngoái khi đồng chí Từ Đôn Tín sang Việt Nam đã xảy ra một số trục trặc không hay lắm do phía chúng tôi gây ra (!). Đồng chí Nguyễn Văn Linh và chúng tôi khi biết việc này, chúng tôi không vui lắm. Hôm nay gặp đồng chí, tôi nói tình cảm của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và của tôi... Tình hình trục trặc trong quan hệ là một việc đau lòng, nhất là giữa những người cộng sản. Khúc nhạc cũ đã qua rồi, mong các đồng chí yên tâm(Chương 18)

Trong việc cầu thân với Trung Quốc, Việt Nam cam phận tôi đòi. Họ không dám đòi những đất và hải đảo đã bị chiếm, họ còn phải vâng lời Trung Quốc mà rút lui khỏi Kampuchia theo Hiệp định về Campuchia được ký kết ở Paris ngày 5-10.11.91. Kể từ đó Việt cộng nhất nhất tuân lệnh Trung Quốc.

(2). Chống Trung Quốc và Liên kết với khối tư bản

Trong giai đoạn đầu, bọn trung ương đảng còn theo chính sách chống Trung cộng của Lê Duẩn. Nguyễn Cơ Thạch chẳng phải sáng suốt, yêu nước mà thực tế là tôi trung của Lê Duẩn chống bá quyền Bắc Kinh. Nhưng dần dần, một số bọn cộng sản trong bộ chính trị muốn thay đổi lập trường:

Trước thúc bách của hoàn cảnh thế giới và trong nước như vậy, về đối ngoại, Đảng đã quyết định chuyển sang một giai đoạn đấu tranh mới trong cùng tồn tại hoà bình với Trung Quốc, ASEAN, Mỹ để nhanh chóng phục hồi kinh tế, phát triển trong hoà bình. (Ch.3)

Tuy họ nói là muốn làm lành với Trung Quốc và kết thân với Asean nhưng thực tế họ không thèm đếm xỉa tới Asean mà quỵ lụy Trung Quốc. Một số theo Trung Quốc nhưng khuynh hướng chống Trung Cộng vẫn khá mạnh mẽ:
Ngày 7.3.87, Bộ Chính trị (BCT) [4] họp xem xét đề án đấu tranh ngoại giao, nhận định Trung Quốc có hai mặt: vừa tồn tại nhân tố XHCN, vừa có chính sách bá quyền. Đánh giá về chiến lược của Trung Quốc đối với Đông dương, BCT nêu ba khả năng:
1. Tiếp tục đối đầu.
2. Cùng tồn tại hoà bình.
3. Hợp tác hữu nghị. (Ch.3)

Phe chống Trung Quốc nhận định Trung Quốc mặt thật là bá quyền. Trần Quang Cơ viết:

Trung Quốc không có lợi ích chung với Việt Nam hay bất cứ nước XHCN nào khác trong sự nghiệp bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc. Trung Quốc tuyên bố bảo vệ chủ nghĩa xã hội nhưng Trung Quốc không hề tuyên bố bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở các nước trên thế giới. Điều đó có nghĩa là Trung Quốc chỉ bảo vệ chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc. .... Ta nhìn mặt bành trướng bá quyền của Trung Quốc đậm nét hơn mặt xã hội chủ nghĩa.(Ch.4)

Trần Quang Cơ cho rằng Trung Quốc là một nước không đáng tin cậy vì Trung Quốc đã có một tiền sử gây chiến:

Trong lịch sử 50 năm của nước CHND Trung Hoa thì có hơn 30 năm Trung Quốc hết chống Liên Xô lại chống Việt Nam. Trên cơ sở đó, tôi hoài nghi là liệu có thể đứng trên lý tưởng chung XHCN để tranh thủ Trung Quốc được chăng ? (Ch.4)

Chúng ta thấy trong đảng cộng sản có những người cấp tiến, muốn trung lập, không theo Trung Cộng mà cũng không theo Mỹ như Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ. Ngày xưa, người ta bảo rằng Nguyễn Hữu Đang chủ trương Việt Nam trung lập, kết thân với khối Đông Nam Á. Ngay Mỹ cũng không đòi hỏi Việt Nam phải theo Mỹ. Họ chỉ muốn Việt Nam Trung lập là đủ.

Trần Quang Cơ viết:

Đại sứ Mỹ tại LHQ, Andrew Young, đã nói rõ điều đó: “Chúng tôi coi Việt Nam như một Nam Tư ở châu Á. Không phải là bộ phận của Trung Quốc hay của Liên Xô, mà là một nước độc lập. Một nước Việt Nam mạnh và độc lập là phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ” (tháng 1.77). (Ch.1)


Nhóm cấp tiến trong đảng muốn bang giao đa phương, nghĩa là muốn kết thân với Mỹ, Nhật bản và khối Asean vì họ nhận thấy bản chất xâm lược của Tàu cộng. Đó là tâm ý của Nguyễn Cơ Thạch và Trần Quang Cơ:

Lâu nay tôi thường cảm thấy ta chịu lệ thuộc hơi nhiều vào anh cả Liên Xô, anh hai Trung Quốc trong tư duy và hành động nên đã tự hạn chế mình trong hoạt động đối ngoại trên thế giới và ở khu vực Đông Nam Á. Muốn Trung Quốc mềm đi, phải cho thấy ta ngày càng nhiều bạn.

Ngược lại, nếu ta chỉ thấy có Trung Quốc thôi và nếu Trung Quốc thấy ta yếu và đơn độc thì họ sẽ rất cứng rắn với ta. Chính vì vậy mà Trung Quốc đã buộc ta phải có hết nhượng bộ nọ đến nhượng bộ kia.. .
Phải nói rằng với nếp suy nghĩ quá thiên lệch, quá cứng nhắc về “hai phe” lúc đó, chỉ riêng nghĩ đến chuyện quan hệ với các nước phương Tây đã gần như một điều huý kỵ, nên việc ngoại giao đề cập đến mở rộng tiếp xúc hợp tác ra ngoài thế giới XHCN gần như là chuyện động trời. Người ta chấp nhận nó không phải dễ dàng. Tư tưởng đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ đối ngoại đã đến với ta hơi chậm nhưng chưa muộn. (Ch.6)

Nhưng chủ trương này đã bị bọn Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh tiêu diệt. Lê Đức Anh, Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh đã bí mật họp với bọn Trung Cộng tại Hà Nội rồi quyết định quỳ gối trước Trung cộng (8). Đi xa hơn nữa, bọn Linh Thọ Anh đã kết tội nhóm cấp tiến là CIA, là " phe xét lại hiện đại", bỏ tù hoặc cách chức họ, bóp nghẹt tiếng nói của những con người này, và bọn cộng sản từ đó đến nay vẫn quỳ lạy Trung Quốc và bô bô chống đối "âm mưu diễn biến hòa bình" của đế quốc Mỹ.


Sau này, Trần Quang Cơ đã thấy ân hận cho sai lầm của cộng đảng:
Bỏ lỡ cơ hội bình thường hoá quan hệ với Mỹ, năm 1977, khi chính quyền Carter đã chủ động đề nghị hai bên bình thường hoá quan hệ không điều kiện.
• Đánh giá sai và không gia nhập khối ASEAN ngay từ 1976 khi cả 6 nước này đều mong muốn ta tham gia vì lợi ích của mỗi một quốc gia và của chung khu vực. (Ch.1)



(3).Ngập ngừng:

Từ theo Lê Duẩn cậy Liên Xô, chống Trung Quốc, bọn trung ương đảng hung hăng chống "Bắc kinh bành trướng", nhưng khi Liên Xô sụp đổ bọn họ mất phương hướng, không biết nên theo ai. Một số hoang mang, một số sợ hãi Trung Quốc. Trần Quang Cơ nói rõ điểm này:

Nhưng rồi sang năm 1989, khi bắt đầu cuộc khủng hoảng trong phe XHCN, một số cộng sản muốn theo Trung Quốc.

Tuy vậy, lúc đầu, phe chống Trung Quốc vẫn mạnh. Trần Quang Cơ viết về quan điểm của nhóm ông:
Chúng tôi thấy rằng: Trung Quốc ngày nay có hai mặt: mặt XHCN và mặt bành trướng bá quyền. Tính chất XHCN thể hiện tương đối rõ nét hơn về chính sách đối nội, ở cơ cấu xã hội, cơ cấu kinh tế của họ. Còn đường lối đối ngoại của Trung Quốc lại mang tính chất cổ truyền của họ là bành trướng bá quyền. Cái bất biến của Trung Quốc là tham vọng bá quyền. Nhưng những cái mà Trung Quốc sử dụng làm công cụ để thực hiện chính sách đó lại là “vạn biến”. Tuỳ theo lợi ích của họ trong từng lúc mà một nước nào đó có thể được Trung Quốc coi là bạn hay là thù. (Ch.4)

Nhìn chung, cho đến nay, bọn trung ương đảng vẫn lúng túng. Họ ngập ngừng. Trần Quang Cơ viết:

Trong thực tế đối ngoại, thường có sự lúng túng ngập ngừng về ưu tiên trong các mối quan hệ sau:
+ giữa phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh chính trị (giữa nguy cơ tụt hậu về kinh tế và nguy cơ chệch hướng XHCN, nguy cơ bị diễn biến hòa bình).
+ Lợi ích dân tộc và nghĩa vụ quốc tế. Tập hợp lực lượng và phân biệt bạn – thù theo quan điểm ý thức hệ hay theo lợi ích dân tộc.
+ Độc lập chủ quyền và hợp tác quốc tế. Hoà nhập cộng đồng thế giới. (2/1995) (Ch. 17 )

Ông Trần Quang Cơ nói văn hoa theo kiểu nhà ngoại giao song ta có thể nói trắng ra theo Trung Quốc là để bảo vệ quyền lợi của họ, dù mất đất, mất nước bởi vì Việt cộng là Việt gian bán nước.


Trong tình thế ấy, mất Liên Xô là "thành trì cách mạng", giữa Mỹ và Trung Cộng, bắt buộc họ phải chọn Trung Cộng. Từ trước cho đến hiện nay, tâm lý đa số Việt Nam là chống Mỹ vì bị đầu độc, nay một số quan chức và con cái họ thì thích đô la Mỹ, du học Mỹ, du lịch Mỹ, kết hôn với Việt kiều, còn lúc đó, đầu thiên niên kỷ, chưa ai dám lên tiếng kết thân với Mỹ. Đó là tội phản quốc, là CIA, sẽ bị ngồi tù rục xương.

Cái tâm lý đó vẫn tồn tại cho đến hôm nay mặc dầu nay một số biểu hiện cho thấy họ đi nước đôi, bắt cá hai tay, đánh đu giữa Trung Quốc và Mỹ. Dù bắt cá hai tay, các tay gộc trong trung ương Việt Cộng vẫn coi việc thần phục Trung Quốc là chủ yếu.




Trong bang giao Hoa Việt, Việt Nam thất thế vì sợ Mỹ xóa bỏ XHCN, và tin tưởng Trung Cộng sẽ bảo vệ Việt Cộng vì dù Trung Cộng bá quyền cũng là " đồng chí anh em". Nhưng sự thất bại và sa lầy vì Việt Cộng ngu dốt, mắc mưu Trung Cộng. Ý kiến này, Dương Danh Dy đã nói rồi nay lại được Trần Quang Cơ nhắc lại và nhấn mạnh:

Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là vì chính ta đã tự lừa ta. Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và CNXH thế giới, chống lại hiểm hoạ “diễn biễn hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm “giải pháp Đỏ”.(Chương 14)

Trần Quang Cơ cho rằng chính bọn Đỗ Mười, Lê Đức Anh phản bội lại chủ trương trước đó của nghị quyết 13 của bộ Chính trị:

Việc ta đề nghị hợp tác với Trung Quốc bảo vệ CNXH chống đế quốc Mỹ, thực hiện “giải pháp Đỏ” ở Campuchia là không phù hợp với Nghị quyết 13 của BCT mà còn gây khó khăn với ta trong việc đa dạng hoá quan hệ với các đối tượng khác như Mỹ, phương Tây, ASEAN, và tác động không thuận lợi đến quan hệ giữa ta và đồng minh, nhất là quan hệ với Liên Xô và Campuchia. Trung Quốc một mặt bác bỏ những đề nghị đó của ta, nhưng mặt khác lại dùng ngay những đề nghị đó chơi xấu ta với các nước khác nhằm tiếp tục cô lập ta, gây sức ép với ta và Campuchia. (Ch.14)


V. THÁI ĐỘ CỦA TRUNG QUỐC

Theo Trần Quang Cơ, Trung Quốc luôn có dã tâm bá quyền. Điều này đã nói rõ ở trên. Ông cũng như Dương Danh Dy cho biết Trung Quốc đã giở nhiều thủ đoạn gian manh để lừa đảo. Ông viết:

Nhìn lại, trong cuộc gặp Thành Đô, ta đã mắc lỡm với Trung Quốc ít nhất trên 3 điểm:

1. Trung Quốc nói cuộc gặp Thành Đô sẽ đàm phán cả vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ, nhưng thực tế chỉ bàn vấn đề Campuchia, còn vấn đề bình thường hoá quan hệ hai nước Trung Quốc vẫn nhắc lại lập trường cũ là có giải quyết vấn đề Campuchia mới nói đến chuyện bình thường hoá quan hệ hai nước;

2. Trung Quốc nói mập mờ là Đặng Tiểu Bình có thể gặp cố vấn Phạm Văn Đồng, nhưng đó chỉ là cái “mồi” để kéo anh Đồng tham gia gặp gỡ cấp cao.

3. Trung Quốc nói giữ bí mật việc gặp cấp cao hai nước, nhưng ngay sau cuộc gặp hầu như tất cả các nước đã được phía Trung Quốc trực tiếp hay gián tiếp thông báo nội dung chi tiết bản thoả thuận Thành Đô theo hướng bất lợi cho ta.(Ch.14)

Ông thuật lời Võ Văn Kiệt nói về cuộc họp ở Thành Đô vào tháng 9-90:

Anh Võ Văn Kiệt: “Trong thâm tâm tôi, tôi không đồng ý có anh Tô trong đoàn đi Thành Đô. Nếu có gặp anh Đặng thì anh Tô đi là đúng. Tôi nói thẳng là tôi xót xa khi biết anh Tô đi cùng anh Linh và anh Mười chỉ để gặp Giang và Lý, không có Đặng. Mình bị nó lừa nhiều cái quá. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy.”

Vốn là người điểm đạm, song anh Tô có lúc đã phải phát biểu: “Mình hớ, mình dại rồi mà còn nói sự nghiệp cách mạng là trên hết, còn được hay không thì không sao. Cùng lắm là nói cái đó, nhưng tôi không nghĩ như vậy là thượng sách. Tôi không nghĩ người lãnh đạo nên làm như vậy”. (Ch.14)

Trong lúc này, một số trung ương đảng muốn có phản ứng mạnh như Nguyễn Cơ Thạch:

Về vụ to tiếng giữa anh Thạch và Từ Đôn Tín chiều 13/6, anh Đào Duy Tùng nói “Cần phải nói lại mạnh mới được”. Còn anh Đồng Sĩ Nguyên nói “Nếu anh không phản ứng mạnh thì chúng tôi không thể hiểu nổi”. Về việc anh Linh và Lê Đức Anh gặp Trương Đức Duy trước khi ta và Trung Quốc đàm phán, anh Tô phát biểu: “Trong cuộc họp BCT bàn về đàm phán với Trung Quốc, tôi đã nói 3 lần là không được hớ, phải rất thận trọng với Trung Quốc. Đằng này anh lại ngửa bài trước để họ biết hết và kết quả là cái gì đã xảy ra. Trung Quốc họ nghĩ theo kiểu Đại Hán của họ và kết quả là họ ép mình. Ngoại giao là một vũ đài, phải giữ thế, không phải lúc nào cũng lật hết lá bài ra. Không thể đưa ngực ra cho nó đấm”. (Ch.14)

Trần Quang Cơ nhận định như sau:

Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là vì chính ta đã tự lừa ta. Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và CNXH thế giới, chống lại hiểm hoạ “diễn biễn hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm “giải pháp Đỏ”.(Ch.14)

Ngoài ra, báo chí ngoại quốc và hải ngoại cho biết trong các cuộc đàm phán, Trung Quốc đã dùng gái, tiền bạc , các thủ đoạn khác và đe dọa khiến cho bọn Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Lê Đức Anh lần lượt sa bẫy, hết ký hiệp định này đến hịệp định khác.

VI. KẾT LUẬN

Trần Quang Cơ cho biết ngày nào còn chủ nghĩa cộng sản thì còn dối trá cho nên ông phải viết thiên Hồi Ký này là để nói sự thật. Điều mà ông muốn nói lên là các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Thọ đã chủ trương đầu hàng Trung Quốc cho nên Việt Nam phải chịu thảm họa mất nước cho đến ngày nay.

Trên thế giới, bọn Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đỗ Mười đã làm mất quốc thể, luôn thỉnh thị ý kiến Trung Quốc trong đàm phán, báo cáo tất cả công việc, kế hoạch Việt Nam cho Trung Quốc như một thư ký báo cáo công việc cho giám đốc, đi thưa về trình như một đứa con hiếu thảo.

Đối với đảng viên và nhân dân trong nước thì độc tài, không theo nguyên tắc dân chủ và phân nhiệm, khi bọn Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười đàm phán trực tiếp với Trung Cộng mà không thông qua bộ ngoại giao. Chúng tỏ ra tiền hậu bất nhất, đi trái với những gì chúng đã quyết định trước đó của bộ chính trị để làm theo lời quan thầy Trung Quốc chỉ dạy. Đồng thời chúng dối trá, lừa gạt và bưng bít các tin tức quan trọng liên quan đến độc lập và chủ quyền của đất nước. Tất cả bọn chúng từ Hồ Chí Minh trở đi vì ngu dốt và tham lam, đã mắc vào bẫy sập của Trung Quốc để làm những tên bán nước hại dân.

Trần Quang Cơ viết:

Nói chung, từ sau Đại hội VII, tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Trung Quốc như cỗ máy đã được tra dầu đầy đủ, diễn biến trơn tru theo trình tự đã định. Ngày 5-10.11.91, sau khi Hiệp định về Campuchia được ký kết ở Paris, TBT Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức CHND Trung Hoa để hoàn thành việc bình thường hoá mối quan hệ bị trục trặc lớn từ tháng 2.79. Nhưng trong khi lãnh đạo ta ôm kỳ vọng cùng Trung Quốc “bảo vệ CNXH chống đề quốc” thì họ đã xác định quan hệ với ta là “thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đấu” (thân nhưng không gần, sơ nhưng không xa, đấu tranh nhưng không đánh nhau). Trung Quốc nói thế song luôn luôn lấy thế nước lớn để lấn chiếm lãnh thổ lãnh hải ta, và hiểm độc nhất là không ngừng tác động vào nội bộ ta.(Ch.18)

Sau tiếng nói của Dương Danh Dy, chúng ta phải công nhận Hồi Ký của Trần Quang Cơ cho ta biết nhiều sự kiện lịch sử bị chôn vùi trong dối trá của cộng sản gian ác.

__
(1). Cùng thời gian này, do những khó khăn kinh tế – xã hội chồng chất của thời kỳ chiến tranh chưa được tháo gỡ, lại bị bao vây cấm vận bên ngoài nên trong nước đã nảy sinh ra tình trạng “vượt biên” trốn ra nước ngoài của một bộ phận dân chúng ở cả miền Nam lẫn miền Bắc, tạo thêm gánh nặng về đối ngoại cho ta, bôi đen thêm hình ảnh Việt Nam trên quốc tế. Vấn đề Campuchia và vấn đề “thuyền nhân” [14] lúc đó quả là gánh nặng trên mặt trận đối ngoại của ta trong thập niên 80 của thế kỷ 20.(Chương 1)
(2).Trước đại lễ Thăng Long, Việt cộng đưa hình Võ Nguyên Giáp, nhưng nhìn rõ đại tướng thì đó là cái thây bất động. Việt Cộng duy tâm và độc tài. Ban đầu họ dấu diếm cái chết của ông Hồ, nay thì họ cũng giấu diếm cái chết của Võ Nguyên Giáp vì sợ dư luận bàn tán và sợ xui!
(3). NGUYỄN THIÊN THỤ * VẬN MỆNH VIỆT NAM QUA KIM CỔ KỲ QUAN Phụ lục 2, Ông Đạo Nhỏ.
(4). Trần Quang Cơ cho biết số tiền này là 3,2 tỷ, có người nói 5 tỷ, có kẻ bảo 50 tỷ! Nhưng do vụ Việt cộng tấn công Kampuchia, Mỹ phủi tay. Trần Quang Cơ cho biết:


Còn về điều 21 (của Hiệp định Paris về VN), Mỹ có khó khăn về pháp luật nên không thực hiện được, hứa sẽ thực hiện khi đã có quan hệ, bỏ cấm vận buôn bán và xét viện trợ nhân đạo. .. ,. Trở ngại lớn nhất cho việc bình thường hoá quan hệ là việc ta đòi Mỹ viện trợ 3,2 tỷ đô-la cho ta vì Quốc hội Mỹ khi đó dứt khoát không chấp nhận viện trợ làm điều kiện cho việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam.... . . .Tôi ở lại Nữu-ước mãi tới cuối tháng 1.79, sau khi ta đưa quân vào Campuchia giúp bạn đánh đuổi Polpot giải phóng Nông-Pênh. Ngày 9.1.79, ngoại trưởng Mý Cyrus Vance nói: “Các cuộc nói chuyện Mỹ - Việt Nam về bình thường hoá đã tan vỡ do cuộc xâm lược Campuchia của Việt Nam”. (Ch.1)
(5).Tại Đông Nam Á, khi Trung Quốc muốn chống hay gây sức ép với chính quyền tư sản các nước này thì họ lập ra hoặc giúp đỡ lập ra các đảng cộng sản Mao-ít ở Thái Lan, Miến Điện, Mã-lai,... khi Trung Quốc thấy cần tranh thủ các chính quyền tư sản khu vực này thì ta đã thấy các đảng cộng sản đó lần lượt tiêu tan để phục vụ cho mục đích của Trung Quốc. Rồi sau sự kiện Thiên An Môn để xoa dịu phản ứng của Mỹ và phương Tây, Trung Quốc hy sinh nốt Đảng Cộng sản Mã-lai. Theo kênh của Bắc Kinh, TBT đảng này là Trần Bình, gốc Trung Quốc, đã ra ký kết đầu hàng chính quyền Ma-lay-xi-a và giải tán đảng Cộng sản.
Trường hợp Khmer đỏ sau này cũng vậy. Theo tờ Ý thức Khmer ngày 17.10.2000, dưới đầu đề “Trung Quốc giết Polpot để đe doạ những chỉ huy Khmer đỏ còn lại buộc trở về với Hun-xen” viết: “Sau khi đi gặp Sứ quán Trung Quốc tại Bangkok, Polpot chết không phải do bệnh tật cũng không phải do Hun-xen mà chết do thuốc độc của Trung Quốc (?). Bởi vì Trung Quốc vận động các chỉ huy Khmer đỏ trở về với chế độ của Thủ tướng Hun-xen không được nên đã giết Polpot để đe doạ những chỉ huy Khmer đỏ khác... Sở dĩ Trung Quốc muốn các chỉ huy Khmer đỏ trở về với Hun-xen vì Trung Quốc đã chọn Hun-xen làm con bài có lợi về chính trị cho họ sau khi Polpot không còn ý nghĩa đối với họ nữa”.
(6). Từ giữa năm 1984, Liên Xô bắt đầu điều chỉnh chính sách về vấn đề Campuchia, thúc đẩy ta và Campuchia đi vào giải pháp chính trị vấn đề Campuchia; gợi ý ta tiếp xúc với Sihanouk và bắt đầu thảo luận với Mỹ và Trung Quốc về vấn đề Campuchia.. .
Mặt khác, Gorbachov vì lợi ích nước lớn, không rõ vô tình hay hữu ý, đã làm Việt Nam vào cái khung “phải giải quyết vấn đề Campuchia với Trung Quốc”.(Ch.6)
(7). Sau sự kiện Trường Sa 1988 mà hải quân Trung Quốc đã gây tổn thất khá nặng cho hải quân ta và việc Trung Quốc tiếp tục gây căng thẳng trong quan hệ với ta, bác bỏ các đề nghị của ta cải thiện quan hệ giữa hai nước (Chương 4)
(8). Ngày 5.6.90, vài ngày trước khi Từ Đôn Tín đến Hà Nội, TBT Nguyễn Văn Linh đã mời đại sứ Trương Đức Duy (vừa từ Bắc Kinh trở lại Hà Nội) đến Nhà khách Trung ương Đảng nói chuyện thân mật để tỏ lòng trọng thị đối với Bắc Kinh. Trong cuộc gặp, như để chấp nhận lời phê bình của Đặng (nói qua Kayson), Nguyễn Văn Linh nói: “Trong quan hệ hai nước, 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa”. Anh sốt sắng ngỏ ý muốn sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để “bàn vấn đề bảo vệ Chủ nghĩa xã hội” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội... .. Sáng 6.6.90, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh lại gặp riêng và mời cơm đại sứ Trương Đức Duy. ...Nhưng trước đó, từ ngày 6.6, phía Trung Quốc (tham tán Lý Gia Trung và Bí thư thứ nhất Hồ Càn Văn) đã cho ta biết nội dung câu chuyện giữa Lê Đức Anh và Trương Đức Duy. Còn đại sứ Trung Quốc cho anh Ngô Tất Tố, Vụ trưởng vụ Trung Quốc biết là trong cuộc gặp ông ta ngày 6.6, anh Lê Đức Anh đã nói khá cụ thể về “giải pháp Đỏ”(Ch.10)



CÁC ĐỀ TÀI LIÊN HỆ


No comments: