Saturday, November 12, 2016

TRUYỆN TÙ & VƯỢT BIÊN * TẠ KÝ * VUA HÀM NGHI *

aturday, August 30, 2014

PHẠM TÍN AN NINH * Ở CUỐI HAI CON ĐƯỜNG

 
 
Ở cuối hai con đường    | 
 Phạm Tín An Ninh, Vương Quốc Nauy

----------------------
Ở cuối hai con đường
Phạm Tín An Ninh
(Một câu chuyện hoàn toàn có thật)
Những năm "cải tạo" ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi. 
Sau đó, tôi được chuyển về trại 6. Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.
Ngày nhập trại, sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ "đồng chí cán bộ quản giáo" đến tiếp nhận.
Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ : - Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ ?. 
Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi , miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.
Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình: Nguyễn văn Thà, rồi "báo cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản "lý lịch trích ngang".
Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ "tội" dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm - bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
- Trong này có anh nào thuộc Sư 23 ?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng :
- Thưa cán bộ, có tôi ạ,.
- Anh ở trung đoàn mấy
- Trung Đoàn 44 
- Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
- Vâng, có ạ.
Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên ;
- Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.
Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi.
Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:
- Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào ?
- Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320. 
Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
- Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
- Sau đó cán bộ được trao trả ? tôi hỏi .
- Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị . Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lệ
Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói : 
- Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huỵ
Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một nguòi tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.
Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng : 
- Tôi để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.
Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động. Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân , quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp "Hoàng Cầm" để luột sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luột sắn ăn cho nọ Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn bị đi về", anh em tức khắc dấu hết "tang vật" xuống một cái hố đã đào sẵn. Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù chỉ là no sắn- 
Không biết tối hôm ấy, trong giờ "giao ban" , quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng ?
Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ : - Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.
Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em : 
- Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm . Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. 
Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleikụ Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.
Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
- Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? - một anh tù hỏi.
- Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh chọ Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đị Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6. Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng. 
Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại. Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. 
Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình. 
Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị "hạ tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ hoc. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ. 
Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái VN. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh. Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ , đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đị Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức. 
Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauỵ Biết cô thuộc gia đình một đảng viên CS cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối CS trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ VN tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối CS Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về VN, ông không còn được nhà nước CS trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai. Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về VN thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cộ 
Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ : "ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6. Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn ". Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ. 
Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc. 
Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.
Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe, Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghẹ Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.
- Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ ? tôi hỏi.
- Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:
- Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
- Ông Thà, Nguyễn văn Thà, Bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan ?
- Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi. 
- Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.
Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền CS Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền VN gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những nguòi đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu. 
Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi .
- Bây giờ cháu đang ở đâu ? Tôi hỏi.
- Cháu đang trốn ở nhà một nguòi bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác. 
- Ba cháu bây giờ làm gì ?
- Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.
Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwkọ Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauỵ Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội CS Ba-Lan. Về sau. anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị. 
Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang . Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ. 
Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm . Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về. 
Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về VN biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.
*
"Các Anh thân quí,
Khi ngồi viết nhừng dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. 
Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại". Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác. 
Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Tàu tràn qua biên giới . Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình. 
Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.
Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian..."
*
Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?
Phạm Tín An Ninh, Vương Quốc Nauy 

ĐẶNG ĐÌNH TUÂN * BÌNH MINH VỚI HOÀNG HÔN



Bình Minh Với Hoàng Hôn

Đặng Đình Tuân


Trong một bữa tiệc ở ngoài trời, lúc mọi người đang vừa ăn vừa trầm trồ nhìn ngắm cảnh mặt trời lặn, chợt có người hỏi tôi giữa bình minh và hoàng hôn tôi chọn cái nào. Không đắn đo, tôi trả lời:
- Làm sao lựa chọn được. Bình minh và hoàng hôn là hai hiện tượng thiên nhiên, trái ngược nhau, lại bổ-túc cho nhau. Không có bình minh thì không có hoàng hôn… Xin lỗi, tôi không thể tách ra chọn riêng được. Nhưng nếu ông muốn biết tôi thích cái nào thì không đắn đo mà trả lời ngay là tôi thích bình minh hơn. 
- Buổi sáng chắc anh thức dậy sớm lắm nhỉ?
- Rất họa hoằn. Đúng ra thì rất hiếm. Khi tôi ra khỏi nhà trời đã sáng trưng và buổi sáng đã đi được nửa đường rồi. Tại sao ông đoán chắc vậy?
- Tôi nghĩ người thích bình minh thì phải thích sự yên tĩnh, thích không khí trong lành, thích cái tịch mịch, thích cảm giác cô-độc của buổi sáng, thích hướng vào nội tâm và thích thơ thẩn. Muốn được thế thì phải dậy sớm...
- Những điều đó với tôi không có và không còn nữa.
- Ủa, nghe sao mâu-thuẫn. Nếu có thì mới còn chứ.
- Tôi yêu không khí trong lành. Nhưng không chịu được cảm giác cô độc. Tôi thích đi thơ thẩn nhưng sợ cái tịch mịch. Thỉnh thoảng nội tâm có hứng khởi nhưng không bao giờ ghi xuống thành thơ được. Hơn nữa, tôi luôn luôn tìm đủ mọi lý do để buổi sáng được ngủ nướng thêm.
- Phức tạp, khó hiểu. 
- Tôi không làm cho ông lầm lẫn đâu. Tôi nói đúng sự thật, đúng ý nghĩ chân thành của tôi đó thôi. Nhưng mà này, ông đã làm tôi nhớ lại được nhiều chuyện. Nếu ông cho phép, mình ra góc kia ít người, tôi sẽ giải thích rõ ràng hơn. Không làm nhàm tai ông đâu.
Hai người mang ly rượu đến góc vườn, xa hẳn mọi người. Chỗ này có sẵn bàn và ghế nhựa, đặt núp trong bóng mấy cây tùng. Nhìn ra trước mặt, những ngọn đồi và thung lũng trùng trùng chạy dài xuống, thấp dần về phía chân trời. 
Thành phố nhộn nhịp ồn ào nằm gọn trong thung lũng dưới kia. Những mái nhà chọc trời, với ánh đèn lấp lánh, nhấp nhô chen lẫn với những đỉnh đồi. Mặt trời bây giờ đã trốn gần kín sau đỉnh đồi thấp dưới kia. Ánh sáng dịu hẳn đi. Trên không những gợn mây mỏng giăng vướng rải rác khắp nơi đã đổi mầu sang vừa vàng cam vừa đỏ huyết dụ lóng lánh rực rỡ trong vòm trời xanh. Vài cái sao hôm đã đến, lấp lánh xa thăm thẳm. Hơi ấm ban ngày đã nhường chỗ cho những làn gió chiều gây gây mát. Sương sớm buổi tối đang kéo đến ôm ấp, che chở những cành cây những ngọn cỏ là đà rồi tỏa rộng ra hơn như một tấm chăn ấp ủ, phủ kín, để đưa những thung lũng kia vào giấc ngủ. 
Căn nhà nằm trên một đỉnh đồi cao, nên ai cũng nhìn thấy cảnh hoàng hôn đến, không xót một chi tiết nhỏ. Chủ nhà nói khi nào sương mù lên tới đây thì trời mới tối hẳn và cũng hãnh diện cho biết họ đã được cả những cụm mây sáng đến vuốt ve mơn trớn.
- Như mình đang chiêm ngưỡng một bức tranh vẽ.
- Ðẹp quá nhỉ!
Người bạn nâng ly rượu đỏ lên xin được chạm ly, rồi vừa trầm trồ ngắm cảnh vừa nhấp môi uống vừa có vẻ kiên nhẫn chờ đợi.
- Nhiều năm trước đây đời sống của tôi đã phải gắn bó với bình minh. Không tự ý, không lựa chọn. Khi bị đặt trên một con tàu, bị đuổi ra giữa đại dương hoang vắng, đi tới đi lui rồi chờ ngày về bến...
- À, thì ra anh làm nghề biển. 
Tôi không giữ được bật lên cười nhưng khi thấy mặt người bạn có vẻ ngơ ngác tôi phải ngừng ngay.
-Gần như thế, nhưng chưa tự tay bắt cá bao giờ, mà chỉ đi xin hoặc mua thôi. Tôi đã là lính hải quân. Và hải quân đã cho tôi cơ hội đặt chân lên nhiều chỗ mới lạ mà có lẽ không bao giờ tự ý tôi muốn đến. Từ đại dương thăm thẳm đến sông ngòi sình lầy hoang vu...
-Tôi hiểu rồi ! Ði biển thì được nhìn bình minh hoài. 
- Ðúng, nhưng còn nhiều thứ khác nữa. Ông biết không, sau những buổi tối cô độc vô tận ở giữa trời và nước mênh mông, bình minh báo hiệu ngày sum họp với người thân sắp đến. Sau những đêm tăm tối dài dằng dặc không ngủ đi phục kích và bắn giết ở Năm Căn, Ðồng Tháp Mười, Cửa Cạn, nơi mà chỉ có bẫy rập, sình lầy với muỗi mòng, bình minh là hy vọng mình còn sống sót. Sau những đêm nằm rạp mình tránh đạn pháo kích liên tục nổ dồn trên đầu, bên tai, kinh hoàng và khiếp đảm ở Mộc Hóa, ở Tuyên Nhơn, thấy bình minh đến mới biết mình còn có cơ hội phục hồi. Mắt tôi đã được nhìn, tay tôi đã vuốt ve, miệng tôi đã phải cầu nguyện cho nhiều người. Họ đã cố níu kéo, cố chờ đợi mãi mà vẫn không bao giờ thấy bình minh trở lại thêm một lần nữa. 
Tôi nhớ nhất là những lần ở vùng biển ngoài Cửa Cạn Phú Quốc, Vũng Tàu, Phan Thiết, ở vùng đảo nhỏ cạnh Qui Nhơn, Ðà Nẵng và cả Thuận An. Lênh đênh trên chiếc tàu nhỏ thả nhấp nhô theo những lượn sóng. Vừa ngồi chờ sáng. Vừa lẳng lặng làm việc vừa chăm chú quan sát. Bên ngoài con tàu, tất cả chìm đắm trong bóng tối xâu thẳm… Vũ trụ bao la mà mình thì quá nhỏ nhoi yếu đuối... Rồi đột nhiên thấy những thuyền đánh cá từ ngoài khơi tăm tối lũ lượt xuất hiện, kéo nhau trở về bến. Ðèn đuốc của làng nhỏ ở ven biển trơ trọi nghèo nàn chợt bừng sáng lên chào đón. Tối tăm tự nhiên tan biến. Tiếng người cười nói vỡ ra oang oang mừng rỡ. Tiếng trẻ thơ trong trẻo hân hoan cười đùa, gọi nhau vang vọng ra. Và khói lam nấu bếp bắt đầu tỏa lên từ khắp mọi mái nhà.
Tôi đã được chứng kiến sự phục sinh. Sự biến đổi từ địa ngục ra thiên đàng. Sự thua chạy của ma quỷ. Sự khác biệt giữa đêm và ngày. Tôi đã thấy mặt trời mang những ngày mới tinh khôi đi đến. Cùng với hào quang rực rỡ, với lễ lạc, với tiếng ca hát xưng tụng tưng bừng. Người, cảnh và áng sáng hòa hợp như trong buổi đại lễ tín ngưỡng quan trọng. Ðêm thì lẫn lộn, nhập nhằng, tàn ác. Nhưng ngày lại minh bạch, linh động và hiền hòa. Không thể diễn tả được hết cái sống động của những hình ảnh đó. 
Tôi đã hiểu ra được đây mới thực là sự sống. Ðây mới đúng là phép nhiệm mầu, là sự ra đời của đứa trẻ thơ, là bình minh mà tôi chờ đợi, tìm tòi và yêu thương. Con người nhỏ bé đơn sơ ở đây đã hăm hở đón nhận và vinh danh ánh sáng cùng với sự sống. Bình minh này mang đến ý nghĩ ham muốn và tranh đấu. Bình minh này mang cứu rỗi đến cho linh hồn và máu tươi hâm nóng cho cơ thể.
Ngay khi đó hình như nguồn sống mới đã tràn đến, thấm vào, rồi làm cơ thể tôi đổi mới. Tự nhiên tôi không còn có cảm giác lạc lõng, chán chường, thiếu ngủ nữa. Tinh thần và xác thịt biến đổi hoàn toàn sang trạng thái háo hức chờ đợi và sẵn sàng đón tiếp bất cứ biến cố gì sắp xẩy đến.
 
Không biết tôi có muốn trở lại sống trong những bình minh đó nữa hay không. Nhưng chỉ cần nhớ đến những hình ảnh đó không thôi thì máu nóng lại bừng bừng chẩy.
Từ ngày rời bỏ quê hương lưu lạc đến đây, tôi đã trải qua nhiều bình minh khác. Buổi sáng trời vẫn còn tối đã phải leo lên xe buýt. Bình minh đến lúc xe đang chở tôi đến chỗ làm và còn ngái ngủ. Những bình minh này trái ngược hẳn, chỉ mang đến chua xót, bon chen và nuối tiếc. Chưa có cảnh bình minh nào đẹp, kích thích và cảm động như bình minh ở quê hương nghèo khổ của mình… Tôi quá chủ quan phải không? Tuy nhiên mỗi ngày trôi qua, tuổi chất đống thì ngày mới tinh ở đâu đó đối với tôi cũng là bình minh quý hóa. Thêm một ngày mới, thêm những cảm giác và kinh nghiệm lạ cho cuộc đời. Thêm một lần được kiểm chứng và áp dụng lại những kinh nghiệm cũ. Tôi hãnh diện vì còn sống sót cho nên sẽ phải làm thế nào cho những ngày sống mới đầy đủ trọn vẹn hơn. Tôi không ngồi yên chờ đợi nữa mà hân hoan tích cực đón nhận. Vừa để hưởng thụ vừa để làm cho những bình minh chót của cuộc đời phong phú hơn...
 
Mải mê kể lể tôi không biết người bạn đã bỏ đi từ lúc nào. Rời đi không lời thông báo. Ly rượu cạn không còn một giọt. Ông ấy có thể đã nghĩ tôi nếu không say thì điên. Thế nào chăng nữa điều đó không làm tôi bận tâm. Say giữa hoàng hôn mà vẫn tỉnh táo nói chuyện về bình minh. Tôi đang tận hưởng hoàng hôn hiện tại nhưng tinh thần đã háo hức sẵn sàng chờ đón bình minh mới của cuộc đời. Tôi phải cám ơn người bạn đó đã gợi cho tôi cơ hội để nói riêng cho mình tôi nghe, để biết mình muốn gì…
Trích trong một tạp chí Canada.
Truyện-Vượt Biên

TRẦN GIA PHỤNG * DI CHUC HỒ CHÍ MINH

Chuyện di chúc Hồ Chí Minh

Trần Gia Phụng (Danlambao) - Tại Hà Nội, ngày 20-8-2014 vừa qua, Ban tuyên giáo Trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) tổ chức hội nghị triển khai chỉ thị của Ban bí thư TƯĐCSVN về việc thực hiện kỷ niệm 45 năm di chúc Hồ Chí Minh (HCM), và đưa ra kế hoạch cho toàn quốc thực hiện từ tháng 9 đến tháng 11-2014.
Hồ Chí Minh chết ngày 2-9-1969. Vì ngày 2-9 trùng với ngày lễ lớn của CSVN, nên Bộ chính trị đảng Lao Động lúc đó, do Lê Duẫn đứng đầu, đổi thành ngày 3-9-1969. Khi chết, HCM để lại ba bản di chúc:
1) Di chúc ngày 15-5-1965. 
2) Di chúc bổ sung năm 1968. 
3) Di chúc ngày 10-5-1969. 
Bản di chúc thứ ba còn được Lê Duẫn nhuận sắc, sửa đổi, mới chính thức công bố. Như vậy, đảng viên CS học tập bản di chúc nào, không thấy nói đến? (Toàn bộ các bản di chúc nầy đã được Nxb, Thanh Niên, Tp. HCM ấn hành năm 1990.) Lại thêm một chỉ thị của TƯĐCSVN mập mờ không rõ.
Những điều HCM viết trong các di chúc chỉ là những dặn dò tổng quát, chung chung, không đưa ra chi tiết cụ thể. Vì vậy nếu lãnh đạo CS muốn đảng viên và đoàn viên “quán triệt, học tập, tuyên truyền về nội dung cơ bản cốt lõi trong di chúc HCM”, thì cần nhất là phải tìm hiểu cặn kẽ những tinh hoa “cốt lõi” mà chính HCM đã làm trong đời sống thực tế khi HCM còn sống.
Mở đầu di chúc đầu tiên (15-5-1965), HCM cho biết lý do viết di chúc là phòng khi “đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin...” Người Việt chúng ta thường nghĩ rằng chết là về với cha mẹ, ông bà, Phật Chúa. Vì không có tôn giáo, HCM không về với Phật Chúa đã đành, mà HCM cũng không muốn về với cha mẹ ông bà. HCM chỉ muốn về với hai người ngoại quốc xa lạ HCM chưa hề gặp mặt, như là một kẻ không biết cha mẹ là ai, mà người Việt gọi là con vô thừa nhận. Quả thật, khi còn sống, thân phụ của HCM, cụ Nguyễn Sinh Sắc không thừa nhận Nguyễn Sinh Cung tức HCM vì cụ Sắc “không muốn nghe nói đến “đứa con hư” của mình [...] mà các chủ thuyết chẳng những đả phá uy quyền của nhà vua, mà còn đả phá luôn cả uy quyền của người gia trưởng.” (Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l'Indochine au Vietnam, Paris: Nxb. Gallimard, 1990. tr. 134.) Vì không muốn gặp cha mẹ ông bà, nên trong năm điều HCM dạy cho thiếu nhi Việt Nam, không có điều nào HCM khuyên trẻ em phải có hiếu với cha mẹ cả. Như vậy, học tập theo HCM, đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin và học tập năm điều HCM dạy, không lẽ các đảng viên và đoàn viên thanh niên CS cũng là những đứa con hoang, một mai khi chết đi, không tìm về với cha mẹ ông bà?
Cũng trong bản di chúc năm 1965, nói về đảng CSVN, HCM kêu gọi “một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc”. Khi bổ túc di chúc năm 1968, HCM lập lại điều nầy. Tuy nhiên khi HCM chết ngày 2-9-1969, Lê Duẫn bỏ mấy câu nầy trong di chúc HCM trước khi công bố. (Xin bạn đọc so sánh các bản di chúc). Sở dĩ Lê Duẫn làm thế, vì Lê Duẫn biết HCM đâu có phục vụ tổ quốc, đã bán Hoàng Sa từ lâu cho Mao Trạch Đông. Khi Mao viện trợ cho HCM, HCM biết rằng tại Hội nghị San Francisco vào đầu tháng 9-1951, đại diện Liên Xô theo yêu cầu của Trung Cộng, đã lên tiếng đòi hỏi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Cộng. Thế mà HCM vẫn làm lơ, mặc nhiên chấp nhận điều nầy, để nhận viện trợ của Trung Cộng. Vì đã thỏa thuận bán Hoàng Sa và Trường Sa cho Mao để đổi lấy viện trợ, HCM để cho Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14-9-1958 công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Cộng. Học tập và thấm nhuần di chúc HCM về cách phục vụ tổ quốc theo kiểu HCM, đảng CSVN hiện nay tiếp tục sự nghiệp bán nốt tổ quốc Việt Nam cho Trung Cộng
Di chúc HCM còn nhắn nhủ đảng CS phải lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đảng viên, cho đoàn viên. Tấm gương điển hình tiên tiến nhất về đạo đức cách mạng của HCM là trong cuộc CCRĐ, HCM giết hại ân nhân Nguyễn Thị Năm để trả ơn. Tấm gương đạo đức cách mạng nữa là vụ lừa bịp thế giới rằng HCM suốt đời sống độc thân, sống giản dị để phục vụ cách mạng, trong khi HCM đi đâu đều có bóng dáng đàn bà ở đó. Đạo đức cách mạng HCM nổi tiếng hơn nữa là vụ giết hại bà Nông Thị Xuân, dù bà nầy đã sinh cho HCM một người con trai để nối giòng. Đạo đức cách mạng HCM còn được lưu danh trong vụ “Tôi mất trinh khi gặp bác Hồ” của một em gái miền Nam. Còn rất nhiều em gái miền Nam khác được gởi ra Bắc học tập, đã được HCM cấy hạt giống đỏ mà không đếm hết. Đảng viên và thanh niên CS mà học tập theo gương đạo đức cách mạng tiên tiến kiểu nầy của HCM, hãy coi chừng sẽ ế vợ, vì có thiếu nữ nào dám lấy chồng đảng viên CS, để rồi bị giết thê thảm như bà Nông Thị Xuân?
Di chúc HCM ngày 15-5-1965 kêu gọi đảng CS phải có “kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa”. Kế hoạch thật tốt của HCM là chính sách kinh tế chỉ huy, quốc hữu hóa toàn bộ công thương nghiệp thành phố và toàn bộ ruộng đất ở nông thôn, vơ vét của cải toàn dân vào tay đảng CSVN như lời Việt bản Quốc tế ca: “Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình” (câu số 8). Tuy nhiên, chính sách kinh tế chỉ huy nầy đã làm đất nước Việt Nam kiệt quệ, nên mới đẻ ra cái quái thai “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Thò lò cái đuôi XHCN là cái gì vậy?
Trong di chúc công bố năm 1969, HCM rất tự hào về sự lớn mạnh của phong trào cộng sản thế giới. Nếu bây giờ HCM biết được rằng phong trào CS đã sụp đổ tan tành, chủ nghĩa CS bị quăng vào sọt rác ở Liên Xô từ năm 1991, thì có lẽ HCM càng tự hào hơn nữa, vì đảng CS của HCM chưa sụp đổ, nhờ ở Việt Nam nhà tù nhiều hơn trường học, bạo lực cách mạng tàn bạo và tinh vi, thẳng tay đàn áp dân oan kiện tụng, bắt giam những người yêu nước, những người viết blog kêu gọi tự do dân chủ.
Nói chuyện di chúc HCM mà không nói đến tư tưởng HCM là một thiếu sót lớn. Trong Đại hội 2 của đảng Lao Động tức đảng CSVN từ 11 đến 19-2-1951 tại Tuyên Quang, HCM phát biểu: “Về lý luận, đảng Lao Động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin... lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam.” (Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ & Quốc hội, Nxb. Văn Nghệ [tái bản], California, 1995, tt. 150-152.) Cũng trong Đại hội nầy, HCM nhiều lần tuyên bố: “Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể sai được.” (Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng Sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế, California: Nxb. Tuổi Xanh, 2001, tr. 63.) Theo HCM, tư tưởng MTĐ là kim chỉ nam không bao giờ sai lầm, có nghĩa là chuyện MTĐ đòi hỏi chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam từ năm 1951 cũng không sai lầm. Đảng viên và đoàn viên CSVN học tập như thế, nên đảng CSVN ký hiệp ước nhượng đất, nhượng biển cho Trung Cộng, bắt giam những người yêu nước một cách bất bạo động chống Trung Cộng như Lê Chí Quang, Việt Khang, Bùi Hằng...
Đảng CSVN hô hào thực hiện di chúc HCM, nhưng có một điều quan trọng trong bản di chúc HCM chưa được đảng CSVN thực hiện. Điều đó là trong di chúc ngày 15-5-1965, HCM yêu cầu được hỏa táng sau khi chết, tro xương chôn ở một ngọn đồi vùng Tam Đảo - Ba Vì, và nếu đất nước chưa được thống nhất, thì gởi một ít tro xương cho đồng bào miền Nam. Thế mà khi HCM chết, đảng CSVN không chịu hỏa táng, lại xây cái lăng Ba Đình bự chảng “hoành tráng” để triển lãm xác chết HCM.
Nay lãnh đạo đảng CSVN, tức bộ Chính trị đảng CSVN muốn cho đảng viên học tập, quán triệt cốt lõi di chúc HCM, thì phải tiên phong thực hiện di chúc HCM, thực tế làm gương trước cho mọi người, là hỏa thiêu thi hài của HCM ở Ba Đình, đúng theo yêu cầu trong di chúc HCM, rồi chia tro xương thành hai phần. Một phần chôn ở một ngọn đồi vùng Tam Đảo-Ba Vì theo lời HCM đã viết trong di chúc. Còn phần tro xương kia của HCM thì đem rải ở chỗ Trung Cộng đặt giàn khoan 981 trên Biển Đông mà Trung Cộng đã tạm chiếm của Việt Nam, để HCM được mãn nguyện với sự nghiệp “lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam”. Có như thế mới thực hiện một cách “tài tình sáng tạo” di chúc HCM.
Nói cho cùng, dầu TƯĐCSVN tốn công tốn sức tuyên truyền tô điểm chuyện di chúc HCM, nhưng ngày nay, thanh niên Việt Nam biết tỏng HCM là ai. “Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó”. (Nguyễn Chí Thiện). Các bạn trẻ ngày nay không thèm học tập di chúc đâu. “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi...” Thôi, “bỏ đi Tám”.
Di chúc Hồ Chí Minh 1968

TS. NGUYỄN ĐÌNH THẮNG * CỘNG SẢN GIAN ÁC

Chính quyền Việt Nam: nhũn với quốc tế, rắn với dân

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Ngày 30 tháng 8, 2014

Sau khi toà phúc thẩm y án tù và tăng đôi số tiền phạt đối với Ls. Lê Quốc Quân, chị Dương Hà, vợ anh Cù Huy Hà Vũ, nhắn qua Skype cho tôi, tỏ ý lo rằng đây là dấu hiệu chính quyền Việt Nam đang cứng rắn hơn và có thể sẽ không trả tự do cho anh Vũ như đã hứa hẹn với Hoa Kỳ từ nhiều tháng trước.

Tôi nhắn lại: “Hai chuyện khác nhau. Hoàn toàn không ảnh hưởng đến trường hợp của anh Vũ.”

Trong thâm tâm, tôi nghĩ việc y án đối với Lê Quốc Quân báo hiệu anh Vũ sắp ra khỏi tù.

Hai bản mặt

Chính quyền Việt Nam đang ở trong thế phải cầu cạnh một số quyền lợi từ quốc tế, nhất là Hoa Kỳ, nên muốn tỏ vẻ “biết điều”: Chúng tôi sẵn sàng đáp ứng mối quan tâm của quý vị. Cùng lúc, với dân, nhất là thành phần đấu tranh nhân quyền và dân chủ, họ phải tỏ ra “cứng rắn” để giữ thế độc tôn: Chế độ không lùi bước trước áp lực quốc tế; chớ tưởng bở mà làm mạnh. Mỗi hành động “biết điều” với quốc tế đều phải được cân bằng bởi một thể hiện “cứng rắn” để dằn mặt dân trong nước.

Một hồ sơ có công dụng “dằn mặt” nếu hội đủ 2 yếu tố: (1) Đang được các thành phần trong nước lên tiếng yểm trợ mạnh mẽ; (2) Có sự vận động ầm ĩ ở hải ngoại nhưng chưa có hậu thuẫn quốc tế, nên không đe doạ đến các quyền lợi mà chính quyền đang mưu cầu từ quốc tế.

Đối nội, hồ sơ như vậy có tác dụng đánh phủ đầu các thành phần tranh đấu, chứng tỏ rằng họ càng làm mạnh thì càng phản tác dụng, và đừng trông chờ gì vào sự can thiệp quốc tế vì chính quyền Việt Nam bất chấp. Đối ngoại, chính quyền không lo phản ứng bất lợi của quốc tế vì hồ sơ không là điều kiện để đổi lấy quyền lợi; quốc tế cùng lắm sẽ phản đối suông, và tâm lý bất lợi nếu có sẽ được giải toả khi chính quyền trả tự do cho số hồ sơ đang được quốc tế quan tâm.

Hồ sơ của Lê Quốc Quân nằm đúng vào trường hợp này: Ở trong nước có nhiều buổi thắp nến cầu nguyện, nhiều đợt biểu tình đòi trả tự do và đông người ở các nơi kéo về dự phiên toà; ở ngoài thì Mẹ đi lặn lội đến nhiều quốc gia cầu cứu cho con trong nhiều tháng trời, nhưng hồ sơ chưa được quan tâm đáng kể bởi chính giới quốc tế (thậm chí, lúc ấy chưa có một dân biểu nào “đỡ đầu”) và không gắn liền với bất kỳ quyền lợi nào mà chế độ đang cầu cạnh từ quốc tế. Đó là hồ sơ lý tưởng để chính quyền dùng vào mục đích “dằn mặt” dân.

Kế hoá giải

Tháng 7 năm 2013, BPSOS đề ra chiến dịch Đòi Tự Do Cho Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam. Chúng tôi vận động để gắn liền việc trả tự do vô điều kiện cho tất cả TNLT với việc cho Việt Nam tham gia TPP. Đó là về chiến lược.

Về chiến thuật, chúng tôi lập 3 danh sách:

(1) Danh sách 1 gồm khoảng 20 TNLT ở mức ưu tiên tối cao và gắn liền với các quyền lợi mà Việt Nam đang cầu cạnh từ Hoa Kỳ.

(2) Danh sách 2 gồm khoảng 200 TNLT đã được quốc tế phối kiểm.

(3) Danh sách 3 gồm khoảng 200 TNLT có tên nhưng chưa được quốc tế phối kiểm và công nhận.

Chúng tôi giữ Danh sách 1 tương đối ngắn để tập trung được sự chú ý và can thiệp của quốc tế. Danh sách này gồm những TNLT tiêu biểu như Ts. Cù Huy Hà Vũ, Blogger Điếu Cày, Blogger Tạ Phong Tần, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Tiến Trung, Lm. Nguyễn Văn Lý, Ms. Dương Kim Khải, Ông Nguyễn Văn Lía (PGHH), Trần Huỳnh Duy Thức, Ls. Lê Quốc Quân…

Chúng tôi vận động quốc tế, thật mạnh nhưng thật im ắng, cho Danh Sách 1. Và rồi cứ mỗi TNLT trong đó được tự do thì chúng tôi lại đôn người từ Danh Sách 2 lên. Chẳng hạn, sau khi Đỗ Thị Minh Hạnh được tự do thì chúng tôi đôn Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương thay thế; khi Nguyễn Tiến Trung tự do thì Ms. Nguyễn Công Chính thế chỗ. Như thế Danh Sách 1 lúc nào cũng có khoảng 20 TNLT ở mức ưu tiên tối cao.

Tương tự, khi một TNLT trong Danh Sách 3 được quốc tế phối kiểm và công nhận thì chúng tôi đưa vào Danh Sách 2.

Với phương cách này, chính quyền Việt Nam không thể chỉ trả tự do cho một ít hồ sơ đang được quốc tế quan tâm, vì tất cả TNLT đều sẽ tuần tự được đưa vào Danh Sách 1. Nếu muốn thoát áp lực quốc tế, chính quyền không những phải trả tự do cho tất cả TNLT mà không bắt giam thêm.

Im lặng là vàng

Giới lãnh đạo Việt Nam độc tài và có thể độc ác nhưng đủ thông minh để toan tính lợi hại. Nếu lợi ít mà hại nhiều thì họ không làm. Do đó, khi thực hiện chiến dịch Đòi Tự Do Cho TNLT Việt Nam, chúng tôi giảm công dụng “dằn mặt” và đồng thời tăng tổn hại nếu chính quyền không trả tự do cho TNLT, mà ưu tiên là những người trong Danh Sách 1. Chẳng hạn, khi chị Dương Hà sang Mỹ tháng 7 năm ngoái, chúng tôi sắp xếp để chị gặp nhiều dân biểu và thượng nghị sĩ, giới chức Bộ Ngoại Giao, và nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế nhưng hoàn toàn kín tiếng. Tôi căn dặn chị Hà tránh mọi phát biểu hay gây tiếng ồn khi về nước. Sự im ắng ở cả ngoài và trong nước làm cho hồ sơ không có tác dụng “dằn mặt”. Không những vậy, dùng nó để “dằn mặt” có thể phản tác dụng hoàn toàn vì sự tổn hại không thể giấu giếm: Hoa Kỳ cho biết là nếu không trả tự do sớm cho anh Vũ thì sẽ ảnh hưởng đến việc thảo luận hợp tác nguyên tử lực giữa 2 quốc gia.

Trường hợp Đỗ Thị Minh Hạnh thì khác. Chúng tôi cần vận động công khai để tranh thủ sự yểm trợ của các công đoàn Hoa Kỳ cho hồ sơ, mà kết quả là nó đã được gắn chặt với triển vọng TPP cho Việt Nam. Để giảm công dụng “dằn mặt”, chúng tôi căn dặn thân nhân tuyệt đối im ắng ở trong nước. Đồng thời giúp cho chính quyền Việt Nam hiểu rằng nếu dùng hồ sơ này vào mục đích “dằn mặt” thì sẽ tự gây tổn hải khôn lường: trên 150 dân biểu Hoa Kỳ chính thức lên tíếng chống TPP cho Việt Nam vì vi phạm quyền lao động và bắt giam những người tranh đấu cho quyền lao động mà Đỗ Thị Minh Hạnh là điển hình và nổi bật nhất.

Cùng thời gian Mẹ của Đỗ Thị Minh Hạnh vận động cho con gái Hoa Kỳ, thân nhân của 3 TNLT khác cũng đến Hoa Kỳ và rồi đi nhiều quốc gia khác để vận động. Chuyến đi này của họ đã được đưa tin rất nhiều về trong nước bởi giới blogger. Điều này đã giúp hồ sơ Đỗ Thị Minh Hạnh bị "chìm" đi ở trong nước, nghĩa là giảm công dụng “dằn mặt”.

Các hồ sơ của 3 TNLT này (Ls. Lê Quốc Quân, Trần Huỳnh Duy Thức và Đinh Nguyên Kha) vừa thật nổi ở trong nước vừa không được cài vào quyền lợi nào mà Việt Nam đang cầu cạnh quốc tế cho nên trở thành lý tưởng cho chính quyền Việt Nam dùng để thị uy với dân.

Thấy vậy, chúng tôi quyết định tạm thời án binh bất động về hồ sơ Lê Quốc Quân và Trần Huỳnh Duy Thức dù họ ở trong Danh Sách 1. Khi tình hình tạm lắng, chúng tôi bắt đầu vận động trở lại, mà khởi đầu là vận động được 2 dân biểu Hoa Kỳ “đỡ đầu” cho 2 hồ sơ này.

Kết luận

Theo phân tích như trên, án tù rất nặng vừa mới đây cho Bà Bùi Thị Minh Hằng cũng là đòn của chính quyền “dằn mặt” dân. Hồ sơ này hội đủ cả 2 tiêu chuẩn cho công dụng “dằn mặt”. Còn Ông Nguyễn Văn Minh và Cô Nguyễn Thị Thuý Quỳnh bị kéo theo vì cùng vụ án. Tuần rồi, tôi có bàn với văn phòng DB Christopher Smith, Chủ Tịch tiểu ban về nhân quyền ở Hạ Viện Hoa Kỳ, là nên chuyển trọng tâm: thay vì tập trung vào Bà Hằng thì nên đôn trường hợp của Ông Minh lên đầu vì nó gắn liền với vấn đề tự do tôn giáo: cả gia đình theo Phật Giáo Hoà Hảo và nay cả 3 người đàn ông trong nhà đều là TNLT. Tự do tôn giáo đang là mũi nhọn quốc tế vận có thể đưa Việt Nam vào danh sách CPC và chặn đứng TPP. Nhưng phải chờ sự xôn xao ở trong nước lắng xuống thì mới có thể bắt đầu đẩy mạnh ở ngoài này.

Và cũng theo nhận định của tôi, án tù dành cho 3 người này báo hiệu đợt trả tự do sắp đến cho một số TNLT. Nó nằm trong kế cân bằng giữa “biết điều” với thế giới bên ngoài và “dằn mặt” dân ở trong nước. Biết kế của đối phương rồi thì chúng ta cũng biết mình phải làm gì, cách nào và khi nào.

TIN THẾ GIỚI


Thủ tướng Ấn bắt đầu thăm Nhật : Hợp tác an ninh là trọng tâm nổi bật

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe (T) đón đồng nhiệm Ấn Độ Narendra Modi tại Kyoto, ngày 30/08/2014.
Thủ tướng Nhật Shinzo Abe (T) đón đồng nhiệm Ấn Độ Narendra Modi tại Kyoto, ngày 30/08/2014.
Reuters

Trọng Nghĩa
Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã lên đường đến Kyoto vào hôm nay, 30/08/2014, chặng đầu tiên trong chuyến công du chính thức Nhật Bản, sẽ kéo dài năm ngày. Theo giới quan sát, một trong những trọng tâm của chuyến thăm quan trọng này là việc tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng Nhật-Ấn trong bối cảnh cả New Delhi lẫn Tokyo đều đối mặt với tham vọng lãnh thổ và năng lực quân sự của Trung Quốc ngày càng tăng cao.

Theo chương trình dự kiến, Thủ tướng Ấn Độ ghé Kyoto, cố đô Nhật Bản trước khi đến thủ đô Tokyo vào thứ Hai 01/09 để tham gia cuộc họp thượng đỉnh với đồng nhiệm Nhật Bản Shinzo Abe. Trong một cử chỉ thể hiện thái độ hết sức trân trọng, ông Abe đích thân đến Kyoto để nghênh tiếp vị thượng khách Ấn Độ.
Theo hãng tin nhật Kyodo, quan chức Nhật Bản hôm nay cho biết là hai lãnh đạo Nhật Bản và Ấn Độ - « hai nền dân chủ hàng hải lớn ở châu Á » - dự kiến ​​sẽ khẳng định quyết tâm hợp tác với nhau trong việc đảm bảo một « trật tự hàng hải hòa bình và ổn định ». Mục tiêu không nói ra là nhằm đối phó với các hoạt động gia tăng của Bắc Kinh ở phía Biển Hoa Đông, Biển Đông và Ấn Độ Dương.
Tại hội nghị thượng đỉnh vào hôm thứ hai ở Tokyo, hai ông Abe và Modi được cho là sẽ đồng ý khởi động một cơ chế tham vấn về an ninh cấp Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng, nâng hẳn tầm mức quan trọng thường được gọi là cơ chế 2+2, hiện thời giới hạn ở cấp Thứ trưởng.
Một khi cơ chế đối thoại này được nâng lên cấp Bộ trưởng, Ấn Độ sẽ trở thành nước thứ năm có Đối thoại an ninh 2+2 cấp Bộ trưởng với Nhật Bản, một danh sách đã bao gồm Mỹ, Úc, Nga và Pháp.
Trong địa hạt quân sự, hai Thủ tướng Nhật và Ấn dự kiến ​​sẽ đồng ý duy trì các cuộc tập trận trên biển chung giữa hai nước, cũng như các cuộc diễn tập quân sự ba bên với Mỹ, rất có thể là một cách thường xuyên hơn.
Họ lãnh đạo chắc chắn cũng sẽ thảo luận về khả năng Ấn Độ mua loại thủy phi cơ US-2 của Nhật Bản.
Ngoài vấn đề hợp tác an ninh và quốc phòng, hai bên còn thảo luận về rất nhiều lãnh vực khác, từ hạt nhân cho đến đất hiếm. Nhận định chung về chuyến thăm này, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Ấn Độ Syed Akbaruddin vào hôm qua tuyên bố : « Kỳ vọng của chúng tôi về kết quả chuyến công du là Ấn Độ và Nhật Bản sẽ có thể nâng cao quan hệ đối tác chiến lược và toàn cầu lên một tầm cao mới. »

 Đài Loan chi hàng tỷ đô la tăng cường phòng thủ đề phòng với Trung Quốc

Hệ thống chống tên lửa Sky Bow 2 của Đài Loan
Hệ thống chống tên lửa Sky Bow 2 của Đài Loan
DR

Anh Vũ
Đài Loan có kế hoạch trong vòng 9 năm tới sẽ chi 2,5 tỷ đô la Mỹ để mua sắm hệ thống chống tên lửa tăng cường khả năng phòng thủ để đối phó với Trung Hoa lục địa, AFP dẫn nguồn tin từ một dân biểu và báo chí của đảo quốc hôm nay 30/8/2014..

Nghị sĩ Lâm Úc Phương thuộc tiểu ban Quốc phòng, cho biết bộ Quốc phòng Đài Loan dự kiến từ năm 2015 đến 2024 sẽ trang bị hệ thống tên lửa đất đối không chế tạo trong nước Thiên Cung 3, hay còn có tên gọi Sky Bow 3, để thay thế hệ thống Hawk đã cũ.
Đây là kế hoạch mua sắm vũ khí lớn nhất trong vài năm gần đây của Đài Loan. Ông Lâm cho biết thêm là dự chi ngân sách quốc phòng đã được trình Quốc hội để thông qua hôm 29/8.
Vẫn theo ông Lâm, hệ thống tên lửa phòng không Thiên Cung 3 do Viện khoa học công nghệ Đầi Loan Trung Sơn thiết kế chế tạo trang bị cho hệ thống phòng không chuyên dùng bắn chặn các đầu đạn tên lửa đạn đạo chiến thuật.
Từ năm 1996, viện khoa học này đã đầu tư gần một tỷ đô la để triển khai hệ thống chống tên lửa này.
Thiên Cung 3 đã được đưa ra giới thiệu trong lễ diễu binh mừng quốc khánh, Đài Loan năm 2007 và đến năm 2011 loại tên lửa này đã được thử nghiệm thành công.
Nhật báo Đài Loan Apple Daily dẫn lời cựu bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan Cao Hòa Trụ cho biết hệ thống Thiên Cung 3, có khả năng bắn chặn các loại tên lửa hành trình và chống lại được loại máy bay tàng hình J-20 của Trung Quốc, sẽ giúp Đài Loan tăng cường khả năng quốc phòng rất nhiều .
Từ khi, Tổng thống Mã Anh Cửu lên nắm quyền năm 2008 và sau đó tái cử năm 2012, bầu không khí quan hệ Trung Đài đã trở nên hòa dịu nhiều. Tuy nhiên Trung Quốc vẫn coi đảo Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời. Bắc Kinh chủ trương chờ thời cơ thuận tiện là sáp nhập mảnh đất này về Trung Hoa lục địa, trong đó không loại trừ khả năng sử dụng vũ lực. Trong khi đó Đài loan luôn đề cao cảnh giác, không tiếc tiền chi phí tăng cường khả năng phòng thủ để có thể đối phó với cuộc thôn tính bằng vũ lực của Bắc Kinh.
Là một đảo quốc nhỏ nhưng đến nay Đài Loan đã trang bị cho mình một kho vũ khí rất hiện đại đầy đủ cả hải lục không quân. Chủ yếu các vũ khí tối tân của Đài Loan đều được mua của Mỹ.
Các chuyên gia Đài Loan đánh giá Quân giải phóng Trung Quốc hiện vẫn chĩa hơn 1600 tên lửa về phía hòn đảo nhỏ này.

 

Tư Lệnh Mỹ ở Á Châu-TBD kêu gọi TQ hành động tương xứng vai trò lãnh đạo khu vực

Tư Lệnh Quân đội Mỹ khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, Đô Đốc Samuel Locklear
Tư Lệnh Quân đội Mỹ khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, Đô Đốc Samuel Locklear
Đô Đốc Samuel Locklear nói Trung Quốc nên hành động như một lãnh đạo khu vực và tiếp tay giải quyết các cuộc tranh chấp lãnh thổ trong Biển Đông.
Bản tin hôm nay của AP trích dẫn tuyên bố của Đô Đốc Locklear hôm thứ năm nói rằng Bắc Kinh nên từ bỏ những hành động hồi gần đây để khẳng định chủ quyền trên hầu như toàn bộ khu vực có tầm quan trọng chiến lược này, những hành động mà theo ông, có tính cách khiêu khích.
Đô Đốc Locklear nói rằng trong khi Trung Quốc tin rằng họ có cơ sở lịch sử vững chắc để đòi chủ quyền vùng biển này, các nước khác cũng có niềm tin vững chắc không kém về chủ quyền của họ đối với khu vực đó.
Nói chuyện với các ký giả tại Trung tâm Đông Tây có trụ sở tại Honolulu, Tư Lệnh Quân đội Mỹ tại khu vực Á Châu-Thái Bình Dương phát biểu:
“Trung Quốc là một lãnh đạo trong khu vực, một lãnh đạo trên thế giới. Họ có trách nhiệm lãnh đạo trong cuộc tranh chấp, để đạt một giải pháp tương nhượng về những vấn đề nan giải này với các nước láng giềng.”
Ông Locklear nói tất cả những nước đòi chủ quyền phải tránh các hành động có tính khiêu khích, và tìm một giải pháp cho vấn đề mà không dùng tới các biện pháp hù dọa.
Báo The Washington Times thuật lời của Đô Đốc Locklear nói rằng Trung Quốc đã khích động, và tạo bất ổn trong khu vực. Đô Đốc Locklear  nói rằng trong tư cách một lãnh đạo khu vực và nền kinh tế lớn nhất thế giới trong tương lai, Trung Quốc phải “có trách nhiệm lãnh đạo và tạo ra một môi trường an ninh trong khu vực. Thẳng thắn mà nói, quan điểm của tôi là Bắc Kinh đã làm ngược lại trong mấy năm gần đây.”
Ông liệt kê một loạt hành động của Bắc Kinh đã làm leo thang tranh chấp, kể cả “điều giàn khoan dầu vào các vùng biển gần Việt Nam, nạo vét biển quanh các quần đảo và bãi san hô, ra các luật lệ mới để cai quản các vùng tranh chấp, và thái độ miễn cưỡng, không muốn giải quyết vấn đề tại các diễn đàn pháp lý quốc tế.”
Đô Đốc Locklear nói nếu nhìn lại quãng thời gian một năm qua, ta thấy rằng Bắc Kinh đã đạt tiến bộ đáng kể trong việc thay đổi hiện trạng theo hướng có lợi cho họ. Ông nói Trung Quốc có thể có những lập luận có tính thuyết phục, nhưng nước này cần phải đặt những lập luận ấy trong một khuôn sườn pháp lý hiện đại.
Ông nói yêu cầu của Hoa Kỳ là Bắc Kinh phải minh bạch hơn. Họ nghĩ họ có những lý luận vững chắc, nhưng chúng ta không thể biết chắc cho tới khi các lý luận đó được đưa ra mổ xẻ tại một diễn đàn quốc tế.
Tư Lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại khu vực Á Châu-Thái bình dương khẳng định rằng tất cả các nước tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông phải tránh các hành động có tính khiêu khích, và tìm một giải pháp tương nhượng, mà mọi bên đều cảm thấy hài lòng.
Philippines, Việt Nam, Malaysia và Brunei là các nước khác cũng tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông.
Đánh giá các quan hệ Mỹ-Trung nói chung tại buổi họp báo ở Trung Tâm Đông –Tây ở Honolulu, Đô Đốc Locklear nói các quan hệ ấy về phần lớn, tới 80% là tích cực. Tuy nhiên những lời chỉ trích của ông như vừa kể, theo tờ báo TheWashington Times, là “một chỉ dấu cho thấy nỗi bực dọc với Bắc Kinh trong quân đội Hoa Kỳ đang gia tăng.”
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Ban Việt Ngữ - VOA, Chủ tịch Hội Đông Tây, Tiến sĩ Charles E. Morrison nói ông hy vọng xung đột quân sự sẽ không xảy ra. Điều cần thiết, theo Tiến sĩ Morrison, là khu vực Á Châu-Thái bình dương phải dồn nỗ lực để phát triển các tổ chức vùng, các cơ chế để giải quyết tranh chấp và phát triển hòa bình, tương tự như những điều mà Châu Âu đã thực hiện thành công sau hai cuộc Thế Chiến. Tiến sĩ Morrison:

“Chúng ta không đề cập tới xung đột quân sự trong khu vực, tôi hy vọng thế, điều mà chúng ta nói tới là những nỗ lực để thiết lập những định chế khu vực và định chế toàn cầu, và Hoa Kỳ tham gia rất tích cực vào các nỗ lực này. Theo cách nhìn của tôi thì trong thế kỷ 20 vừa qua, đã xảy ra hai cuộc thế chiến xuất phát từ Âu Châu, bây giờ dân chúng ở Pháp, ở Đức, ở Ý, và cả Mỹ nữa, họ không thể hình dung đất nước họ sẽ rơi vào chiến tranh. Họ đã thiết lập rất nhiều định chế sau này trở thành những dấu ấn của một cộng đồng quốc tế bền vững. Tôi cho rằng đây là một thách thức lớn đối với khu vực Á Châu-Thái bình dương trong thế kỷ 21. Chúng ta phải xây dựng các quan hệ như thế nào để chiến tranh trở thành một ý niệm không bao giờ có thể xảy ra. Đây là thách thức mà Hoa Kỳ sẽ tham gia hết mình để thực hiện, bởi vì mặc dù Hoa Kỳ về mặt địa lý không thuộc lục địa Á Châu, nhưng Hoa Kỳ có những lợi ích và những liên hệ mật thiết về mọi mặt kinh tế, xã hội, v..v.. với Á Châu, và sẽ tiếp tục có mặt trong tương lai của khu vực này.”
Thưa quý vị, Tiến sĩ Charles Morrison là Chủ tịch Hội Đông-Tây, một trong những viện nghiên cứu chính sách lớn nhất khu vực Châu Á-Thái bình dương.
Nguồn: AP, Washington Times, Xinhua, VOA Interview
http://www.voatiengviet.com/content/tu-lenh-my-tai-a-chau-tbd-keu-goi-tq-hanh-dong-tuong-xung-voi-vai-tro-lanh-dao-khu-vuc/2432327.html

NATO lên án các hành động của Nga ở Ukraine



Tổng thứ ký NATO Anders Fogh Rasmussen nói chuyện tại một cuộc họp báo, 29/8/14
Tổng thứ ký NATO Anders Fogh Rasmussen nói chuyện tại một cuộc họp báo, 29/8/14

Các giới chức NATO ở Brussels đã mở một cuộc họp khẩn với các đại diện của Ukraine vào ngày hôm nay, sau khi liên minh công bố các hình ảnh chụp bằng vệ tinh mà NATO nói là cho thấy lực lượng Nga bên trong Ukraine.
Ukraine muốn được giúp để đối phó với vụ xâm nhập của Nga. Thủ tướng nước này từng nói lực lượng Ukraine có thể xử lý các phần tử đòi ly khai thân Nga, chứ không phải là quân đội Nga.
Điều Ukraine có được là những lời lẽ ủng hộ nhiều hơn, và một gợi ý là có thể có thêm biện pháp vào tuần tới tại một cuộc họp thượng đỉnh NATO.

Tổng thư ký NATO Anders Fogh Rasmussen phát biểu sau cuộc họp hôm nay, bác bỏ điều ông gọi là “những lời phủ nhận trống rỗng” từ phía Moscow.
“Nay đã rõ là quân đội và thiết bị của Nga đã băng qua biên giới một cách bất hợp pháp vào miền đông và đông nam Ukraine. Đây không phải là một hành động lẻ loi, mà nằm trong khuôn khổ một hình thức nguy hiểm trong nhiều tháng nhằm gây mất ổn định cho Ukraine trong tư cách là một nước có chủ quyền.”

Ông Rasmussen nói NATO lên án các vụ tấn công của Nga vào lực lượng Ukraine, những vụ tấn công mà ông nói là đã được phát động cả từ bên trong  Ukraine lẫn băng qua biên giới ở Nga.
Ông cũng chỉ trích sự hỗ trợ vật chất của Nga dành cho các phần tử đòi ly khai, và việc duy trì điều ông gọi là ‘hàng ngàn binh sĩ sẵn sàng tác chiến ở gần biên giới Ukraine:
“Chúng tôi kêu gọi Nga ngưng các hành động quân sự phi pháp, ngưng việc hỗ trợ cho các phần tử đòi ly khai, và tiến hành các biện pháp tức thời và có thể kiểm chứng được hướng tới việc xuống thang cuộc khủng hoảng nghiêm trọng này.”
Tại Moscow, ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov bác bỏ những lời tuyên bố về hành động quân sự của Nga ở Ukraine.

Ông Lavrov nói những lời tuyên bố đó được đưa ra bất cứ khi nào lực lượng đòi ly khai đạt được những thắng lợi chống lại quân đội Ukraine. Và ông lên án phương Tây là làm giả các hình ảnh chụp bằng vệ tinh mà họ nói là cho thấy quân đội Nga ở Ukraine.
Hồi sớm hôm nay, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã công bố mợt thông cáo kêu gọi các phần tử đòi ly khai cho phép một số binh sĩ Ukraine bị vây hãm rút đi, và để cho Ukraine cho phép một đoàn xe nhân đạo băng qua biên giới vào tiếp tế cho thường dân bị kẹt trong cuộc giao tranh. Ukraine lo ngại rằng viện trợ sẽ lọt vào tay các chiến binh ly khai.

Sau cuộc họp giữa NATO và Ukraine ở Brussels, Tổng thư ký Rasmussen nói các nhà lãnh đạo Ukraine sẽ quyết định tại cuộc họp thượng đỉnh giữa họ tại Anh quốc vào tuần tới bàn về hợp tác tăng cường với Ukraine, kể cả chuyện cung cấp tài chính cho việc nâng cấp đồ tiếp vận quân sự, chỉ huy và kiểm soát, và các hệ thống an ninh mạng, và giúp cho các binh sĩ bị thương.
NATO cũng sẽ mở các cuộc  thao diễn quân sự ở miền tây Ukraine vào tháng tới, ở cách xa mặt trận. Nhưng các chuyên gia cho rằng Ukriane không nên trông đợi liên minh can thiệp trực  tiếp.
Ông Robin Niblett là giám đốc tổ chức Chatham House ở London, và là chủ tịch một uỷ ban tham vấn cho Tổng thư ký Rasmussen:

“Theo tôi khả năng có bất cứ hình thức can thiệp công khai nào là rất thấp. Không có hậu thuẫn cho việc ấy, theo ông, ở cấp liên minh. Sẽ không có ai tự ý hành động. Đơn giản là không thể có được.”
Ông Niblett nói có phần chắc hơn là các thành viên NATo sẽ cung cấp viện trợ không sát thương cho Ukraine, áp đặt các biện pháp chế  tài kinh tế gay gắt hơn với Nga, củng cố sự hiện diện quân sự ổ các nước thành viên phía đông, trong đó có Ba Lan và các quốc gia vùng Baltic, và cung cấp thêm viện trợ cho các nước bạn không phải là thành viên dọc theo biên giới Nga.

Tổng thư ký Rasmussen cũng nêu ra điểm NATO đã đồng ý trên nguyên tắc chấp nhận Ukraine là một thành viên vào năm 2008. Ông nói việc liệu có theo đuổi chuyện gia nhập hay không, có liên quan đến nhiều tiêu chuẩn, là tuỳ thuộc vào quốc hội nước này.
Nhưng các chuyên gia cho rằng các thành viên NATO sẽ miễn cưỡng chấp nhận Ukraine chừng nào nước này còn xung đột với Nga, bởi vì liên minh buộc phải bênh vực bất cứ thành viên nào bị tấn công.
Ngăn chặn Ukraine gia nhập NATO được cho là một trong các mục tiêu chính của Nga. Và một số chuyên gia nói đó có thể là một thành phần chủ chốt của một thoả thuận, nếu như chính phủ Ukraine sẵn sàng cam kết không gia nhập liên minh.
 http://www.voatiengviet.com/content/nato-len-an-cac-hanh-dong-cua-nga-o-ukraine/2432643.html

 Việt Nam rộ lên tin đồn về sức khỏe ông Nguyễn Bá Thanh 

Ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng ban Nội chính Trung ương Việt Nam.
Ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng ban Nội chính Trung ương Việt Nam.
thanhnien.com.vn

Thụy My
Từ mấy ngày qua tại Việt Nam đã rộ lên tin đồn về sự kiện ông Nguyễn Bá Thanh, Ủy viên trung ương đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương bị bệnh nặng đang chữa trị ở Mỹ, thậm chí có tin cho biết ông vừa qua đời sáng nay 29/08/2014. Báo chí trong nước đã cải chính tin xấu về tình hình sức khỏe của nhân vật đang phụ trách công cuộc chống tham nhũng tại Việt Nam.

Ông Nguyễn Bá Thanh, 61 tuổi, là Chủ tịch đầu tiên của Đà Nẵng sau khi tỉnh này tách rời khỏi Quảng Nam. Năm 2003 ông giữ chức Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, và đến cuối năm 2012 khi Bộ Chính trị quyết định thành lập Ban Nội chính và Ban Kinh tế, ông được bổ nhiệm làm Trưởng ban Nội chính Trung ương.
Nổi tiếng về cách phát biểu thẳng thắn, ông Nguyễn Bá Thanh trong thời gian dài lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đã giúp địa phương này trở thành thành phố thuận lợi cho kinh doanh hàng đầu tại Việt Nam. Đà Nẵng cũng có tiếng là một thành phố có cách quản lý linh hoạt, đặc biệt là có bệnh viện ung thư miễn phí hiện đại.
Tuy cũng có một số tai tiếng về ông, nhưng nhiều người chờ đợi những động thái mạnh dạn trong công cuộc chống tham nhũng, cho đến giờ hiện vẫn chưa mang lại những kết quả đáng kể. Thế nên các tin tức xấu về sức khỏe của ông Nguyễn Bá Thanh được rất nhiều người chú ý, khiến các tờ báo lớn của Việt Nam hôm nay phải lên tiếng đính chính.
RFI Việt ngữ đã liên lạc với ông Nguyễn Công Khế, Tổng giám đốc Tập đoàn truyền thông Thanh Niên, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên về thông tin này. Ông cho biết :

Ông Nguyễn Công Khế: Cách đây bốn ngày, có một doanh nghiệp lớn có điện hỏi tôi về cái tin giống như cô hỏi. Tôi cũng bán tin bán nghi, nên tôi gọi điện cho ông Nguyễn Xuân Phúc, Phó thủ tướng, thì ảnh trả lời với tôi là cách đây một ngày, anh Bá Thanh có trao đổi với ảnh nói chuyện, chuyện trò qua lại không có vấn đề gì.
Sau khi điện cho anh Phúc xong, tôi có gọi điện trực tiếp vào số của anh (Bá Thanh), thì anh bắt máy. Tôi nói : « Anh Bá Thanh ơi, nghe nói có chuyện gì hông ? ». Ổng nói : « Mình đang ở Mỹ để chữa bịnh, ở Washington để khám bịnh lại ». Tôi hỏi : « Sức khỏe ra sao ? ». Ảnh nói : « Sức khỏe rất tốt ».
Nhưng anh em bên ngoài, chỗ họ cũng có thông tin thì họ nói với tôi thậm chí là bên Singapore khám bệnh thì ảnh chưa hoàn toàn tin, đi qua Mỹ thì nghe nói là đã loại hẳn tình hình nguy hiểm. Không phải là bệnh gì ghê gớm, nguy hiểm đâu !
RFI: Thưa anh, như vậy theo anh biết là bệnh gì ?

Ông Nguyễn Công Khế: Nghe nói thôi, vì tôi không giỏi về y khoa, đó là rối loạn hồng tiểu cầu, không biết đó là bệnh gì. Trước đó, khi mới bị bệnh thì tôi hỏi ảnh, ảnh nói là không đến nỗi nào. Và tôi cũng nghe một nguồn tin của một quan chức cao cấp về sức khỏe trung ương, cũng nói đúng như vậy.
Bây giờ ở Việt Nam nhiều tin đồn lắm. Nhưng tôi chắc chắn, vì ảnh mới nhắn tin cho tôi cách đây chừng ba tiếng đồng hồ. Tôi chúc sức khỏe, và ảnh cảm ơn, chúc lại.
RFI: Xin rất cám ơn ông Nguyễn Công Khế, Tổng giám đốc Tập đoàn truyền thông Thanh Niên.

Friday, August 29, 2014

TẠ KÝ

 


THƠ TẠ KÝ


taky33
gd-121 gd-289 ta-ky-tuoitre1
***
***
Tạ Ký sinh năm 1928 (Mậu Thìn) tại làng Trung Phước, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.  Làng Trung Phước nằm trên hữu ngạn con sông Thu Bồn, là một vùng có nhiểu núi non, từ đây càng tiến về phía tây thì càng đi vào vùng thượng du.  Phong cảnh vùng này hữu tình, đồi núi quê anh là nơi Bùi Giáng đã đi chăn dê, hai chàng thi sĩ đất Quảng xuất thân cùng một làng, thậm chí nhà ở cùng một xóm với nhau.
Làm thơ tử thuở còn học tiểu học cho mãi đến những năm cuối của đời mình, cuộc đời của Tạ Ký gắn liền với thơ, cũng như với việc dạy học.  Năm 1970 ông xuất bản tập thơ Sầu Ở Lại, đã đoạt giải thơ của VNCH sau đó.  Tập thơ thứ nhì Cô Đơn Còn Mãi ra đời năm 1973.  Từ 1975, ông đi tù cải tạo trong hai năm, đã làm nhiều thơ trong tù, rất tiếc hiện chỉ còn một số ít trong trí nhớ của các bạn đồng tù.
Cuối năm 1978 Tạ Ký từ Sài Gòn đi về sống ở An Giang, và đã qua đời trong cô độc tại đây vào tháng Ba năm 1979.  Hai mươi hai năm sau, vào ngày 5 tháng Tư năm 2001, gia đình và bạn bè đã dời mộ ông từ Chợ Mới, An Giang về cải táng tại nghĩa trang Gò Dưa, Thủ Đức, bên cạnh mộ phần của Bùi Giáng, với ước mong đặt để trở lại chỗ nằm và chỗ đứng xứng đáng cho ông, trong cuộc đời cũng như trong lòng người.
************
tuyet-hong-nguyen (13)
tuyet-hong-nguyen (14)
************
Sơ Nguyện:    Hay là tôi đến thăm em?  /  Chiều không mưa, trăng chưa ngả bên thềm,  /  Đường nhân thế lối đi về Vĩnh Viễn.  /  Tôi chín chắn như thủy thủ già vượt biển  /  Đọc mây sao tìm hướng của phong ba.  /  Mùa lỡ xuân mà ngày cũng sắp tà,  /  Nên do dự khi mang buồn đến biếu.  /  Người con gái thường vô tình chẳng hiểu  /  Kẻ thương mình thức trọn giấc chiêm bao.  /  Ba mươi tuổi rồi biết nói làm sao,  /  Lòng luyến mộ lẫn ít nhiều chua chát.  /  Trời hôm nay vài gợn mây tím nhạt.  /  Hay là tôi đến thăm em?  /  Thương là thương, dù đêm trắng cả đêm  /  Vẫn thức chép những vần thơ gửi tặng.  /  Lòng chúng ta hẳn nhiều phen cay đắng,  /  Đường em đi hoa đẹp nở bao lần?  /  (Những đóa hoa tình của một thời xuân)  /  Cũng buồn thật nếu nhìn nhau đắm đuối,  /  Cũng chán thật nếu lòng kia tiếp nối,  /  Và yêu đương thành những chiếc hôn nồng,  /  Giấc chiêm bao gờn gợn những đường cong.  /  Hay là tôi đến…?  /  Dòng mắt em xanh,  /  Mong manh mong manh,  /  Nửa chiều sơ nguyện.  ///  (cho Tuyết Hồng)
*********
Anh Cho Em Mùa Xuân:    Mỗi đêm một gói thuốc,  /  Hút nhiều nứt cả môi,  /  Nỗi buồn không nói được,  /  Nỗi buồn ăn vào tôi.  ///  Trời mùa đông rừng núi,  /  Đời mùa đông vô cùng!  /  Bánh xe nào tung bụi,  /  Nhịp chim nào đã ngưng.  ///  “Anh cho em mùa xuân”  /  Giọng ca buồn quá sức!  /  Cô gái đầu cúi gục:  /  _  Anh cho em mùa xuân.  ///  Mớ tóc xanh đã bạc,  /  Mớ môi hồng đã phai,  /  Anh cho em gió lạc,  /  Anh cho em mưa dài!  ///  Trời mùa đông rừng núi,  /  Đời mùa đông vô cùng!  /  Hút thuốc trong bóng tối,  /  Khói có bay lên không?  ///  (tặng Phạm Công Thiện)
**********
Xin:    Chỉ xin một nửa miệng cười,  /  Chỉ xin một phút bên người yêu thương,  /  Chỉ xin một chút dư hương,  /  Gọi làm duyên suốt nẻo đường viễn du.  /  Cố nhân, thôi đã tạ từ,  /  Dăm năm đấy nhỉ, thực hư thế nào?  /  Má còn làm thẹn hoa đào?  /  Mắt còn làm nhạt ngàn sao trên trời?  /  Tóc còn xanh thuở đôi mươi?  /  Lòng còn vui thuở hoa cười ước mơ?  /  Riêng đây từ lạc thế cờ,  /  Đắng cay cười cợt, ngẩn ngơ khóc thầm!  /  Trang tình sử, chuyện tri âm,  /  Khổ đau ai thấu được tâm sự này!  /  Phong yên từ độ những ngày…  /  Hậu đình hoa chẳng chau mày thế nhân.  /  Đỉnh đồng chưa vững ba chân,  /  Hai bờ cùng nổi phong trần cả hai!  /  Mắt sâu trắng những đêm dài,  /  Xin cho chút mộng để cài lên mi.  /  Ngày mai, thôi tính làm chi!  ///  (tặng N.T. Lê Tấn Lộc)
************
Chuyện Buồn:    Rồi những chuyện thần tiên bên xó bếp  /  Chẳng làm mê lứa tuổi đã ba mươi  /  Thầm ước ao thay đổi một chân trời,  /  Không thắp nến để tưởng rằng ánh sáng.  /  Quỳ mỏi gối nguyện cầu về dĩ vãng,  /  Thuở xa nào em gái nụ mười lăm,  /  Giấc tiền thân sánh phượng một đêm rằm,  /  Xếp tình sử, gấp tay ngà làm gối.  /  Tuy thân thiết mà không hề tội lỗi,  /  Yêu say mê chẳng tính chuyện vuông tròn,  /  Bởi vì yêu là trốn bớt cô đơn,  /  Mà trói buộc làm phiền nhau biết mấy!  /  Chàng trai trẻ mơ phượng hoàng sẽ gáy,  /  Thời hoàng kim cửa mở suốt năm canh,  /  Có vì vua từ trong đám dân lành  /  Trốn không được đành lên ngôi cửu ngũ,  /  Luật pháp bỏ, dẹp luôn oai cuồng vũ,  /  Giếng đào đi, ruộng cày lấy mà ăn.  /  Nhưng buồn thay là những việc trên trần,  /  Thế Chiến Quốc sao bày ra lắm thế?  /  Có kẽ yêu nhau vội vàng quá nhẽ,  /  Trao tờ thư, để ngỏ cửa khuê phòng,  /  Mà ái tình bốn vó ngựa truy phong!  /  Lứa tuổi ba mươi đời chưa vui mấy,  /  Buồn thương dạt dào cười mà lệ chảy:  /  Chuyện tài hoa người lớn chẳng thèm nghe,  /  Chuyện thần tiên con trẻ chẳng say mê,  /  Nên chuyện buồn nước mắt ngập tràn mi.
************
Viết Trang Tình Sử:    Ai về xứ mộng, xứ mơ,  /  Cho tôi gửi ít vần thơ tặng nàng:  /  _ Sông Hương lắm chuyến đò ngang,  /  Chờ anh em nhé, đừng sang một mình.  /  Chờ anh kể chuyện tâm tình:  /  Từ anh theo đuổi những hình phù vân…  /  Thôi em, đã lỡ một lần,  /  Mấy năm đau khổ đã dần vơi vơi,  /  Nghĩ thương kẻ ấy sai lời,  /  Nghĩ thương em những mong đời anh nên.  /  Xa xôi nhiều lúc anh quên  /  Rằng em gái vẫn chong đèn đọc thơ,  /  Vẫn cầm duyên để đợi chờ,  /  Vẫn trông phượng đỏ hai bờ Hương Giang.  /  Chiều lên huyền hoặc bướm vàng,  /  Em như công chúa mơ chàng Thám Hoa.  /  Không, em tôi còn mẹ già,  /  Còn đàn em dại, cửa nhà cậy trông.  /  Có ai nhắc chuyện lấy chồng,  /  Thì em đôi má ửng hồng thêm duyên.  /  Giận mình chưa đạt lời nguyền,  /  Anh không mong được chung thuyền ấy đâu.  /  Khi mô người bỏ cau trầu,  /  Cho anh biết để ủ sầu lên men,  /  Để anh vặn nhỏ ngọn đèn,  /  Viết trang tình sử cùng tên một người.  ///  (tặng Thế Viên)
************
Thì Trang Tình Sử:    Có người thường hỏi thăm tôi  /  Viết trang tình sử tới hồi chót chưa?  /  Có trăng vàng ngập phên thưa?  /  Có đêm chăn gối nghe mưa ngoài trời?  /  Thưa rằng không viết nữa rồi,  /  Một trăm câu chuyện trên đời giống nhau!  /  Ai làm cho tóc bạc đầu?  /  Cho câu kỳ ngộ thành câu giã từ?  /  Đã đành là việc riêng tư,  /  Đã đành là để tờ thư võ vàng,  /  Đã đành lắm chuyến đò ngang,  /  Sông sâu khá dễ…  nên sang một mình.  /  Làm trai mơ khúc Hậu Đình,  /  Trách chi thương nữ mang tình bán rao!  /  Đời đem vàng đọ yêu đào,  /  Cho nên son phấn dự vào gió sương.  /  Góp tài hoa dựng đoạn trường,  /  Ba trăm năm nữa ai thương chúng mình?  /  Nói chi chuyện nhục cùng vinh,  /  Giai nhân thất thểu, thư sinh thẫn thờ.  /  Chẳng thà liều một thế cờ,  /  Đem thân trai đổi những giờ thịnh suy,  /  Chẳng thà liều một chuyến đi,  /  Để đôi người bạn chờ khi trở về.  /  Còn hơn nhìn mãi vết xe,  /  Còn hơn nhớ mãi trăng thề năm nao  /  Còn hơn cháo múc tiền trao,  /  Tóc xanh bạc tóc, môi đào héo môi.  /  Chong đèn khuya viết chuyện đời  /  Tình xưa sử nến hỡi ơi còn gì?  /  Mười lăm năm:  một Kiều nhi,  /  Ba mươi năm hỏi làm chi bây giờ?  /  Tâm tình:  lỗi một đường tơ,  /  Thế tình:  loạn giữa hai bờ lợi danh,  /  Nhân tình:  khi rách, khi lành,  /  Thì trang tình sử lại đành dở dang.
************
Tình Xưa Sử Nến:    Hoang sơ tím áo nữ kiều,  /  Ngọt môi mùa loạn ngàn xiêu gió thành.  /  Mộng vừa rụng ngọc Oanh Oanh,  /  Nửa đêm cùng nửa tuổi xanh dâng chàng.  /  Tình xưa sử nến dăm hàng,  /  Gối hai thứ tóc, tay choàng tâm tư.  /  Sơ giao, tiết tấu, tờ thư:  /  Chữ Chân cùng với chữ Hư hẹn hò:  /  Rằng em người xứ Long Hồ,  /  Rằng nhà em ở bên bờ Tiền Giang…  /  Bỗng dưng không tiếng oanh vàng,  /  Mà sao giấc mộng yêu nàng bỗng dưng…  /  Thương thương huyền hoặc, nửa chừng,  /  Bóng gầy chiếm hết một vùng không gian.
**************
Niềm Bể Dâu Này:    Ta viết bài thơ thương nhớ đây,  /  Run run tay ấy nắm tay này,  /  Bao lâu em lạc hồn ta nhỉ?  /  Đô thị cười nghiêng mí mắt gầy.  ///  Ta vẫn chờ em héo cả thơ,  /  Đèn khuya đêm trắng nẻo tương tư.  /  Tóc tơ có kẻ ngàn năm hẹn,  /  Ai hẹn ngàn năm chuyện tóc tơ?  ///  Từ thuở quen nhau, rồi cách biệt,  /  Lòng nghe còn nặng chuyện tang thương,  /  Mà dâu bể dậy từ chinh chiến,  /  Từ thuở trên đầu tóc điểm sương.  ///  Mê lối vàng son, lạc những đâu?  /  Em ơi!  má thắm có nguyên màu?  /  Bên hiên Lãm Thúy câu tình tự,  /  Niềm bể dâu này tiếp nối nhau.  ///  (tặng Vũ Thược)
***************
Xin Thật Im:    Thật im, thật im, nghe kìa em đêm cạn,  /  Trắng dờn sương mà lạnh thấu tâm can.  /  Miệng cười ư?  sao lệ vẫn đôi hàng?  /  Hứa hẹn hão!  không buộc lời gió lại.  /  Tay đã giao tình, việc đời oan trái,  /  Hay là ngu, là dại, rất là điên!  /  Em dẫn tôi qua nhiều xứ ưu phiền,  /  Chim gãy cánh, sao rơi, hoa héo rụng!  /  Và mắt tôi khi không còn mơ mộng,  /  Và hồn tôi khi không hát thơ yêu,  /  Vốn tài hoa nên tình cũng rất kiêu,  /  Chọn lựa quá nên tôi nhầm đến chết!  /  Đời gian ngoa mà mình không quỷ quyệt  /  Nên đành thua cho đến trắng hai tay!  /  Trách gì ai đường nghĩa địa buồn thay!  /  Xe dẫn xác lắc lư từng vó ngựa…  /  Xin thật im, thật im, im thêm chút nữa.  /  Ồ vô duyên đừng vờ thế em ơi!  /  Kìa xem trăng ngả ngửa đã lâu rồi,  /  Chim vỡ tổ vì cất cao giọng quá!  /  Bởi tin lắm nên không ngờ dối trá,  /  Bởi miệng hoa còn biết gửi hôn yêu,  /  Ai dựng bình minh bằng ánh nắng chiều,  /  Và sao rụng chứ không phải là hoa nở,  /  Cửa lòng đóng, cửa mồ kia sắp mở,  /  Xin im giùm, thật im nữa, em ơi!  /  Đừng có thời gian em đã chẳng xa tôi.  ///
**************
Rưng Rưng:    Đôi nàng hoa nhớ bướm  /  Rưng rưng giọt sương mai  /  Gió tình đem ý ướm  /  Lảo đảo lệ tuôn dài.  ///  Bát trời bao la lắm  /  Sao ngọc lạnh rưng rưng  /  Mây thưa che chẳng ấm  /  Đôi giọt rớt lưng chừng.  ///  Sáo ai run nức nở  /  Mi tiên hồng tương tư  /  Bàn tay ngà bỡ ngỡ  /  Lật từng trang tình thư.  ///  Mắt huyền rưng rưng lệ  /  Nàng úp mặt xuống bàn,  /  Thơ tình gieo lạc điệu  /  Rưng rưng lòng thi nhân.  ///
***********
Đếm Sao:    Ngày suối biếc cười rằng nai ngớ ngẩn,  /  Ngày hoa rừng nở lấp ánh sao đêm,  /  Ngày chim hót cỏ cây buồn vớ vẩn,  /  Đó là ngày vừa mới được quen em.  ///  Hội thảo dã đủ đầy chim với suối,  /  Cây nhìn trời, sao cúi xuống lưng nai,  /  Nước trong vắt coi chừng đau sỏi cuội,  /  Em của anh chừ,  ai của ngày mai?  ///  Trong tiếng gió, nghe chừng hoa trách móc:  /  _ Hương dù bay, lòng gió vẫn vương hương.  /  Trong tiếng suối, nghe chừng hoa muốn khóc:  /  _ Suối dù tuôn, hoa vẫn đẹp như thường!  ///  Ngày mái tóc không còn xanh được nữa,  /  Ngày đôi tay thôi dệt mộng phù hoa,  /  Thì em sẽ vì anh mà mở cửa  /  Trông lên trời, đếm những điểm sao xa.  ///  (tặng Cam Duy Lễ)
***********
Em Chỉ Trả Lời:    Có rượu nhiều không mà say đêm nay?  /  Có tiếng giai nhân cười vang đường dài?  /  Cô đơn từng bước lê trong tối,  /  Có hoa nào không mà anh đưa tay?  ///  Ngày xưa dặm liễu xanh còn xanh,  /  Ngày xưa trang thư thêm trang tình.  /  Ngày nay một phút vô tư mất,  /  Ngày nay một phút buồn mông mênh.  ///  Có rượu nhiều không mà say trọn đêm?  /  Có người ngày xưa ta gọi là em?  /  Còn đâu mộng thắm mơ xanh nữa,  /  Tuổi nhỏ qua rồi, hoa rơi bên thềm!  ///  Ngày xưa rằng vui, hay không vui?  /  Có ai cầm tay, ai hôn môi?  /  Nghẹn ngào khẽ gọi tên em gái,  /  Tên em theo gió bay đi rồi!  ///  Có rượu nhiều không mà ta mời nhau?  /  Có buồn vu vơ như thuở ban đầu?  /  Gọi em suốt nửa đời em nhỉ?  /  Em chỉ trả lời trong giấc chiêm bao!  ///  (tặng Tôn Thất Trung Nghĩa)
************
Bài Thơ Cuối Mùa:    Không vui từ dạo mới quen nhau,  /  Bờ cách xa bờ, ai biết đâu  /  Em vẫn bình minh đôi mắt ngọc,   /  Còn ta đêm tối phủ từ lâu!  ///  Những buổi xa vời ta đợi thư,  /  Nửa khuya sực tỉnh, khóc bao giờ?  /  Có chăng em nhỉ, hay là mộng?  /  Xin được cười yêu trong giấc mơ.  ///  Em đắp thành cao ngăn cách ta,  /  Ta ngồi trông mãi giọt mưa sa.  /  Không em, mai mốt còn chi nữa?  /  Ngày tháng buồn tênh vẫn lướt qua.  ///  Mùa cuối, năm tàn, yêu nữa thôi?  /  Kìa em, vừa thoáng ánh sao rơi,  /  Đợi khi lòng đất đưa tay đón,  /  Ta sẽ dần quên chuyện đổi dời.  ///  (tặng Huy Trâm)
*************
Dòng Thơ Hôm Nay:    Nghe như mình đã ngủ  /  Từ mười mấy năm qua,  /  Quờ tay trong bóng tối  /  Ngắt vội một cành hoa.  ///  Tuổi em mười sáu nhé,  /  Hay đã ba mươi rồi?  /  Cành hoa đêm đã héo,  /  Hay vài cánh còn tươi?  ///  Ly cà phê sánh đặc,  /  Dạ hội tan từ lâu.  /  Còn gì mà thắc mắc,   /  Đời không là của nhau.  ///  Đi giữa lòng thành phố,  /  Cúi mặt trông bóng mình,  /  Đôi bàn chân xương xẩu,  /  Con đường rộng thênh thênh.  ///  Sẽ có người nhăn mặt  /  Đọc dòng thơ hôm nay,  /  Chút buồn vương khóe mắt:  /  _ Sao chừ còn đắng cay?  ///  _ Thưa rằng từ lâu lắm  /  Chẳng bao giờ quên em.  /  Tóc xanh chừ lốm đốm,  /  Suốt đời tôi đi tìm.  ///
**********
Cúi Đầu:    Tôi sẽ không còn ngơ ngác bên em,  /  Hành tinh đang buồn ai say ban đêm?  /  Tóc tơ thề thốt mà nay xa vắng,  /  Mà nay tơ tóc buộc gì cánh chim!  ///  Mệt lắm rồi không theo em nữa đâu,  /  Mệt lắm rồi tôi buồn thiu cúi đầu,  /  Con chó không về, ổ rơm lành lạnh,  /  Con chó không về, ai biết đêm sâu?  ///  Tôi biết nói gì khi ta quên nhau?  /  Tôi biết muốn gì, trời còn mưa mau.  /  Em vẫn là em, xưa kia tuy khác,  /  Tôi hết là tôi, chừ đây cúi đầu.  ///  Tôi lại say rồi, ngả nghiêng, ngả nghiêng,  /  Nhạc cuồng gào lên, nhạc cuồng không tên.  /  Ai vừa khóc đấy, tôi không biết nữa,  /  Nghe xoáy trong hồn:  làm sao em quên?  ///
**********
Bài Thơ Viết Trước Khi Về:    Khi em đến chắc tôi về xa lắm,  /  Mưa buổi chiều ray rức quá em ơi!  /  Tôi nhìn mưa đôi mắt đóng khung trời,  /  Lòng nhân thế mưa nhiều hơn nắng đó.  /  Từ thuở thương nhau mộng mình nho nhỏ:  /  Có vườn hoa hồng bạch dưới trăng thu,  /  Vuốt tóc người yêu, khe khẽ ngâm thơ,  /  Đốt trầm để ấm lòng đêm gió rét,  /  Mùa xuân đến nghe chim vườn ríu rít,  /  Rồi mười năm nhớ khúc ân tình xưa,  /  Ta nghiêng đầu bên cửa sổ trông mưa.  /  Nhưng chiều nay mưa buồn trên phố vắng,  /  Tuổi quá ba mươi đời chưa hé nắng,  /  Có bao giờ vui trọn giấc đâu em!  /  Đóa mộng vàng son rã cánh bên thềm,  /  Tôi cô độc bước chân về nghĩa địa.  /  Không nỡ trao em mối buồn thấm thía,  /  Vì đời em là một buổi mai xuân.  /  Em ngây thơ cho đời đẹp tuyệt trần,  /  Tưởng vĩnh viễn những phút giây ngắn ngủi,  /  Còn tôi sống với tháng hờn, năm tủi!  /  Lỡ nhau rồi, tôi khóc hết đêm nay,  /  Mai tôi về, em sẽ vắng bàn tay  /  Ai vuốt tóc em chiều mưa rả rích?  /  Ai hôn mắt em vợi niềm cô tịch?  /  Ai ngâm thơ cho em ngủ trong tay?  /  Ai dìu em đi trọn quãng đời này?  /  Khi em đến chắc tôi về xa lắm,  /  Trăng vỡ tan tành, thuyền mơ đã đắm,  /  Tôi sẽ về là tôi chết em ơi!  /  Mưa chiều nay che khuất một khung trời.  ///
************
Một Bản Tình Ca:    Ta viết bài thơ thương nhớ đây,  /  Run run tay ấy nắm tay nầy,  /  Bao lâu em lạc hồn ta nhỉ?  /  Đô thị cười nghiêng mí mắt gầy.  ///  Ta vẫn chờ em héo cả thơ,  /  Đèn khuya đêm trắng nẻo tâm tư.  /  Tóc tơ có kẻ ngàn năm hẹn,  /  Ai hẹn ngàn năm chuyện tóc tơ?  ///  Vốn đã yêu nên thề trọn kiếp  /  Những chiều nắng dịu, sớm mai sương…  /  Nhưng yêu không phải là không biết  /  Hăm mấy năm rồi vẫn nhiễu nhương.  ///  Mê lối vàng son lạc cả nhau,  /  Em ơi, má thắm có nguyên màu?  /  Xa em từ thuở em làm kẻ  /  Cợt liễu, cười hoa, cửa trước sau!  ///  Hoa có còn tươi sau gió mưa?  /  Liễu còn xanh dáng liễu ngày xưa?  /  Nối nhau bằng chút tơ duyên cũ,  /  Và gửi cho nhau ước mộng thừa.  ///
************
Chúng Mình:    Chúng mình đi về đâu em ơi!  /  Hoàng hôn, hoàng hôn buồn tê môi,  /  Sao chân em giẫm nhiều hoa thế?  /  Hoa của ngày xưa rụng mất rồi!  ///  Chúng mình đi về đâu, về đâu?  /  Tay ta còn hay thôi trao nhau?  /  Chim xanh không hót, ngày xanh mất,  /  Nào thuở chưa-chi-thẹn-cúi-đầu?  ///  Chúng mình bây giờ thư không xanh,  /  Quên nhìn trời cao, quên trăng thanh,  /  Trăng đâu của thuở đôi mươi nữa,  /  Trời chẳng còn vương mắt diễm tình.  ///  Một chút thơ ngây chợt trở về,  /  Hào hoa nguyên vẹn dáng si mê,  /  Lứa đôi nào chẳng từng thương tiếc  /  Cái buổi chưa-nhìn-nghiêng-nón-che.  ///  Đừng để hoàng hôn ngập mắt xinh,  /  Bút hoa chép lại sử ân tình.  /  Em ơi tay nắm tay cùng hẹn:  /  Tất cả Ngày Mai của chúng mình.  ///
*************
Đoạn Trường Gợi Lại :    Bước chân nào nặng phù du,  /  Ngón tay nào thắt sầu tư trói hồn.  /  Cô đơn rồi vẫn cô đơn,  /  Bốn mươi thu đó đòi cơn đoạn trường.  ///  Sông xa bãi cát vàng hanh,  /  Đìu hiu bến vắng, mong manh sương chiều.  /  Mười lăm năm giấc mộng vèo,  /  Bốn dây nhỏ máu xuôi theo Tiền Đường.  ///  Từ em lần lữa lầu xanh,  /  Cuộc say đầy tháng, tàn canh, vẫn thừa.  /  Chừ đây bên cạnh người xưa,  /  Nửa đêm tái ngộ nghe mưa cuối trời.  ///  Mà thôi, đàn kiếm giang hồ,  /  Trở về cát bụi, cơ đồ ngả nghiêng.  /  Say đến khóc, cười như điên,  /  Ngàn xưa đọng lại một thiên não người!  ///
**************
Dáng Xưa:    Để em theo dõi bụi ngàn,  /  Dáng xưa còn đọng thời gian mắt sầu.  /  Buồn lên từ thuở bạc đầu,  /  Đôi tay vô vọng nguyện cầu dáng xưa.  ///  (tặng Bùi Giáng)
************
Thúy Vân:    _ Còn em chén cúc tàng tàng,  /  Cuộc vui nói tiếng đoạn tràng ấy chi?  /  _ Thưa rằng:  cũng chẳng làm gì?  /  Ai mê dáng chị mà vì duyên em?  ///
***************
Từ Hải:    Nghe rằng dậy lửa đao binh,  /  Đoạn trường ngay thuở thân nghênh cửa ngoài.  /  Mặt trăng lơ lửng non đoài,  /  Mà hồn lơ lửng với loài thảo hoa.  ///
**********
Tôn Thất Trung Nghĩa:    Từng đêm chợ Đũi đẫm sầu,  /  Ly la-ve đổ gội đầu tóc xanh.  /  Người sơn dã lạc kinh thành,  /  Ngả nghiêng đáy cốc độc hành trong đêm.  ///
*********
Khi Tỉnh Rượu:    Trà uống đắng cả họng,  /  Thuốc hút vàng cả tay,  /  Từng mảnh con hy vọng  /  Chìm trong đêm sâu dày.  ///  Bình minh ơi bình minh!  /  Chim nhỏ hót trên cành.  /  Chim nhỏ ơi chim nhỏ  /  Thiếu khung trời xanh xanh.  ///  Có ai ngồi trong xó  /  Hát khúc hoàng-hôn-ca?  /  Tuy bóng chiều chưa đổ,  /  Đầy những mặt dơi già!  ///  Tuổi trẻ ơi tuổi trẻ,  /  Chí trai:  ly rượu đầy!  /  Vũ trường chừ vắng vẻ,  /  Tao say hay mầy say?  ///
***********
Buồn Như:    Buồn như ly rượu cạn,  /  Không còn rượu cho say.  /  Buồn như ly rượu đầy,  /  Không còn một người bạn.  ///  Buồn như đêm khuya vắng,  /  Qua cửa sổ trông trăng.  /  Buồn như em nói rằng:  /  Nhớ anh từng đêm trắng.  ///  Buồn như yêu không được  /  Dù người yêu có thừa.  /  Buồn như mối tình xưa  /  Chỉ còn dòng lưu bút.  ///  Buồn như buồn như thế,  /  Buồn như một kiếp người.  /  Đây cõi lòng quạnh quẽ  /  Buồn như đóa hoa rơi!  /// (tặng Tôn Thất Trung Nghĩa)
**************
Thư Gửi Mẹ:    Hôm nay tiếng súng không còn nữa,  /  Sông núi ngùi thương chuyện núi sông,  /  Con biết quê nhà sau khói lửa  /  Mẹ già tựa cửa đứng chờ mong.  ///  Lúa có vàng như thuở thái bình?  /  Vườn ta còn mấy ngọn cau xanh?  /  Đất khô tay có đau không mẹ?  /  Cha vẫn ngâm nga khúc viễn hành?  ///  Chị Hai chắc hẳn vui gia thế?  /  Em Ngọc năm nay sắp lấy chồng?  /  Từ thuở con đi rồi chẳng biết  /  Cô hàng xóm ấy có sang không?  ///  Và mẹ bao đêm thương nhớ con?  /  Tuổi già trái chín chắc chi còn?  /  Sông sâu, núi thẳm, đôi đường cách,  /  Ngày một ngày thêm chuyện héo hon.  ///  Kinh thành mẹ hẳn không ưng đến,  /  Lặn lội chi cho cực tuổi già.  /  Nghĩ lại đời con thêm hổ thẹn,  /  Khác nào như thuở bước chân ra.  ///  Thuở ấy cầm tay mẹ dặn dò:  /  _ Phố phường không phải dễ chi mô!  /  Và đôi mắt mẹ rưng rưng lệ,  /  Đôi mắt bây giờ chắc héo khô!  ///  Thân nghèo nhiều lúc không vui lắm,  /  Nhưng chẳng bao giờ con ước mong  /  Một cuộc đời như thiên hạ ước,  /  Bởi vì còn chuyện đục hay trong.  ///  Nói mãi rồi ra cũng thế thôi,  /  Núi sông cách trở mấy năm rồi,  /  Con mong nếu bắt thư này được  /  Thì mẹ cho con biết ít lời.  ///  (tặng Tạ Hồng Nguyện)
**************
Bức Thư Đầu Xuân:    Tết đến hai ngày rồi mẹ nhỉ?  /  Đầu xuân con biết mẹ đang buồn.  /  Ai vui chi được đời tang tóc,  /  Sông chứa sầu đau, núi dựng hờn.  ///  Ra đi từ dạo mùa cam chín,  /  Đã mấy mùa cam con chửa về.  /  Tóc mẹ hoa râm, nay bạc trắng,  /  Vô tình trước ngõ trắng hoa lê.  ///  Có những đêm buồn con phát khóc,  /  Nhớ xưa tết đến dậy mai vàng.  /  Tha hương thân bé còn lăn lóc,  /  Mỗi độ xuân về mỗi dở dang.  ///  Quê nhà hoang vắng ra sao mẹ?  /  Đây phấn son bay ngập phố phường!  /  Con vẫn trông chờ sâu cả mắt  /  Ngày nào thiên hạ biết yêu thương.  ///  Con viết bức thư này giữa lúc  /  Súng xa vang động cánh mai vàng,  /  Nhà trọ cô đơn nghe gió giục,  /  Bồ câu giỡn nắng mới bay ngang.  ///  Ít bữa mai tàn rơi trước ngõ,  /  Nhặt dùm dăm cánh ép cho con.  /  Mẹ ơi!  đợi lúc trời thôi gió,  /  Con sẽ quay về để mẹ hôn.  ///
************
Xuân Về Thương Nhớ Với Ai Đây? :    Tết đến rồi đây, xuân đến đây,  /  Xuân xuân, tết tết được bao ngày?  /  Cười nghiêng núi thẳm, xuân gian khổ,  /  Khóc đứng quê xa tết dạn dày.  /  Có những con người không biết tết  / Cầm bằng năm tháng một cơn say  /  Có những con người không biết chết  /  Hẹn cùng trời đất một ngày mai,  /  Có những con người không nói hết  /  Căm căm thế sự nhíu đôi mày!  /  Tết đến, xuân về băm mấy bận,  /  Giang hồ ta vẫn trắng đôi tay.  /  Lòng riêng nào biết xuân hay tết,  /  Tóc đã pha sương kể những ngày  /  Câu chuyện tâm tình không tỏ được,  /  Hoa đào hàng xóm lả lơi bay…  /  Xót thương thân thế toàn dang dở,  /  Khói thuốc làm cay đôi mắt cay!  /  Chợt thấy bên hiên hoa lại nở,  /  Và xuân lại đến ở đâu đây.  /  Nhưng hoa đã tỏ đường ong bướm,  /  Xuân vẫn còn xuân với đọa đày.  /  Xuân vẫn còn xuân trong máu lửa,  /  Còn xuân nên vẫn trắng đôi tay!  /  Nhắm mứt gừng suông ba bữa tết,  /  Giở chồng thư cũ mấy năm nay…  /  Đâu đây nhạc rót mừng xuân mới,  /  Không hiểu thương ai nước mắt đầy!  /  Nhà trống tha hồ mơ mộng đến,  /  Tiền đâu mua lấy nửa cơn say?  /  Thơ chẳng ai yêu, rồi cũng vẫn  /  Đêm đêm nằm tính chuyện tương lai.  /  Cố tri dăm đứa nghèo xơ xác,  /  Ăn chực nằm chờ khắp đó đây.  /  Tán gẫu, cười suông, ngâm lạc giọng:  /  “Sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây”  /  Thuốc chưa hết điếu mà cay mắt,  /  Tình chủng muôn đời vẫn đắng cay!  /  Xuân bỗng tưng bừng trên má thắm,  /  Xuân về thương nhớ với ai đây?  ///  (tặng Trương Đình Ngữ)
**********
Giao Thừa Giữa Phố:    Đêm nay có kẻ không nhà,  /  Thẩn thơ phố lạnh đợi qua giao thừa.  /  Hoa xuân ngậm kín một mùa,  /  Áo tàn dạo trước tình chưa đổi dời,  /  Kinh thành ánh sáng chơi vơi,  /  Phấn son nghẽn lối, đất trời mênh mông.  /  Quê hương từ đẫm máu hồng,  /  Đò xưa người cũ sang sông mấy lần?  /  Mai vàng còn cợt gió xuân?  /  Cô hàng xóm ấy chắc gần theo “dôn”.  /  Mẹ già thấy én, mong con,  /  Bờ tre, ngõ trúc biết còn xanh tươi?  /  Xa xôi mòn gót quê người,  /  Bốn phương lửa dựng, một đời gió mưa.  /  Xuân về nhà hẹp phên thưa,  /  Súng đâu nhắc nhở giao thừa máu xương!  /  Thẩn thơ đón lạnh giữa đường,  /  Núi xa trùng điệp, cố hương khuất rồi!  ///  (tặng Hoài Khanh)
***********
Nụ Lửa:    Nắng đổ trên cành nghiêng ngửa,  /  Gió ca điệp khúc hiền hòa,  /  Hiện giữa trời xanh nụ lửa,  /  Hè về đỏ rực muôn hoa.  ///  Nhớ ai môi rụng chật đường?  /  Bước trên ngàn môi nhạt thắm,  /  Bàn chân hình như đẹp lắm,  /  Mắt bồ câu rộn tình thương.  ///  Trên cành lửa bừng sức sống,  /  Vài em không hiểu sao cười?  /  Ngày nào mộng đời thôi mộng,  /  Biết còn ép cánh hoa tươi?  ///  Nghiêng nghiêng nón lá qua cầu,  /  Gió lùa đôi chân khép nép.  /  Chừ hoa nở đầy xứ đẹp,  /  Sắc hương còn được bao lâu?  ///  Thanh bình ngời đôi mắt nhỏ,  /  Yêu đời dăm vần thơ xanh,  /  Tô đời nắng vàng, hoa đỏ,  /  Thương nhau trọn giấc mơ lành.  ///
***********
Thu:    Bỗng dưng không hẹn mà thu tới,  /  Sông:  một dòng thu chảy lặng lờ,  /  Lá úa:  chút lòng ai khắc khoải,  /  Lòng ai chẳng rụng với mưa thu!  ///  Cặp mắt thu kia còn lạnh lạnh,  /  Môi thu nhà ấy nhạt màu son,  /  Hồn thu vương vấn theo đôi cánh  /  Áo trắng mùa thu nắng héo hon.  ///  Trên lớp thành xưa rêu phủ đá,  /  Nhạc buồn còn đọng giọt mưa thu.  /  Phòng khuê phấn nhạt, hoa tàn tạ.  /  Mà bóng tình quân vẫn mịt mù.  ///  Người đẹp thu về tan ước mơ,  /  Thiên thu còn lại những vần thơ:  /  “Hàn y xứ xứ thôi đau xích…”  /  Riêng một lòng đây chịu hững hờ.  ///
*********
Mưa Đầu Thu:    Hoa cúc bao giờ mới nở đây?  /  Trời run nhè nhẹ dáng thu gầy,  /  Tương tư bờ cúc vàng lưng giậu,  /  Sông rộng thêu hình đôi bóng mây.  ///  Cầu vắng bâng khuâng bước học trò,  /  Dăm tà áo trắng dệt thêm mơ.  /  Chiều nay nắng chở buồn không hết,  /  Thu chớm thu rồi, thơ chớm thơ.  ///  Duyên ngập ngừng duyên buổi hẹn đầu,  /  Không cần lành lạnh mới thương nhau.  /  Cớ sao sương khói đìu hiu quá,  /  Thu đến ai người khóc chuyện Ngâu?  ///  Chim nhỏ không buồn nhảy giậu thưa,  /  Thời gian ngừng chuyển điệu sang mùa:  /  Mây chao, nước lạnh, thuyền im bến,  /  Rời rạc đầu thu đôi giọt mưa.  ///  Lệ ở trên trời, mưa thế gian,  /  Tình xưa còn lại nửa cung đàn.  /  Mái tranh thánh thót niềm tương biệt,  /  Thư viết chưa hề gửi cố nhân.  ///
***********
Thế Hệ Bốn Lăm:    Chúng tôi:  /  Những kẻ sinh ra chưa biết nụ cười,  /  Đã thầm khóc trong bao năm khói lửa.  /  Mười tám tuổi, vải thô thay nhung lụa,  /  Giày vỏ xe hơi mòn gót liên khu,  /  Một dải miền Trung rừng rậm, sương mờ,  /  Vui kháng chiến, tình non sông muối mặn.  /  Chúng tôi lớn lên trong tiếng rền lựu đạn,  /  Ba lô da nặng trĩu cả vai gầy.  /  Những bà mẹ già run rẩy đôi tay,  /  Rót từng bát nước chè trưa nắng gắt:  /  _ “Lũ chúng nó mới công đồn giết giặc.”  ///  Chúng tôi:  /  Thế hệ bốn lăm  /  Vui chưa bao nhiêu nhiều lúc khóc thầm  /  Một phần tư thế kỷ,  /  Lừa lọc, gian ngoa, một bầy ác quỷ,  /  Tuổi thanh xuân tàn như một giấc mơ!  /  Hoảng hốt, điên cuồng, nhẫn nhục, bơ vơ,  /  Nắm tay nhỏ đưa lên trời phản đối,  /  Và tự hỏi:  mình làm gì nên tội?  ///  Bốn lăm!  Bốn lăm!  /  Tiếng vọng xa xưa, nắng cháy, mưa dầm,  /  Lòng Đất Mẹ lại một phen chua xót!  /  Chúng tôi yêu núi Ba Vì chót vót,  /  Sông Cửu Long cuồn cuộn chảy ra khơi.  /  “Quê hương mình nghèo lắm ai ơi!  /  Mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn”  /  Thời gian qua đã ba chục mùa xuân,  /  Trai mười tám tóc ngả màu sương gió,  /  Những đêm đô thành men cay mắt đỏ,  /  Nhìn trong ly bỗng thấy bóng mình xưa.  /  Gác trọ buồn thiu nằm khểnh nghe mưa,  /  Xót thân thế, nhớ từng thằng bạn học.  /  Ngâm thơ người xưa đau mình cô độc,  /  Rồi áo cơm thay thế chuyện giang hồ,  /  Đôi lúc buồn tình làm một bài thơ!  /  Bốn lăm!  Bốn lăm!  /  Những kẻ ra đi, những kẻ đang nằm,  /  Những kẻ chết, những kẻ còn vất vưởng  /  Chúng ta làm gì?  /  Thuyền con trong cơn gió chướng!  ///  (tặng Nguyễn Liệu)
************
Câu Chuyện Mười Năm:    Mười năm qua tỉnh giấc mộng sông hồ,  /  Nghiêng mái tóc soi trên dòng mắt nhỏ,  /  Kẻ thư sinh gối đầu trang sử cũ,  /  Tính đốt tay lòng lạnh chuyện keo sơn,  /  Thời loạn ly chợp mắt đã cô đơn!  /  Những bước chân qua nghìn trùng sông núi,  /  Cuốn dây thép gai, mơ về Hà Nội,  /  Đồn, đêm đông, phừng phực lỗ châu mai!  /  Ôi chàng trai từ mười mấy năm xưa,  /  Máu, liếm thử, mặn như là nước mắt!  /  Ai khóc đâu nào?  cái gì đã mất?  /  Tháng ngày trôi chậm chạp gót đưa ma.  /  Cô em xưa trong trắng tuổi mười ba,  /  Mười sáu tuổi cười trong cơn thác loạn,  /  Hai mươi tuổi… cánh dơi nào quái đản  /  Trùm thời gian, nhốt úp cả không gian,  /  Nhấn phím chưa xong đứt phựt dây đàn!  /  Trang loạn sử chép thêm nhiều chuyện lạ,  /  Chắp đôi tay gầy nguyện cầu Cao Cả,  /  Dòng Tin Yêu cạn rốc tự bao giờ!  /  Chập choạng bóng hình qua những vần thơ,  /  Khép mi lại, màu xanh vừa thoáng hiện  /  Màu mắt người yêu hay màu nước biển?  ///  (tặng Xuân Ái)
***********
Trung Phước Ơi! :   Trung Phước ơi, sông sâu dài uốn khúc,  /   Tình cheo leo cao vút một con đèo,  /  Núi Chèo Bẻo vươn mình trong khói đục,  /  Hòn Cà Tang thương nhớ vọng tình theo.  ///  Đây đồng Chợ không còn vang nhịp bước,  /  Và đồng Quan, đồng Vú chắc tiêu điều!  /  Lúa vàng ơi, lúa vàng bao năm trước,  /  Rộc cây Bòng bờ trổ mạch cô liêu.  ///  Cau xanh lắm, cau với người thân thiết,  /  Bắp non non, người đợi bắp vàng bao,  /  Lụa óng ánh tay ngà thoăn thoắt dệt…  /  Đời không dài hơn một giấc chiêm bao!  ///  Làng chết lặng, lều xác xơ dăm túp,  /  Người tha hương còn mất chẳng tin về,  /  Con lạc mẹ, bao đêm chồng khóc vợ,  /  Măng bẻ rồi, tre không kín niềm quê!  ///  Chín năm chẵn máu chưa hề ngớt chảy,  /  Chim không ca, bắp cũng chẳng vàng bao,  /  Khung cửi lạnh, tay ngà đang ấp mộ,  /  Hẹn tương phùng trong một giấc chiêm bao.  ///  Mùa hy vọng thắp đôi hàng nến đỏ,  /  Chép bài thơ thương nhớ giữa kinh thành.  /  Ôi yếu đuối một linh hồn nho nhỏ,  /  Chỉ mong ngày nắng ấm ngọn cau xanh.  ///  (tặng bà con)
*********
Điệu Buồn Xứ Núi:    Cao nguyên buồn rủ sương chiều,  /  Gió e ấp gió, cây đìu hiu cây.  /  Người lên đày xứ xa này,  /  Ngoảnh đi đô thị còn say dặm về.  /  Càng lên càng lạnh bốn bề,  /  Nào đâu luân vũ đêm hè năm xưa?  /  Giữa trưa sao nắng chẳng về,  /  Càng say khói thuốc, càng tê môi sầu.  /  Ga bên vẳng tiếng còi tàu,  /  Phải đây sa mạc pha màu thiên thanh?  /  Không ai tiễn buổi lâm hành,  /  Ba mươi mấy tuổi trơ vành mắt sâu!  ///  (tặng Thanh Trúc)
***********
Thêm Buồn:    Tôi sẽ chết dễ dàng hơn đã sống,  /  Mắt không buồn vì nhắm đến muôn thu.  /  Con chim nào xanh, giấc mộng nào hư,  /  Lời bay bướm lặng dần vào dĩ vãng,  /  Ba mươi đến khỏi lo tiền cơm tháng!  /  Cô mỉm cười, cô có biết gì đâu!  /  Tôi từng nghe chó sủa suốt đêm thâu,  /  Và chim hót suốt mùa đông lạnh lẽo,  /  Ôi con chim hồng từng bay lạc nẻo  /  Đường về trái tim hun hút thời gian.  /  Thuở xưa kia người ấy đẹp tuyệt trần,  /  Cao nguyên ngực, Thái Bình Dương mắt biếc,  /  Anh đào môi, tóc trường giang quấn riết  /  Tháp da ngà chưa một bóng du lang.  /  Tôi tới bên ai lời nói ngập ngừng…  /  Ốc đảo chập chờn giữa trưa sa mạc,  /  Gót ngọc quay đi, một người chết khát!  /  Thuở xưa kia thời mười tám, hai mươi,  /  Có chàng trai cười vẫn nở trên môi,  /  Tin tưởng lắm chuyện trên trời dưới đất,  /  Nhân Ái, Công Bình, Yêu Đương, Bất Khuất  /  Viết chữ hoa trong óc trẻ mười lăm!  /  Khi ba mươi biết được chuyện xưa lầm  /  Thì đau khổ đã hằn trên trán nhỏ,  /  Thì uất hận vạch trời nhưng chẳng tỏ  /  Rồi cô đơn như một kẻ chăn cừu  /  Trên đồi cao nhìn tinh tú luân lưu.  /  Tôi hốt hoảng như một người phạm tội,  /  Tôi muốn chạy nhưng mà đường nghẽn lối,  /  Chúa thì xa, Phật cao vút từng không,  /  Phật tại tâm nhưng tâm đã bềnh bồng,  /  Tiếng chuông Chúa không ru hồn kẻ khổ  /  (Một chiếc linh hồn mang mang thiên cổ)  /  Tôi tới bên em quỳ gối nguyện cầu,  /  Em đẹp vô vàn như hạt trân châu,  /  Ai yêu mến mà không hề nói quá!  /  Nhưng than ôi em không là tượng đá  /  Đội thời gian nhìn kẻ thế nhân qua,  /  Tôi làm thơ để mang tiếng tài hoa,  /  Mà vần điệu chỉ là châu ngọc hão!  /  Thương vớ vẩn tự mình gây gió bão,  /  Trách vu vơ mà chẳng trách mình ngu,  /  Thời loạn ly khởi sự tự bao giờ!  /  Tôi sẽ chết vô duyên như đã sống,  /  Đất nghĩa trang có chắc chi còn rộng,  /  Không biết nằm đầu sẽ hướng phương nào?  /  Nghĩ thêm buồn cho câu chuyện mai sau.  ///  (tặng Lê Khắc Lý)
************
Hoài:    Viết một bài thơ buồn nữa đây,  /  Đêm đêm nằm đếm đóm sao gầy,  /  Chao ôi ba chục năm trời nhỉ,  /  Mà vẫn còn mơ nguyệt mái Tây!  /  Từ thuở hai mươi lòng cứ tưởng  /  Ngàn năm tay đẹp vẫn trong tay.  /  Gió đâu bỗng đổi chiều xoay hướng,  /  Tình ở đầu môi, ở cuối mày!  /  Một giấc hoàng hoa chưa chắc tỉnh,  /  Nửa ly hoan ngộ lấy gì say,  /  Từng phen đất lạ thương thân thế,  /  Những trận cười như thoảng gió bay,  /  Khúc phượng còn vang thề ước đó,  /  Lời hoa đành bặt ái ân này,  /  Hoa tàn, ước hão, thề suông vậy,  /  Bóng dáng thuyền quyên vẫn nước mây.  /  Tuổi trẻ đã đành khờ khạo quá!  /  Ái tình đâu đến kẻ thơ ngây!  /  Thời hai mươi ấy xa lăng lắc,  /  Khói lửa còn cay đôi mắt cay.  /  Chạnh chút niềm riêng ai oán tí,  /  Thương mà không nắm trọn bàn tay.  /  Tóc ai xanh phủ cù lao gối,  /  Phấn bướm bay đầy giấc bướm bay.  /  Còn hỏi:  _  Quên em rồi chứ nhỉ?  /  _  Quên rồi qua chén rượu không say,  /  Quên rồi qua lớp vàng son ấy,  /  Mi mắt thời gian khép lại ngay.  /  Tay ngọc nâng niu lầu ảo mộng,  /  Bao nhiêu người ngọc đã chuyên tay!  /  Dòng thơ lưu niệm dăm năm trước,  /  Tình cũ còn thơm hương liễu trai.  /  Từ dạo tay không mơ nghiệp lớn,  /  Sử kinh qua một tiếng than dài!  /  Trường thành vạn dặm rêu xanh đá,  /  Thắng những ai mà bại những ai?  /  Đình trưởng một phen trời ngó lại,  /  Múa gươm trên mộ kẻ anh tài!  /  Hỡi ơi những chuyện ngàn xưa ấy  /  Chép miệng mà nghe thấm đắng cay!  /  “Kỷ độ long tuyền…” ngâm lạc giọng,  /  Mà non sông vẫn khói mù bay.  /  Ai mài kiếm rỉ, ai nâng chén?  /  Cửa sổ chiều chiều mây trắng bay.  ///
***********
Một Mình:    Nằm suông nghe gió lay rèm cửa,  /  Ba chục năm tròn, hai cánh tay  /  Buông xuống từ khi cười gượng gạo,  /  Má sầu lất phất hạt mưa bay.  ///  Trang sách, trang tình:  mới nửa trang,  /  Cớ sao lụt cả một trời trăng?  /  Bể Nam chim chẳng theo chiều gió,  /  Nhịp sóng trùng dương vẫn thở than.  ///  Ôi hoa hàm tiếu, nụ sơ khai,  /  Một trận cuồng phong hoa tả tơi!  /  Những nụ môi hồng chưa kịp hé,  /  Vài giây hạnh ngộ đã qua rồi!  ///  Bất tri tam bách… ngàn năm nữa  /  Tiếng thở than còn nguyên thở than!  /  Một bước chân người qua trước cửa,  /  Rồi xa, xa mãi chẳng dư vang.  ///  (tặng Lê Vinh Thiều)
*********
Lại Một Bài Thơ Tâm Tình:    Lại một bài thơ tâm tình  /  Của người ba mươi tuổi chẵn,  /  Ai lại than dài, thở vắn,  /  Đau thì ngậm miệng làm thinh!  ///  Từ khi sông núi ôm sầu,  /  Dân lành đành thân trâu ngựa!  /  Từ khi núi sông binh lửa,  /  Mấy người đục nước buông câu?  ///  Ở đâu cỏ không dám mọc,  /  Nghênh ngang một lũ gian tà?  /  Ở đâu dân không dám khóc,  /  Tuy rằng đau thấu thịt da!  ///  Mười năm mắt chưa ráo lệ,  /  Đầu tang nghiêng cạnh đầu tang,  /  Mười năm đàn con lạc mẹ,  /  Lòng nào mơ chuyện cao sang.  ///  Ở đây ngàn hoa cứ nở,  /  Ngàn môi nhắp rượu ân tình,  /  Bên kia ngàn môi nức nở,  /  Ngàn hoa nhạt hết hương trinh.  ///  Thế hệ những người đã khóc  /  Đứng lên góp một nụ cười,  /  Góp một cánh tay gân guốc,  /  Cho đời chỉ chớm đôi mươi.  ///  Lại một bài thơ tâm tình  /  Của người ba mươi tuổi chẵn,  /  Ai lại than dài, thở vắn,  /  Dù trăm, dù vạn bất bình…   ///  (tặng Lê Sử)
**********
Bài Thơ Dễ Hiểu:    Tôi viết cho anh,  /  Bài thơ dễ hiểu,  /  Đây không mắt xanh,  /  Tóc không là tơ liễu,  /  Không cầm ca não nuột bến Tầm Dương,  /  Không mộng xa vời những chuyện mười phương,  /  Không bóng dáng hồ ly, không má thắm,  /  Không cuộc tình duyên nửa chừng thông cảm.  ///  Bài thơ tôi  /  Nói chuyện yêu đời,  /  Vì bài thơ đẹp, anh ơi!  /  Chỉ là nói được những lời của anh.  /  Anh yêu đất hiền lành,  /  Yêu con trâu, cái cuốc,  /  Yêu đàn con lem luốc,  /  Yêu đồng lúa xanh xanh…,  /  Lời thơ đẹp tựa tâm tình:  /  “Hôm qua tát nước đầu đình,  /  Bỏ quên cái áo với cành hoa sen”  /  Dạo nào gió lên,  /  Đời anh chuyển hướng,  /  Bờ tre tan tành,  /  Máu loang bờ ruộng,  /  Nhà thân yêu lửa đốt ra tro.  /  Con anh bữa đói, bữa no,  /  Vợ anh sớm bến, chiều đò gian nan.  /  Anh thề chịu cực làm dân,  /  Còn hơn sung sướng làm quân quên thù!  ///  Thơ tôi không chép  /  Những vần âm u,  /  Tay anh rắn chắc  /  Xây đời tự do.  /  Mồ hôi hòa với vần thơ đẹp:  /  Mong được ngày mai sống ấm no.  /  Bài thơ dễ hiểu  /  Viết đầu mùa thu,  /  Gieo không lạc điệu,  /  Lòng không rã rời.  /  Những lời thơ loạn, anh ơi!  /  Làm sao ăn nhịp với lời thơ anh.  /  Nhạc điệu kinh thành  /  Điên cuồng, ủy mị,  /  Áo tôi đứt chỉ  /  Vải nhạt màu xanh,  /  Một bài thơ rất hiền lành,  /  Đọc lên giữa lúc tan tành núi sông!  /  Ngày mai trời lại ửng hồng,  /  Đất, Thơ thành vợ, thành chồng với nhau.  ///
*********
Có Lẽ Nào Không Viết Khúc Thơ Vui:    Có lẽ nào không viết khúc thơ vui?  /  Hoài hoa xưa ngày tuổi chớm ba mươi,  /  Một cánh bướm đâu dám theo người trước,  /  Nửa mảnh trăng suông chìm sâu đáy nước,  /  Nghìn thu sau còn lại chuyện nghìn thu.  /  Có kẻ dong chơi sông nước Ngũ Hồ,  /  Có kẻ sang sông đi vào Đất Chết,  /  Khúc phượng cầu hoàng cuốn theo mắt biếc,  /  Còn Mái Tây khắc khoải khói hương sầu,  /  Sóng tóc Ngu Cơ gờn gợn vó câu…  /  Thuyền vẫn chở những tài hoa bạc mệnh!  /  Ai bói cỏ thi tìm cơn hưng thịnh?  /  Có lẽ nào không viết khúc thơ vui?  /  Ơi ai ơi, một giáp đã qua rồi,  /  Từ khói lửa… chuyện lại xưa em nhỉ?  /  Trơ trẽn phường gian, dạn dày gái đĩ,  /  Núi vàng cây, sông cạn nước, đau lòng!  /  Những đào hoa không đợi tiếu đông phong,  /  Buồn thay nhỉ, chi nghênh nam bắc điểu!  /  Một dải giang sơn nhịp cầu vẫn thiếu,  /  Nhớ nhung rồi năm dáng cửa ô xưa,  /  Những chiều qua Hà Nội tím mong chờ!  /  Gươm báu, rùa thiêng, nỡ nào quá khứ,  /  Lừa lọc, đảo điên, một bầy thú dữ  /  Xua nhau về sống lại thuở nguyên khôi  /  Nên Thiên Đường đổ vỡ khắp muôn nơi!  /  Ôi những cô em vừa trăng mười sáng,  /  Ô nhục xác hồn, thù mờ tinh đẩu,  /  Những chàng trai giẫy giụa giữa hai mươi,  /  Dòng biên giang sằng sặc giọng ai cười!  ///  Có lẽ nào không viết khúc thơ vui?  /  Những bàn tay của lứa tuổi đang tươi  /  Xin góp nến để đêm dày được thắp,  /  Hoài vọng mười phương tuy rằng cao thấp  /  Mà cùng say gõ nhịp khúc đăng trình.  /  Đi dựng đời tươi cho em mười sáu,  /  Cho môi thắm son, cúc vàng lưng giậu,  /  Cho tài hoa khỏi lụy nợ đa cùng,  /  Cho đào hoa y cựu tiếu đông phong,  /  Mắt biếc bồ câu không là suối lệ,  /  Người anh phong trần cùng cô em bé  /  Dắt tay nhau về lại mái nhà xưa,  /  Có dòng sông và có tiếng ai cười.  ///  (tặng Thạch Thái)
*********
Hẹn Một Ngày Mai:    Chuyện đời nhạt mộng, phai thơ,  /  Tương tư ngàn kiếp thương vờ, khóc lây.  /  Ai buồn vì chiếc lá bay,  /  Ai vui chi cảnh đọa đày ai ơi!  /  Ai nâng tiếng sáo tuyệt vời,  /  Ai say tiếng súng cho đời khổ đau?  /  Ngàn năm trước, vạn năm sau  /  Nghĩa gì nếu chẳng thương nhau hỡi người!  /  Máu xương là chuyện để cười,  /  Thì đây máu chảy, xương rơi mấy mùa.  /  Bảo rằng được với rằng thua,  /  Con sông chia cách chưa vừa đấy ư?  /  Bên kia có một mùa thu,  /  Bên này ta cũng có dư lá vàng.  /  Bên kia tan nát xóm làng,  /  Bên này phấn mốc, hương tàn khác chi!  /  Ngồi buồn tính chuyện ra đi,  /  Núi ngăn, sông đón, ngại khi trở về.  /  Nhớ xưa có kẻ đã thề,  /  Mà nay đôi đứa đôi quê cực lòng.  /  Dài dằng dặc những đêm đông,  /  Trôi qua vùn vụt những dòng xuân tươi,  /  Héo hắt lắm những môi người,  /  Và vô duyên quá nụ cười cố nhân  /  Vu vơ nhớ chuyện xa gần,  /  Giật mình:  đời đã mấy lần sang ngang.  /  Mẹ già côi cút dưới làng,  /  Em yêu trên phố, hai đàng tâm tư.  /  Bao giờ hòa dịu tiếng thu,  /  Cho hoa kết trái, cho mù hóa mưa,  /  Có chợ sớm, có đò trưa,  /  Có cô em bé tiễn đưa lên đường,  /  Có buồm căng gió mười phương,  /  Có mắt phố phường, có má thôn quê,  /  Có đi mà cũng có về,  /  Có vạn lời thề sẽ giữ sắt son.  /  Bờ tre xanh mát tâm hồn,  /  Khuất nẻo đường mòn có mái nhà tranh.  /  Có người ta gọi “em anh”  /  Có giấc mộng lành mới dệt đêm qua.  /  Có muôn bướm, có ngàn hoa,  /  Đời không gian khổ như là hôm nay.  /  Không buồn vì chiếc lá bay,  /  Mà vui xây dựng cho ngày tương lai,  /  Cho êm ấm lẫn trong ngoài,  /  Cho hoa thêm đẹp, cho người thêm tươi.  /  Ai nâng tiếng sáo tuyệt vời,  /  Ta cầm bút chép những lời thơ xanh:  /  “Ngày mai, em hẹn với anh,  /  Ngày mai trọn khúc ân tình, ngày mai…”  ///  (tặng Phổ Đức)
*********
Ngõ Lạc:    Ngã trên dòng bấc đêm khuya ấy,  /  Đời rã rời trôi với nhịp chèo.  /  Lửa đỏ, thuốc thơm, mờ ngõ lạc,  /  Bập bềnh son phấn chí trai theo.  ///  Ai giặt hồn tươi trong nước đục?  /  Tuổi hoa nằm giữa cánh tay hờ,  /  Mê ly quên cả gà xa giục  /  Nở một bình minh, nhạc quyện thơ.  ///  Thuyền lướt trên sông về xứ mị,  /  Bao người chôn chặt tuổi hoa niên,  /  Khóc than vọng cổ, đau lưu thủy,  /  Đào sẵn mồ chôn giữa đống tiền.  ///  Đi bán năm canh hồng phận má,  /  Đêm thu chung chạ nhạt thanh xuân.  /  Đời ai giam lỏng trong tay lả,  /  Có biết xuân xanh chỉ một lần?  ///  Ngõ lạc lên đèn đưa đám chết,  /  Đêm đêm còn mấy cánh hoa rơi?  /  Ai vui chinh chiến, ai mê mệt?  /  Ai khóa mình trong những trận cười?  ///  (cho Cao Thế Dung)
*********
Đêm Giáng Thế:    Hỡi Thượng Đế, suốt đời con đơn chiếc,  /  Đi vu vơ như lạc nẻo Thiên Đường,  /  Thân cát bụi chẳng còn chi hối tiếc,  /  Nhưng lòng riêng khao khát chút Tình Thương.  ///  Con ngẩng mặt:  đêm nay trời nạm ngọc,  /  Quê Cha đâu?  đường lối hẹp kinh kỳ.  /  Thuyền vật chất trôi xuôi về địa ngục,  /  Trong hồn con còn dội bước con đi.  ///  Nợ với Đất ngày mai con trả Đất,  /  Đời vui chi, cười khóc vẫn xô bồ!  /  Tiếng chuông Chúa những chiều sầu sắp tắt  /  Gọi đêm về vây phủ kín thành đô.  ///  Đêm Giáng Thế, chiên lành quỳ lạy Chúa  /  Thương đàn chiên nằm dưới gót sài lang,  /  Chúng con sống đau buồn trong khói lửa,  /  Thây chồng thây, ngăn mất lối Thiên Đường.  ///  Đấng Cứu Thế tình yêu trùm vũ trụ  /  Vâng ngôi Cha làm một kẻ chăn cừu,  /  Xin vớt lấy những linh hồn đen tối,  /  Đang điên rồ cười khóc suốt đêm thâu.  ///  (tặng Nguyễn Ngọc Đính)
**********
Dâng:    Đêm lạnh bốn bề gió rú,  /  Trần gian mênh mông hoàng hôn,  /  Thời gian trở về bến cũ,  /  Thịt xương xua đuổi linh hồn.  ///  Cầu nguyện hai vì sao lệ,  /  Rưng rưng mắt đẹp hiền hòa.  /  Tay ngọc tròn tin Đức Mẹ,  /  Đêm huyền ngào ngạt Ngôi Cha.  ///  Có thuở chiên lành mến Chúa,  /  Nơi nơi cỏ mướt, đồng xanh,  /  Có thuở đời là nhung lụa,  /  Danh từ chỉ có Em, Anh.  ///  Lạy Chúa, mùa xưa đã hết,  /  Không còn nhung lụa, anh em.  /  Nhân loại đi về cõi Chết,  /  Giẫm tan từng giọt sương đêm.  ///  Ai đọc dòng kinh huyết lệ?  /  Ai rung chuông động luân hồi?  /  Hẹn gặp nhau ngày tận thế,  /  Không Ta mà cũng không Tôi.  ///  Chúng con quỳ dâng ngưỡng mộ,  /  Lòng Tin sấm sét không dời.  /  Vũ trụ rồi đây sụp đổ,  /  Điềm xui từ cánh sao rơi.  ///  Chúng con thương nhau trọn kiếp  /  Như lời Chúa dạy từ lâu,  /  Chắc chẳng còn gì cao đẹp  /  Cho bằng nhân loại thương nhau.  ///  (tặng Cao Thế Dung)
**********
Thánh Giá Còn Nguyên Máu Chảy:    Hai bờ cây xanh cửa miệng  /  Gốc cây bón xác cùng hồn  /  Trái chín chưa mùa hiển hiện  /  Bàn tay bịt mất môi hôn.  ///  Tình thương mỏng dày lớp giấy  /  Rách lành gói trọn chữ Yêu  /  Thánh giá còn nguyên máu chảy  /  Non sông một nhịp phù kiều.  ///  Hai bên hai bánh xe lăn  /  Lên đèo hay là xuống dốc?  /  Hằng triệu con người vun gốc  /  Ai làm sông cách, núi ngăn?  ///  Hoa chưa đúc nụ tượng hình  /  Mùa nào trái lành trái ngọt?  /  Ngày đêm góp phần đau xót  /  Cầu xin tình được vẹn tình.  ///  Bàn tay thơm tho họ chỉ  /  Chờ khi trái chín trên cây,  /  Ta – của – hai – mươi – thế – kỷ  /  Đợi chờ ta – của – muôn – tay.  ///
*********
Nhập Vô Cùng:    Ôi ngày mai khi gió chẳng còn xem  /  Vũ trụ là sân banh thao dượt,  /  Tôi làm gì?  /  _ Chắc gục đầu sướt mướt,  /  Mà lệ rơi lụt cả dấu chân em!  /  Qua muôn trùng sông núi chẳng hề quen,  /  Nghe tiếng máy đập tan niềm cảm hứng.  /  Trời xanh lướt một vì sao đang rụng,  /  Hai vì sao, không, nhiều lắm em ơi!  /  Trong đêm sâu nghe vỡ giọng ai cười.  /  Nức nở dây tơ khúc đàn bạc mệnh,  /  Tôi yêu em không thuê nhà ở cạnh,  /  Chẳng hề mong bắt được chiếc kim thoa.  /  Tuổi trăng tròn em đã quá nhiều chưa?  /  Hoa hạnh nở bên tường rồi chứ nhỉ?  /  Có sao đâu, được biết nhau là quí,  /  Mười lăm năm còn lại chuyện châu Thai,  /  Ba trăm năm còn lại tiếng than dài!  /  Đóa hoa bé nghiêng đầu bên cửa sổ,  /  Nhìn trời xanh lòng hoa thêm bỡ ngỡ,  /  Nên nhiều khi đầu cúi dáng bâng khuâng,  /  Hồn thảo hoa rồi cũng nhập Vô Cùng.  ///
*********
Oh Holy Night  (Đêm Giáng Thế, loosely translated by Thai Ta)
God, all my life I’ve been lost  /  wandering far from Heaven  /  This mortal shell with no regrets  /  still yearns for a bit of Compassion.  ///  I’m looking up:  a sky of jewels  /  Where’s Home?  the road has narrowed  /  and here on board the ship to Hell  /  I hear echoes of my own footsteps.  ///  My debts to Earth I’ll soon repay  /  laughing, crying — life’s no big deal!  /  I hear the bells beckon the night  /  to cover up this city of sorrows.  ///  Oh Holy Night, we’re on our knees  /  begging Lord, have pity on us!  please  /  End our sufferings, evils of war  /  for corpses upon corpses have blocked the way home.  ///  Our Savior, whose love is boundless  /  who lived among us as our shepherd  /  Please save us all, the ignorant souls  /  laughing, crying  —  our sanity gone.  ///
********
The Fly and She  (Ruồi và Em, translated by Thai Ta.  My dad wrote this while in the re-education camp from 1975 to 1978.)
Ruồi từ hố tiêu bay lên  /  Tiếng ruồi lao xao như sóng gợn  /  Mắt ruồi nâu làm nhớ tóc Tây phương  /  Ruồi đậu trên dây thép gai như chuỗi hạt huyền  /  Anh tặng em ngày cưới  /  Ruồi đậu trên dây thép gai như những nốt nhạc  /  Dây thép gai kẻ nhạc không đều  /  Làm sao em hát   /  Có bầy én về  /  Không phải để báo tin xuân  /  Vì anh biết mùa xuân đã chết  /  Có bầy én về tìm ruồi trên giây thép  /  Chuỗi hạt huyền vỡ tan   /  Anh gọi tên em  /  Mấy lần.
Flies ascended from the shit hole  /  Their buzzing reminded him of the lapping waves  /  Their brown eyes the Western hair  /  Their formation on the barbed wires the necklace that he gave her on their wedding day  /  Or perhaps the music notes on uneven lines of barbed wires  /  How could she sing with those?  /  The sparrows returned, but not to announce Spring  /  ‘Cause he knew that Spring had died  /  They came back for the flies on the barbed wires  /  And as the black pearls broke apart,  /  He whispered her name.  ///
taky-hausinhca taky-ngamngaitimtram taky-ruoivaem taky-trongtraicaitaolongkhanh
********
Cách nay 33 năm , lúc thực hiện Báo Xuân P.Ký 1975, ngoài phần bài vở của học sinh, ban biên tập gồm Luân, Hoàn và một số bạn khác bàn nhau dành phần đầu Đặc san để “ đi” 2 bài của các thầy Nguyễn Xuân Hoàng và thầy Tạ Ký, là những giáo sư của trường có vị trí nhất định trong giới văn học nghệ thuật miền Nam thời ấy.
Nhà thơ Tạ Ký, danh tiếng lẫy lừng, mới đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật của Phủ Tổng Thống về thơ cách đó ít năm (1972) với thi phẩm Sầu ở lại.
Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đang là thư ký tòa soạn tạp chi Văn (một tạp chi văn chương danh giá đương thời)
Tôi lãnh nhiệm vụ đi xin bài viết của các thầy.Gặp thầy Hoàng trước, tôi đề nghị thầy đưa cho bản thảo bài viết diễn văn đọc trong buổi lễ “ Ngày nhớ ơn thầy” tổ chức vào ngày 06 tháng 12 năm đó.Năm 1975 , là năm đầu tiên tổ chức sự kiện này nên buổi lể làm rất trang trọng.Co tổ chức hội trại, trình diễn văn nghệ, thể thao, thi bích báo…Có sự hiện diện của Phụ tá Tổng trưởng Bộ Giáo dục là thầy Nguyễn Thanh Liêm . Tôi còn nhớ phần kết rất cảm động của bài nói này, thầy Hoàng đã trích một đoạn thư của cha An Di gửi cho con :” An Di con ơi…( An Di – Enrico – là nhân vật chính trong tác phẩm Les Grands Coeurs của nhà văn Ý Edmond De Amicis – chuyển ngữ từ tiếng Pháp sang tiếng Việt với tên Tâm hồn cao thượng ) … Sau tiếng Cha, thì tiếng Thày là tiếng gọi xứng đáng nhất mà một người có thể dành tặng cho một người … ” và theo “lịnh” của thầy Hoàng, tôi đã viết 1 chapeau cho bài này để đăng trong số báo Xuân năm ấy .
Còn Thày Tạ Ký thì đưa cho 2 bài thơ xé trong tập bản thảo đánh máy chưa in :
Bài thứ nhất là một bài thất ngôn bát cú :
Từ Hội Đạp thanh
Một vó câu từ hội Đạp thanh
Làm đau luôn cả khách biên đình
Bên cầu tơ liễu duyên e ấp
Giữa chốn ba quân nhạc rập rình
Vườn Thúy mở ra trang lệ sử
Châu Thai khép lại chuyện u tình
Bình rơi trâm gãy còn chi nữa
Vời bãi sông Tiền nấm cỏ xanh*
* Câu này, tôi nhớ áng chừng, không chắc đúng, vậy để tồn nghi
Bài thứ hai là một bài thơ buồn hình như gắn liền với sự kiện gia đình riêng của thầy :
Nhớ thêm
Em có về trong khói thuốc say?
Em có về trong ly rượu đầy?
Em có về trong thương với nhớ?
Em có về trong mộng đêm nay?
Em đâu về vì em quên anh!
Em đâu về hoang vu kinh thành..
Tại em nên thức nhiều đêm trắng,
Khói thuốc che mờ mái tóc xanh
Anh đi tìm em qua cánh chim,
Anh đi tìm em qua bao đêm,
Cánh chim đã lướt theo chiều gió,
Hơi rượu càng làm anh nhớ them.
Bài này, về sau khi bọn tôi , Hoàn và Anh đưa xuống nhà in Trí Đăng – đường Nguyễn Thiện Thuật sắp chử xong chuẩn bị in thi thầy đã lẳng lặng đổi bằng bài khác “ Bài ca xuân cho người già “ với lý do nôi dung bài Nhớ thêm quá bi thương không phù hợp với tuổi học trò. Ây là lời bác Châu Anh- quản lý nhà in nói lại.Bài này hồi các Diops còn ở Viet nam, buổi nhậu nào tôi cũng đọc…Tôi còn nhớ những năm 1980, trong một buổi nhậu rượu đế với Trần Long Ẩn( nhạc sĩ – tác giả Người mẹ Bàn Cờ – cựư sinh viên Văn Khoa – Triết Đông ), khi nghe bài này, đã nức nở khen hay.
Hay như bốn câu này, nhạc sĩ Y Vân đã mượn tứ thơ để phát triển và soạn bài hát “ Buồn” nổi tiếng.
“….Buồn như ly rượu đầy,Không có ai cùng cạn, Buồn như ly rượu cạn, Không còn bạn để say…”
Những năm sau này, tình cờ vào http://www.petrusky.org , lại tìm được một số đoạn thơ , mà nay đã trở thành di cảo của nhà thơ.
Như một đoạn trong bài “ Sầu ở lại “ này….
“…..Đời lỡ nhúng sầu bên cốc rượu,
Mượn vui bè bạn sống qua ngày,
Đoạn trường hơn cả thân ca kỹ
Cơm áo làm nên chuyện nước mây…
Năm cùng tháng tận đời hoang vắng
Bên quán ngờ đâu gặp lại mày
Gọi để mừng nhau khi hội ngộ
Thì xin hãy cạn chục ly đầy
Quàng vai tìm chút dư hương cũ
Nhắc đến hàng trăm chuyện đổi thay…
Nhắc đến những thằng… nay đã chết
Những thằng đang sống kiếp trâu cày
Bạn ơi, nước mắt minh tuôn đấy…
Ngồi nhậu bên đường…ta khóc đây…. “
Và hai câu thơ gần như là thơ tuyệt mệnh, khắc trên bia mộ do thân hữu và gia đình lập:
“Thân cát bụi chẳng còn chi nuối tiếc
Nhưng lòng riêng khao khát chút tình thương…”
Để kết bài viết này tôi xin mượn một câu của bạn Đỗ Kha( P.Ký 76) :
“…Hãy dành phút mặt niệm cho người quá cố. Người thi sĩ bạc mệnh., Người thầy tuy nghiêm khắc nhưng hài hòa, tuy mực thước nhưng rộng lượng.” như một nén nhang lòng kính dâng lên thầy.
Được đăng bởi hsg vào lúc Thứ tư, tháng chín 05, 2007
Nguồn: HSG’s Blog
http://hoansansg.blogspot.com/2007/09/nh-thy-hc-nh-th-t-k.html
*********
Nhật ký cuối cùng của thi sĩ Tạ Ký, 1978:  www.thaita.wordpress.com/taky/diary1978
************
January 2011 / Vài ý nghĩ về web tribute cho ba tôi
************

Lời Cảm Tạ:   Những dòng thơ lưu lại, những dòng thơ đã mất.  Những gì muốn nói, đã nói, chưa kịp nói, và không thể nói.  Một kiếp người, chớp mắt.  Định mệnh đã buộc chặt ba tôi với quê hương Việt Nam và thơ.  Định mệnh đã cho ba tôi những tình bạn mà ba tôi vô cùng quí mến.  Xin cảm tạ những tình bạn tha thiết, tri âm tri kỷ đó.  Một ngàn năm nữa, không biết tiếng Việt có còn không, nhưng cách đây hai mươi mấy năm, trong trại học tập cải tạo, có một người đàn ông tối tối lén lút trùm mền viết thơ trên giấy đi cầu tơi tả, và Tết đến, thầm thì đọc những dòng thơ ai oán cho bạn đồng tù nghe, để họ được khóc.  Hình ảnh đó là tinh túy của ba tôi.  Tập thơ này là một cảm tạ, tới quê hương, tình yêu, và Thượng Đế.  ///  Tạ Thái, 2001
********
taky-tho-kiemduyet2
những giòng thơ Tạ Ký bị kiểm duyệt
taky-tho-kiemduyet1

7 Responses to THƠ TẠ KÝ

  1. Tuan Ninh says:
    Chào Thái,
    Tình cờ search trên mạng tác phẩm “Sầu Ở Lại” của Thầy Tạ Ký, mới biết là Thái là con của Thầy…
    Nhóm bạn PetrusKý của Tuấn có thiết lập một diễn đàn, để có thể lưu lại những hình ảnh, những sinh họat của trường PetrusKy, và những kỹ niệm về Thầy Cô.
    Nếu Thái rảnh rổi thì ghé vào http://www.diendanpetrusky.com và xem thử… trong đó cũng có một bài viết về Thầy Tạ Ký. Và nếu Thái có thể tạo một Blog riêng cho thầy trong diễn đàn… thì thật là vô cùng quý báu.
    Thân
    NV Tuấn
  2. Dai Quach says:
    Hi Thai,
    Toi la Dai Quach, hoc tro cua Thay Ta Ky day Quoc Van nam 71. Tui toi roi truong PKy nam 75. Toi van con nho hinh anh cua thay luc do, an mac luc nao cung rat la chinh te. Mot tay cam cap, mot tay luc nao cung cam ong pipe tren tay. Mot nguoi ban vua gui mot bai viet tren internet ve thay. Khong biet Thai co doc chua. Toi gui cho Thai …
    PHẠM PHÚ MINH – TẠ KÝ, THỂ PHÁCH VÀ TINH ANH
    PHẠM PHÚ MINH
    Tạ Ký sinh năm 1928, đến năm 1945 có thể coi anh vừa vào tuổi thanh niên. Một số thanh niên thuộc thế hệ 1945, trong cuộc kháng chiến chống Pháp phải đối diện với hai chọn lựa. Nếu ở vùng “tự do” tức vùng Việt Minh kiểm soát thì ở lại với kháng chiến hay là “nhảy đồn” để về vùng quốc gia; hoặc đang ở vùng quốc gia cũng có một số nhấp nhỏm thoát ly về vùng kháng chiến. Từ sau 1950, khi phía cộng sản bắt đầu chương trình cải cách ruộng đất và đấu tố thì phong trào về thành phố ngày càng nhiều.
    Tháng Sáu năm 1952, Tạ Ký cùng Lê Trọng Nguyễn, Nguyễn Sum, Nguyễn Viết Tường “nhảy” vào đồn Xuân Đài, thuộc Gò Nổi, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, sau khi lội qua con sông Thu Bồn nhánh phía nam, nước rất cạn vào mùa hè. Từ đó các anh được đưa dần về Đà Nẵng, và sau một thời gian làm thủ tục an ninh với ty Công An và phòng nhì Pháp, tất cả được gia nhập vào cuộc sống bình thường của vùng quốc gia. Nhưng trước khi hội nhập hẳn vào đời sống mới, cả đám bị phòng nhì Pháp bắt trở lại, và chuyện này có thể là một giai thoại vui vui, nên mở một dấu ngoặc để kể lại. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn khi về có mang theo mình một cây đàn ghi-ta Ý mà anh rất quý, và khi khai ở phòng nhì Pháp bằng cách thế nào để qua sông Thu Bồn, anh đã dùng chữ Pháp nager (lội bơi). Đám phòng nhì xem lại hồ sơ thì thấy có điều không ổn: lội bơi qua sông thì làm sao đem cây đàn theo? Thế là cả bọn bị bắt lại cho đến khi làm sáng tỏ chuyến vượt sông chỉ là một cuộc lội bộ qua một dòng nước rất cạn.
    Thời bấy giờ, đối với một thanh niên, việc bỏ vùng này vượt qua vùng khác là một chuyện rất trọng đại. Chế độ thay đổi, chí hướng thay đổi, tương lai thay đổi. Chuyến ra đi ấy của Tạ Ký càng trọng đại vì anh chỉ đi có một mình, tất cả người thân và gia đình ở lại bên kia hết. Vừa chớm vào đời đã làm lại tất cả từ con số không, từ hai bàn tay trắng. Điều này ảnh hưởng không nhỏ lên sáng tác của anh, có thể là khởi điểm mới cho toàn bộ thi ca của anh. Mặc dù Tạ Ký làm thơ rất sớm, từ đầu thập niên 40 thời còn học tiểu học, tất cả thơ của anh mà chúng ta được biết hôm nay đều là thơ làm từ khởi điểm mới ấy. Anh là nối dài âm hưởng thi ca tiền chiến, mà Huy Cận và Nguyễn Bính có lẽ là hai nhà thơ ảnh hưởng anh nhiều nhất. Tính chất lãng mạn của những chuyến giang hồ thời trước nay chính anh đã thực hiện để xoay chuyển đời mình. Và nỗi nhớ, nỗi đau của chia ly, xa cách với mẹ già, với làng mạc – những nỗi niềm đã trở thành cổ điển trong thơ ca của chúng ta một thời – hằn khá rõ nét trong thơ anh trong những năm đầu về thành.
    Và dĩ nhiên tình yêu. Tình yêu không chiếm một tỉ lệ đáng kể trong thơ Tạ Ký, không có nét say mê đắm đuối của tuổi trẻ mà luôn luôn nhuốm vẻ ngần ngừ như chạm vào một mặc cảm. Đó không phải là những lời giao tình của tuổi hai mươi, lúc “tình xanh không lo sợ,” mà của năm, mười năm sau đó, khi “tôi chín chắn như thủy thủ già vượt biển, đọc mây sao tìm hướng của phong ba, mùa lỡ xuân mà ngày cũng sắp tà.” Vào tuổi hai mươi Tạ Ký có làm thơ tình không? Chắc chắn là phải có dù không còn lại một dấu vết nào, nhưng những bài thơ tình của anh mà chúng ta đang có là những ly rượu lâu năm, rất thắm, rất đượm, nhưng không còn màu xanh lung linh ngan ngát của buổi tâm hồn mới mở.
    Thơ tâm sự với bạn bè thì nhiều. Tâm tình chính yếu của anh có lẽ là ưu tư về đất nước, về cuộc đời, về vai trò của lứa tuổi mình. Nói với người đồng hội đồng thuyền là tiện nhất. Chuyến về thành vừa như một vụ tỵ nạn chính trị vừa là một chuyến đi tìm một lý tưởng mới. Nhưng cái chính nghĩa quốc gia còn mờ nhạt bên cạnh sự hiện diện của quân đội viễn chinh Pháp có lẽ chưa đáp ứng được, chưa cả biện minh nữa, cho quyết định đổi đời của chàng thanh niên. Ở bên kia, bức màn bức bối của đấu tố và kiểm soát tư tưởng bắt đầu buông xuống làm tối đi sự trong sáng của những năm đầu kháng chiến, hàng loạt người đã quyết định thoát đi. Nhưng khát vọng của những tâm hồn nặng lý tưởng thì chắc chắn sẽ ít nhiều bị hụt hẫng với bên này. Đó là nỗi khổ của lớp người như Tạ Ký.
    Và nỗi khổ ấy sẽ kéo dài theo đời sống, theo thời cuộc, với đất nước chia đôi, với chế độ mới ở miền Nam, rồi với cuộc chiến ngày càng nhấn chìm mọi hy vọng xây dựng một đời sống no đủ và tự do dân chủ mong ước. Tạ Ký là một tổng hợp điển hình của một mẫu loại đời sống của miền Nam. Ưu tư, bất mãn với rất nhiều cảm giác bất lực, nhưng vẫn làm việc, vẫn sống, thậm chí vui chơi với cuộc sống, kết giao, nhậu nhẹt, sáng tác… cho đến ngày miền Nam sụp đổ.
    *
    Trong buổi họp mặt của Hội Thơ Tài Tử hồi tháng Chín năm ngoái (2000) tại quận Cam, một người không quen đến gặp tôi. Người ấy là nhà thơ Đạm Thạch, kéo tôi ra một nơi, đưa cho tôi coi bức thư của Đynh Trầm Ca viết từ Sài Gòn, trong đó có một đoạn nhắc đến tên tôi, nhưng về chuyện một người khác: anh Tạ Ký. Đoạn ấy như sau:
    Mới đây tôi có gặp Cung Tích Biền để nói chuyện mộ anh Tạ Ký ở Chợ Mới An Giang có người cho biết gần như mất dấu, nếu không có ai lo di dời. CT Biền bảo sẽ báo Tường Linh và anh em khác để lo nhưng rồi… cũng chỉ nói chơi cho vui!… Không biết Đạm Thạch có biết Tạ Ký không nhỉ? Đ.Thạch hỏi dùm T.Y.Hòa có biết ai là thân nhân ông Tạ Ký còn sống ở Mỹ hay ở Sài Gòn để báo cho họ biết nhé! Cũng nên báo cho anh Phạm Phú Minh (tức Phạm Xuân Đài) vì anh Minh người Quảng Nam có khi anh ấy sẽ có ý kiến gì đó giúp cho nắm xương anh Tạ Ký có chỗ yên ổn (…).
    Đây là một điều tôi trông đợi đã nhiều năm, nó đã đến với tôi vào một lúc không ngờ nhất, vì tôi đã không còn hy vọng gì việc tìm biết thêm tin tức về anh Tạ Ký. Khoảng những năm đầu thập niên 80 khi còn trong trại cải tạo ở Thanh Hóa, tôi đã nghe loáng thoáng tin những người thăm nuôi nói anh Ký đã mất ở Long Xuyên, nhưng đến khi tôi được về Sài Gòn thì chuyện đó đã thành chuyện đời xưa, hỏi đến chẳng ai biết nữa. Tôi buồn vì anh Ký là một trong những người thân của tôi, mà đến một lúc cuộc đời xiêu tán đến độ chỉ trong một không gian không rộng lớn lắm – Sài Gòn, Long Xuyên – mà hỏi mãi cũng không biết được những ngày cuối cùng của anh đã xảy ra như thế nào, mồ mả hiện ở đâu.
    Qua đến Mỹ thì đôi khi tình cờ cũng được nghe tin tức về anh, nhưng chỉ thêm hoang mang. Ít nhất anh đã chết tại ba nơi khác nhau là Long Xuyên, Rạch Giá và Cà Mau, vì ba nguyên nhân cũng hoàn toàn khác nhau là bệnh gan, bị công an đánh, và… trúng gió. Nhớ lại những ngày thân thiết hồi xưa, tôi chỉ biết mặc niệm anh trong lòng.
    Tạ Ký là một nhà thơ sáng tác rất sớm, ngay từ những ngày còn ngồi ghế nhà trường, và vào giữa thập niên 50 thì được nhiều người biết đến khi thơ anh bắt đầu xuất hiện trên báo chí Sài Gòn như các tờ Đời Mới, Văn Nghệ Tiền Phong v.v… Sau khi bỏ vùng Việt Minh năm 1952 thì anh về Huế để học nốt những năm cuối của bậc trung học ở trường Khải Định. Đậu tú tài xong anh vào Sài Gòn năm 1956, theo học Văn Khoa và Luật. Anh dạy văn chương tại trường Petrus Ký, Sài Gòn, từ những năm cuối thập niên 50, có cung cách một giáo sư – nghệ sĩ. Anh vẫn tiếp tục làm thơ, cuối thập niên 60 in tập Sầu Ở Lại, và được trao giải Tổng thống VNCH vào đầu thập niên 70. Anh có in một tập thơ thứ nhì, Cô Đơn Còn Mãi, nhưng có lẽ gần ngày sụp đổ miền Nam nên ít người biết đến. Từ 1975 anh đi tù cải tạo vì tội “giáo chức biệt phái,” ra khỏi tù hai năm sau. Năm 1978 anh đi về miền Tây, và đã qua đời tại đó vì bệnh gan ngày 19 tháng Ba năm 1979. Việc anh Tạ Ký qua đời tại một nơi xa xôi như thế đã khiến phần lớn bà con bạn bè không biết rõ về cái chết của anh, do đó đã có nhiều đồn đoán lung tung. Cho mãi đến gần đây nhờ anh Đynh Trầm Ca có lòng tìm kiếm, báo động, mọi việc mới được rõ ràng, như sẽ được trình bày ở một phần sau.
    *
    Tạ Ký người làng Trung Phước, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Làng anh nằm trên hữu ngạn con sông Thu Bồn, là một vùng bắt đầu có nhiều núi non, từ đây càng tiến về phía tây thì càng đi vào vùng thượng du. Mỏ than Nông Sơn nằm bên kia sông, hơi chếch về phía thượng nguồn. Phong cảnh vùng này hữu tình, đồi núi quê anh là nơi Bùi Giáng đã đi chăn dê, hai chàng thi sĩ đất Quảng xuất thân cùng một làng, thậm chí nhà ở cùng một xóm với nhau.
    Khoảng đầu thập niên 40, gia đình anh gởi anh vào Quảng Ngãi ở trọ học ngay tại nhà tôi, vì thầy tôi thời ấy đang làm hiệu trưởng trường tiểu học phủ Bình Sơn. Dạo ấy tôi còn quá nhỏ, không có ký ức gì về sự hiện diện của anh trong nhà, chỉ nhớ nhà tôi đông đúc vì anh chị em tôi vốn đã đông, lại thêm một số học trò trọ học từ Quảng Nam vào. Mặc dù ở Quảng Nam cũng có nhiều trường học, bà con hoặc bạn bè của gia đình thích gởi con cái trọ học với thầy tôi, tuy phải đi xa. Chắc họ nghĩ được ăn học nơi một nhà mô phạm thì chắc ăn hơn, dễ “thành người” hơn. Một người bà con, cùng quê lại cùng trọ học một thời với Tạ Ký, nhà thơ Tú Lắc hiện ở San Jose đã nhớ lại thời xa xưa đó như sau:
    Theo bà cô ruột tôi, thân mẫu của Tạ Ký, thì bà hiếm con nên cô dượng tôi đến chùa Non Nước – tức Ngũ Hành Sơn – để cầu tự. Sau đó Tạ Ký được sinh ra nên trong thân tộc tôi bảo Tạ Ký là con cầu. Tôi tuy ít tuổi hơn nhưng là vai anh, anh em cô cậu ruột. Thuở bé, chúng tôi thường qua lại chơi với nhau, đến khi đi học cũng lại học chung một trường, trường làng. Trong mấy mươi học trò nhà quê, Tạ Ký học giỏi nhất.
    Những năm cùng nhau học ở trường Bình Sơn, Quảng Ngãi, Tạ Ký đã thích thơ. Một tập vở đóng bằng giấy manh, Tạ Ký vẽ vời ngoài bìa trông cũng khá “hoa lá cành” và nắn nót hai chữ “Vườn Thơ” bằng bút chì màu. Tập này, Tạ Ký dùng chép những bài thơ ưa thích. Tôi còn nhớ bài “Chợ tết miền quê” của Đoàn Văn Cừ được chép ở trang nhất. Một tập vở khác là những bài thơ của Tạ Ký sáng tác tên là Tạ Tập Tò. Rất tiếc tôi không còn nhớ được bài nào.
    Ngoài sở thích thơ, Tạ Ký cũng rất ưa đá bóng. Đọc “Đội Ban Quê” (hình như là của Thanh Tịnh) trong tập Truyền Bá Quốc Ngữ thời bấy giờ, Tạ Ký thích quá bèn đứng ra lập một đội banh của lớp Nhì đệ nhị, thời ấy gọi là lớp Moyen première année, lấy tên là đội Thanh Xuân. Đội thường hay tập dượt với những quả banh tennis xin được của người lớn. Tạ Ký giữ “gôn” rất khá, cũng có những pha nhào lộn để bắt bóng rất ư là “ngoạn mục.” Đầu gối vào cùi tay cũng do những pha này mà trầy trụa tùm lum.
    … Trong khoảng thập niên 70, tôi phụ trách mục thơ “Ngông” cho nhật báo Dân Luận ở Sài Gòn do anh Thinh Quang làm chủ nhiệm. Một hôm Tạ Ký đến tìm tôi, anh Thinh Quang bảo rằng tôi cùng anh Mộng Đài và ký giả Hồng Thu đi Long An chơi rồi. Nghe xong Tạ Ký bèn nói to lên rằng: “Thật chán cho cái ‘thằng’ anh của tôi. Ký thiệt đây mà hổng đi chơi, đi làm chi với mấy tay… ký giả ấy!”
    *
    Từ miền Trung, Tạ Ký vào Sài Gòn, và như nhiều lớp người Quảng Nam có học trước đây đã đến miền Nam, “gia nhập” vào đời sống Sài Gòn đối với họ gần như có nghĩa tuyệt đối là làm nghề dạy học và viết báo. Phan Khôi, Vương Gia Cần, Phan Ngô, Vũ Ký… đã làm như thế, đến phiên mình Tạ Ký lại gia nhập vào cái thế giới chữ nghĩa ấy. Anh dạy trường công và vô số trường tư, rồi lại viết báo, làm thơ, như một cái nghiệp đã định sẵn cho một lớp người. Nhưng Tạ Ký không thuộc giới mở trường tư, cũng không phải một người hoạt động chính trị — mặc dù ưu tư chính trị vẫn là một nét đặc biệt của những người từ xứ Quảng vào đây, và Tạ Ký cũng không ra ngoài thông lệ ấy — anh mang cung cách một nghệ sĩ. Giao du, đàm luận, nhậu nhẹt với bạn bè là một sở thích không thể thiếu với anh, và trước 1975, chợ Đủi được coi là “giang sơn” của anh với các bạn, mỗi buổi chiều. Chính đám bạn bè ghiền nhau trong thế giới riêng ấy của họ đã tô đậm thêm nét cá tính của thầy giáo và nhà thơ Tạ Ký. Nhà thơ Hà Thượng Nhân nhớ lại mấy nét vừa ngông ngông vừa cảm khái về anh:
    Tạ Ký là một thi tài. Anh hình như có một tâm sự u uất nào đó, không thể nói ra lời. Cho nên cố quên bằng rượu. Ngày nào cũng uống la-de, không phải một hai chai mà cả “két.” Lại phải uống ở chợ Đủi mới “đã”. Uống ở đâu rồi rốt cục cũng phải về chợ Đủi uống thêm.
    Một buổi chiều về nhà, xe tôi chạy qua chợ Đủi. Tạ Ký ra giữa đường chặn đầu xe lại. Rồi lôi tôi vào quán và đuổi tài xế về. Tôi uống một chai rồi định rút lui. Tạ Ký ấn vai tôi ngồi xuống: “Không được! Anh phải uống mười chai.”
    Tôi đang ngồi với Chu Tử ở nhà Đằng Giao (con rể Chu Tử) thì Tạ Ký đến. Gặp tôi anh hung hăng nói lớn: “Em phải đánh Phạm Thiên Thư.” – “Sao đánh?” – “Vì nó hỗn.” – “Hỗn sao?” – “Nó dám viết Đoạn Trường Vô Thanh.” – Rồi Tạ Ký đọc: “Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” (Tì Bà Hành) (1). Nó dám cho nó là hơn Nguyễn Du. Thơ của nó đã đi đến đâu mà dám láo vậy?”
    Có hôm tôi bảo Tạ Ký: “Cậu dạy kiểu gì mà năm, sáu mươi giờ một tuần? Uống rượu kiểu gì mà hàng ‘két’ mỗi tối? Cậu định tự tử đấy à?” Tạ Ký hỏi lại: “Bộ cuộc đời đáng sống lắm hở anh?”
    *
    Sau khi đi tù cải tạo về, trong khung cảnh xác xơ của xã hội sau 75, Tạ Ký vẫn gặp gỡ bạn bè, trong những quán nhậu nghèo nàn hơn, uống những thứ rượu độc hại hơn. Và đến một ngày năm 1978 anh quyết định ra đi về miền Tây. Buổi tối trước khi đi anh uống rượu với Võ Hồng Lạc, một người bạn giáo chức, thổ lộ ý định ấy và đọc cho Lạc bài thơ như sau:
    Đời lỡ nhúng sầu bên cốc rượu
    Mượn vui bè bạn sống qua ngày
    Đoạn trường hơn cả thân ca kỹ
    Cơm áo làm quên chuyện nước mây
    Năm cùng tháng tận, đời hoang vắng
    Bên quán ngờ đâu lại gặp mầy
    Quàng vai tìm chút dư hương cũ
    Nhắc đến hàng trăm chuyện đổi thay
    Nhắc đến những thằng nay đã chết
    Những thằng đang sống kiếp trâu cày
    Bạn ơi, nước mắt mình tuôn đấy
    Ngồi nhậu bên đường, ta khóc đây.
    “Có thể chẳng bao giờ tao với mầy còn gặp lại nhau nữa.” Đó là câu cuối cùng trước khi chia tay.
    Mấy tháng sau, Lạc được Tôn Thất Trung Nghĩa cho hay: “Tạ Ký bị người ta đập chết ở Long Xuyên rồi. Tôi lập bàn thờ Ký tại nhà tôi, anh em đến đó tưởng niệm.”
    Thì ra cái thời cuối thập niên 70 thông tin ở Việt Nam bị sai lạc ghê thật. Những người bạn thân thiết nhất của Tạ Ký đang ở Sài Gòn, thân đến độ lập bàn thờ thờ anh, cũng chẳng biết đích xác về cái chết của anh. Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ khó khăn và bị kềm hãm quá sức, hình như không ai đủ sức đi tìm hiểu một sự thật nào. Sự thật về cái chết ấy, cho đến gần đây, với sự giúp sức của Đynh Trầm Ca mới được sáng tỏ.
    Sau khi đọc đoạn thư của Đynh Trầm Ca gửi cho Đạm Thạch trích dẫn trên đây, tôi đã liên lạc với ĐT Ca, cố gắng tạo điều kiện để anh có thể tìm hiểu tường tận về cái chết của anh Tạ Ký. Cuối tháng Mười năm ngoái tôi nhận được bức thư đầu tiên của anh, đề ngày 16.10.2000, có những đoạn:
    Từ sau 1975 tôi trở thành người không nhà cửa (…) sống lang thang khắp mọi nơi… Những ngày tôi trôi giạt khắp miền Tây Nam bộ và về sống ở Long Xuyên ba năm. Tôi gặp năm gia đình Quảng Nam sống gần nhau, trong đó anh Nguyễn Quí Trượng, quê Quế Sơn là người cưu mang anh Tạ Ký khi sống và chôn cất ảnh khi chết. Anh Trượng có kể cho tôi nghe một vài điều về những ngày cuối đời của anh Tạ Ký, cũng như đã ghi cho tôi ngày giờ anh Tạ Ký qua đời cùng nơi chôn cất ảnh như sau:
    Thi sĩ TẠ KÝ
    Mất lúc 13 giờ, thứ Hai, ngày 19-3-1979, tức ngày 22 tháng 2 năm Kỷ Mùi, tại bệnh xá huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, do bệnh gan tái phát (từ trại giam đem đi đến bệnh xá thì chết). An táng tại nhị tì Chợ Mới (gần sân vận động).
    Những người chôn cất và lập mộ: Anh Nguyễn Quí Trượng và người cháu (con ông Cả Triêm, anh cả của chị Trượng). Cùng giúp việc này có anh Nguyễn Tấn Hiến, người Duy Xuyên.
    Cuối tháng 11, tôi lại được bức thư thứ hai của ĐT Ca, đề ngày 16-11-2000, thư này viết sau khi đi Long Xuyên tìm mộ Tạ Ký trở về.
    Tôi đã đi xuống Long Xuyên hôm 11.11. Từ long Xuyên qua phà đi Chợ Mới hơn 30 km, tìm được cháu Nguyễn Hoàng Anh (con trai anh Cả Triêm). Cháu Anh kể:
    Năm 1975, anh Tạ Ký đi cải tạo diện sĩ quan biệt phái ngành giáo dục thời gian là hai năm. Khi về vẫn được dạy lại theo diện giáo viên lưu dung. Năm 1978 vợ con đi vượt biên nên anh bị cho thôi việc. Khoảng ngày rằm tháng Chín âm lịch thì anh đi xuống Chợ Mới để tìm anh Cả Triêm (ba của cháu Anh) là bạn đồng hương của anh. Trên đường đi anh đã bị tên xe ôm đập ngất xỉu để cướp tiền bạc. Tuy vậy, nó không lục đến vớ giày nên anh cũng còn chút đỉnh. Anh được người giữ chòi chăn vịt ở Lộ Tẻ (Rạch Giá – Long Xuyên) cứu sống và hướng dẫn đường về Chợ Mới. Anh ở đó cho đến ngày 25-12-1978 thì bị Công an huyện và xã xét nhà bắt anh về tội cư trú bất hợp pháp. Khi vào trại anh khai tên là Nguyễn Đình Tư quê Bình Định (có lẽ cho hợp với một cái giấy nào đó mà anh có trong người). Vì vậy mà anh bị nghi ngờ và giữ lâu ở trại. Đến ngày 19-3-79 thì bịnh xơ gan cổ chướng của anh tái phát nặng. Vì cháu anh là người vào ra thăm nuôi suốt thời gian anh ở trại, nên trại nhắn tin cho cháu lo tiền chích thuốc, rút nước trong gan… cho đến trưa thì anh mất. Cháu Anh đã mua quan tài bằng gỗ gòn và xin trại khâm liệm rồi chôn ở nhị tì gần sân vận động và sau thánh thất Cao Đài.
    Tất cả các di vật của Tạ Ký đều được người cháu giữ gìn đầy đủ, trong đó quý nhất có lẽ là tập nhật ký gồm 11 trang anh Ký viết vào những tháng cuối cùng, mà anh Đynh Trầm Ca đã gửi cho tôi được một bản sao photocopy. Tập nhật ký có tựa đề là “Một Cuộc Bể Dâu…” bắt đầu viết vào ngày 14-9-1978, và kết thúc vào 24-12-78, một ngày trước khi tác giả bị bắt. Tâm trạng một người vào con đường cùng, bệnh hoạn, buồn bã, trầm uất nhưng vẫn hy vọng ”Thế nào rồi cũng yên. Hết bĩ đến thái, cơ trời là vậy. Mình mong những người thân thuộc khuất mắt che chở, giúp đỡ mình qua cơn nguy biến này.”
    Những dòng chót của trang 11 ghi ngày 24-12-78:
    ”Hỡi Thượng đế! Suốt đời con đơn chiếc
    Đi lang thang như lạc nẻo Thiên đường!”
    Noel ở quận lỵ hẻo lánh thật buồn. Nhà thờ nhỏ, người đi lễ thưa thớt. Mình kỷ niệm ngày Chúa ra đời bằng một xị đế với phá lấu. Về nằm ngủ, thấy chiêm bao lung tung. Đêm Noel lạnh quá.
    Ngày hôm sau, 25-12 công an đến bắt đi. Gần ba tháng sau, Tạ Ký qua đời. Bữa nhậu và những dòng chữ cuối cùng của một đời tài hoa, vào đêm Giáng sinh 1978.
    *
    Một mất mát lớn cho chúng ta là toàn bộ thơ của Tạ Ký làm sau 1975, phần lớn trong trại cải tạo, nay đã thất lạc. Năm 1978, khi gia đình của anh đã đi vượt biên, anh gọi người cháu là Đỗ Ngọc Anh đến nhà và dặn: “Tất cả thơ của bác giấu trong chiếc ghế xoay này.” Nhưng rồi anh đi bất ngờ, khi Ngọc Anh hay tin đến nhà thì một số đồ đạc đã bị người ta lấy đi, trong đó có chiếc ghế xoay… Âu cũng là số mạng.
    Thời gian đi tù cải tạo, Tạ Ký có lúc ở chung trại với Lê Đình Điểu, Mai Chửng, Anh Thành, Trịnh Cung. Tháng Ba 2001 vừa qua, Trịnh Cung phải mổ nằm ở bệnh viện Fountain Valley (Quận Cam), tôi đến thăm và anh đã đọc cho tôi chép bài thơ duy nhất của Tạ Ký làm trong trại cải tạo mà anh nhớ được. Theo Trịnh Cung, Tạ Ký làm bài này vào khoảng năm 1976 tại trại Xuân Lộc.
    RUỒI VÀ EM
    Ruồi từ hố tiêu bay lên
    Tiếng ruồi lao xao như sóng gợn
    Mắt ruồi nâu làm nhớ tóc Tây phương.
    Ruồi đậu trên giây thép gai như chuỗi hạt huyền
    Anh tặng em ngày cưới.
    Ruồi đậu trên giây thép gai như những nốt nhạc
    Giây thép gai kẽ nhạc không đều
    Làm sao em hát.
    Có bầy én về không phải để báo tin Xuân
    Vì anh biết mùa Xuân đã chết
    Có bầy én về tìm ruồi trên giây thép
    Chuỗi hạt huyền vỡ tan
    Anh gọi tên em mấy lần.
    Người thứ nhì còn nhớ thơ Tạ Ký trong trại cải tạo là Anh Thành, nhưng anh chỉ nhớ… có ba câu:
    Anh đã nhận được
    gói quà ba ký
    Quà tuy nhỏ nhưng cột giây rất kỹ
    Như sợi tơ tình em đã cột đời anh.
    Hơn hai mươi năm qua, vì nằm xuống ở một chỗ xa xôi khuất nẻo trong một hoàn cảnh quá hiu hắt, anh hầu như bị lãng quên bởi những người từng biết anh, những đồng nghiệp, giới nhà văn, nhà báo, học trò và cả bạn bè của anh. Sau khi Đynh Trầm Ca “đặt vấn đề,” ai cũng thấy cần phải phục hồi chỗ đứng – và chỗ nằm – của một người suốt đời đã đóng góp công sức của mình trong việc giáo dục môn quốc văn và nhất là đóng góp thi tài của mình vào khu vườn văn nghệ Việt Nam. Sau mấy tháng vận động của gia đình, bạn bè, bà con trong nước và ngoài nước, cuối cùng hài cốt của anh đã được mang về cải táng tại nghĩa trang Gò Dưa, Thủ Đức, cạnh mộ Bùi Giáng, vào đúng ngày Thanh Minh năm Tân Tị (5 tháng Tư 2001). Linh hồn anh từ lâu chắc đã tìm thấy sự yên ổn, sau khi thoát khỏi cuộc đời với nhiều bệnh hoạn, sầu muộn, sợ hãi. Và chúng ta, sau khi đã tìm lại được anh, đặt anh lại vào một chỗ tương xứng trong cuộc đời cũng như trong lòng người, chúng ta cũng thấy yên ổn. Bậc tài hoa thường cho đời nhiều hơn là nhận lãnh về phần mình, vậy đời, về phía mình, cũng phải biết trân trọng phần thể phách lẫn phần tinh anh của bậc tài hoa.
    PHẠM PHÚ MINH
    Chú thích:
    (1) Thử thời vô thanh thắng hữu thanh (Lúc ấy, cái không có tiếng hay hơn cái có tiếng). Tập thơ của Phạm Thiên Thư có nhan đề là “Đoạn Trường Vô Thanh.” Truyện Kiều của Nguyễn Du nhan đề là “Đoạn Trường Tân Thanh” (tiếng mới nghĩa là “có” tiếng). Câu thơ trên rút trong bản Tì Bà Hành của Bạch Cư Dị.
    ==========================================
  3. Thai Ta says:
    Cám ơn anh. Bài này có đăng trong tập thơ của ba Thái khi bác Phạm Phú Minh giúp in khoảng 10 mấy năm trước. Cám ơn anh post lại đây.
Có ai học trò của thầy Tạ Ký không?

Sài gòn năm giờ chiều. Sau cơn mưa lớn trời dịu hẳn lại. Những tàn lá xanh của hàng cây sao được giũ lớp bụi lại càng xanh hơn làm cho không khí ban chiều trở nên dễ chịu. Tôi đang cặm cụi vá ruột xe đạp cho một khách quen thì nghe có tiếng xầm xì ở phía sau lưng. Quay lại nhìn lên thì thấy Tôn Thất Trung Nghĩa với cái miệng mom móm và nụ cười dễ thương đang nhìn xuống tôi. Thoáng thấy đôi mắt của Tôn Thất Trung Nghĩa nhìn tôi hơi là lạ như muốn nói với tôi điều gì đó. Đứng bên cạnh Tôn Thất Trung Nghĩa là một người, không phải là một ông già nhưng tóc đã bạc trắng, người nhỏ thó, khuôn mặt hơi xương có đôi mắt sáng nhưng lộ vẻ lo âu. Tôn Thất Trung Nghĩa không nói gì, ra dấu cho tôi tiếp tục công việc.Tôi nhìn người đàn ông khẻ gật đầu chào. Tôn Thất Trung Nghĩa kéo thùng đạn garant đựng đồ nghề của tôi vào sát bức tường loang lổ và ngồi xuống. Người đàn ông đứng dựa lưng vào tường. Tôn Thất Trung Nghĩa móc trong túi vải màu xanh gói thuốc rê ra vấn bằng mẩu giấy báo. Nghĩa một điếu, người đàn ông một điếu. Họ nói chuyện gì đó nho nhỏ với nhau tôi không nghe được.


Khoảng mười phút sau tôi vá xong ruột xe, lắp vào và bơm. Tôi bỏ đồng bạc giấy vào túi, nhặt miếng giẻ dính dầu mỡ lâu ngày lau vội hai bàn tay bẩn rồi đi đến trước mặt Tôn Thất Trung Nghiã và người đàn ông.Tôn Thất Trung Nghĩa cười, vẫn cái miệng mom móm và nụ cười dễ thương quay nhìn người đàn ông đứng bên cạnh và nói: “đây là Châu, như tôi đã nói với anh, một đứa em rất dễ mến, đang lao động theo kiểu xã hội chủ nghĩa để kiếm cơm…”. Lối nói của Tôn Thất Trung Nghĩa lúc nào cũng pha chút giễu đùa. Tôn Thất Trung Nghĩa chỉ nói vậy thôi. Người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt thông cảm và hình như có chút gì thương hại. Không biết thương hại cho tôi hay thương hại cho anh, cho Tôn Thất Trung Nghĩa và cho cả bao nhiêu bè bạn đang ngơ ngác lang thang khắp các vỉa hè Sàigòn.
 Người đàn ông bắt tay tôi siết mạnh và giữ một hồi lâu. Tôn Thất Trung Nghĩa đứng lên nhìn tôi nói tiếp: “Và đây là Tạ Ký, bạn của tao vừa đi tù ra”. Người đàn ông mà Tôn Thất Trung Nghĩa vừa giới thiệu là Tạ Ký không nói gì cả, cũng không thấy cười nhưng sao tôi cảm giác rằng anh đã nói và nói nhiều trong cái bắt tay siết mạnh vừa rồi. Tôn Thất Trung Nghĩa lại móc trong túi xách gói thuốc rê vấn hai điếu, đưa cho Tạ Ký một điếu và tôi một điếu. Tôn Thất Trung Nghĩa vấn thêm một điếu nữa cho mình. Tôi lấy bật lửa châm thuốc lần lượt cho cả ba. Tôi cũng không biết phải nói gì trước người đàn ông có tên Tạ Ký vừa mới quen.
Nhưng ký ức của tôi hình như cũng bắt đầu làm việc với cái tên nghe quen quen này. Sau khi hít vài hơi cho khói vào tận phổi, Tôn Thất Trung Nghĩa vỗ vai tôi nói: “Tao đưa Tạ Ký đến thăm mày một chút, bây giờ hai đứa tao phải đi thăm mấy thằng bạn nữa, chiều mai hai đứa tao sẽ đến đây và tụi mình sẽ đi làm một xị…”. Nói xong Tôn Thất Trung Nghĩa dắt xe đạp xuống lòng đường. Tôn Thất Trung Nghĩa với thân hình to lớn, ngồi trên chiếc xe đạp ọp ẹp thấy mà tội cho cả xe lẫn người. Tạ Ký ngồi đằng sau dáng nhỏ thó, co rúm như con ếch khô. Đôi mắt anh hình như còn quá xa lạ với thành phố Sàigòn sau mấy năm trong trại tù cộng sản. Một cơn gió nhẹ thoảng qua, vài chiếc lá xoay xoay trong khoảng không rồi rơi nằm trên mặt đường. Tôn Thất Trung Nghĩa và Tạ Ký đi rồi tôi thấy buồn buồn nên thu dọn đồ đạc, buộc thùng đạn garant đựng đồ nghề sau xe và đạp về nhà. Trời cũng vừa sụp tối.


Tôi biết về Tạ Ký rất ít qua một số bài thơ của anh đăng trên báo dạo trước ở Sàigòn. Tôn Thất Trung Nghĩa sau đó có kể nhiều lần cho tôi nghe về Tạ Ký. Sau này mỗi khi có cơ hội chỉ một mình anh và tôi, Tạ Ký kể chuyện về đời anh cho tôi nghe. Không biết nhận ra điều gì nơi tôi khiến Tạ Ký gửi gấm cho tôi một ít tâm sự về đời anh trong khi tôi là người bạn nhỏ tuổi nhất trong số các bạn bè của anh. Hơn nữa, tôi lại là người mới được quen anh sau này. Đã từ lâu Tôn Thât Trung Nghĩa và Tạ Ký là đôi bạn tri kỷ. Hai người lúc nào cũng bên nhau như hình với bóng. Hai người đều là giáo sư của nhiều trường trung học tại Sàigòn. 
Tôn Thất Trung Nghĩa dạy môn vạn vật còn anh Tạ Ký dạy văn chương.Tạ Ký cũng là một sĩ quan quân đội, có dạo anh lên dạy tại trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Đà Lạt, lúc đó anh cũng có dạy thêm ở một vài trường tư thục trong đó có trường Việt Anh của giáo sư Lê Phỉ và vợ của Tạ Ký là học sinh của trường này. Tôn Thất Trung Nghĩa sau dạy tại trường Sư Phạm Sàigòn cho đến khi đi du học ở Ý và trở về trình luận án tiến sĩ luật và được dạy tại đại học luật khoa Sàigòn về môn toán kinh tế. Tôn Thất Trung Nghĩa và Tạ Ký là đôi bạn chơi thân với nhau vì cả hai có tính nghệ sĩ ngông nghênh bất cần đời mà nhiều bạn bè biết đến. 
Nơi hẹn hò thường xuyên của hai người là một cái quán nhỏ nằm trong một góc bên trong chợ Đũi. Chợ Đũi nằm ngay ngả tư Trần Quý Cáp và Lê Văn Duyệt, nơi đoạn đường có hai hàng me xanh quanh năm. Chính nơi quán nhậu bình dân này, Tôn Thất Trung Nghĩa là nguồn cảm hứng cho Tạ Ký trong một số bài thơ được in trong tập “Sầu Ở Lại”. Trước 1975, đối với tôi, cái tên Tạ Ký chẳng có gì là đặc biệt so với tên của các nhà thơ như Bùi Giáng hay Nguyễn Đức Sơn là những nhà thơ có nhiều nét riêng hết sức đặc biệt mà giới văn học Miền Nam Việt Nam thường nhắc tới như những nhà thơ “điên điên”. Anh sống giữa thủ đô Sàigòn, dạy học, làm thơ, nhậu nhẹt với bạn bè, thích cá độ đua ngựa và vô số nữ sinh mê anh qua những bài thơ anh đọc trong lớp cho họ nghe. Bạn bè của anh cũng thích thơ của anh. Trong tập thơ “Sầu Ở Lại”, nhiều bài thơ anh ghi tặng bạn bè, ngoài tên Tôn Thất Trung Nghĩa có những tên rất quen như Phạm Công Thiện, Thế Viên, Huy Trâm, Bùi Giáng, Trương Đình Ngữ, Hoài Khanh, Nguyễn Liệu, Lê Khắc Lý, Cao Thế Dung…Trong một bài thơ bốn câu với tựa đề “Trung Thất Trung Nghĩa”, Tạ Ký viết:


Từng đêm chợ Đũi đẫm sầu
Ly la ve đổ gội đầu tóc xanh
Người sơn dã lạc kinh thành
Ngả nghiêng đáy cốc độc hành trong đêm



Tạ Ký ví Tôn Thất Trung Nghĩa như “Người Sơn Dã” thật không sai! Cũng trong “Sầu Ở Lại”, Tạ Ký đề tặng và ghi nhận hình ảnh của Tôn Thất Trung Nghĩa trong thơ của mình nhiều hơn bất cứ một người bạn nào khác. Tôi nhiều lần nghe anh đọc thơ, những bài thơ tình, những bài thơ nói về thực trạng xã hội mà anh đang sống, những bài thơ nhắc lại thời kỳ son trẻ, thời kỳ anh chưa nhận chân ra những thực tế phũ phàng khi đa số thanh niên đi theo kháng chiến để rồi mộng vỡ tan tành. 
Anh nói anh “bị mắc lừa” từ những năm anh mười tám đôi mươi. “Sầu Ở Lại” được giới thiệu với bạn bè vào cuối thập niên sáu mươi và do bạn bè “xúi”, “Sầu Ở Lại” được gửi dự thi giải văn học toàn quốc và đã nhận được giải nhất vào đầu thập niên bảy mươi. Theo lời kể của Tôn Thất Trung Nghĩa thì sau khi nhận được một số tiền thưởng từ giải văn học, Tạ Ký ới bạn bè đến chợ Đũi đãi anh em liền mấy chầu và số tiền còn lại đủ để trả nợ vòng vòng các quán nhậu mà anh đã có sổ ghi. Những lần ăn độ đua ngựa, anh nhét tiền đầy trong áo sơ mi, leo lên xích lô về chợ Đũi rồi ới bạn bè đến nhậu suốt đêm và đọc thơ cho bạn bè nghe.


Như đã nói ở trên, Tạ Ký là một nhà giáo nhưng anh không có mấy cái dáng dấp của nhà mô phạm. Với bản chất là một nghệ sĩ, một người ưa phiêu bạc, anh có rất nhiều bạn bè, yêu mê đến cuồng nhiệt cái “chân thiện mỹ” mà anh nói là “khó có được” lẫn những cái “xấu” đáng yêu mà anh bắt gặp rất nhiều. Anh có ký tặng tôi cuốn “Sầu Ở Lại” được in trên giấy hoa tiên. Tôi đọc đi đọc lại nhiều bài trong “Sầu Ở Lại” và thấy anh đã đánh mất một thời hoa niên vì theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc lên đường cứu nước, bỏ lại làng quê thân yêu “đất cày lên sỏi đá”. Đến khi bừng tỉnh thì thấy “mình” và “thế hệ của mình” bị lừa gạt quá nhiều. Anh thấy được bộ mặt lừa dối và thô bỉ của cộng sản nên ân hận và tìm cách cứu mình…Anh đã cùng với nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và vài người nữa vượt tuyến, băng qua sông Thu Bồn để về vùng Quốc Gia năm 1952…

Mười tám tuổi, vải thô thay nhung lụa
Giày vỏ xe hơi mòn gót liên khu…


Để rồi:

…Khi ba mươi biết được chuyện xưa lầm
Thì đau khổ đã hằn trên trán nhỏ…



Cha mẹ và bà con của anh sống những năm dài dưới gót “dép râu” tại liên khu 5 trong vùng việt minh kiểm soát. Anh kể cho tôi nghe cơn lụt năm 1964 đã cuốn phăng nhà cửa và người mẹ của anh ra lòng biển cả, lúc đó anh đang ở Sài Gòn. Nhắc đến chuyện này anh ân hận vì không có mặt tại quê nhà để có thể cứu mẹ. Vợ của Tạ Ký hình như là một người có nhan sắc (tôi có thấy một lần trong nhà anh nhưng không thấy rõ mặt lúc tôi đưa anh về nhà sau khi bị công an phường bắt) và là học trò của anh lúc anh dạy ở trường Việt Anh – Đà Lạt của giáo sư Lê Phỉ. Sau tôi có hỏi giáo sư Lê Phỉ thì giáo sư cũng cho biết đúng như vậy.
 Có một điều đặc biệt là không bao giờ nghe anh nhắc đến vợ con trong lúc tâm sự với tôi. Tôn Thất Trung Nghĩa là người cho tôi biết vợ của Tạ Ký đã không còn yêu thương anh nữa sau khi anh đi tù về. Nhiều lần anh tâm sự sau khi đã uống ngà ngà và mặt đỏ gay, anh tỏ ý không vui về tính nết của vợ – và ngay cả lòng chung thủy, nhất là khi anh đang còn trong trại tù của cộng sản. Ở tù ra, anh vẫn trở về căn nhà cũ nhưng anh không còn điểm tựa. Anh trở thành một bóng mờ trong gia đình. Sáng sớm anh rời nhà ra đi mà chẳng biết đi đâu và làm gì. Anh chỉ biết tìm đến với bạn bè và theo họ lang thang khắp nơi trong thành phố. Sống trong thời kỳ hết sức ngột ngạt thì hầu như người đàn ông nào thuộc “chế độ cũ” cũng rời nhà vào mỗi buổi sáng để tránh những cặp mặt dòm ngó của công an và ngay cả với những người trong khu phố, trong phường. Bạn bè kéo đi đâu anh đi đó, từ các quán cà phê “vớ” trên các vỉa hè đến các quán nhậu rẻ tiền. Anh không biết đi xe đạp. 
Có tiền thì đi xích lô, không có tiền thì cuốc bộ. Nhà anh ở trong con hẻm đường Bùi Chu, góc Hồng Thập Tự. Sau khi đã biết tôi một thời gian ngắn, thỉnh thoảng một mình anh ghé đến “chỗ làm việc” của tôi trước cổng trường văn khoa cũ. Hai anh em nhâm nhi ly cà phê và hút vài điếu thuốc lá lẻ. Sau đó anh lại đi nơi khác, chẳng biết đi đâu. Cũng có nhiều lúc, anh ngồi chơi với tôi một lát thì Tôn Thất Trung Nghĩa đạp chiếc xe đạp cọc cạch tới. Thường thì Tạ Ký và Tôn Thất Trung Nghĩa ghé tôi vào buổi chiều mà hai anh nghĩ là tôi đã rảnh việc để kéo nhau đi làm một xị. Chúng tôi hay đến quán bà Năm Lửa ở đường Cao Thắng nằm sát đường xe lửa. 
Một hai xị, một hai dĩa nghêu ốc luộc, lúc nào có tiền thì thêm một con khô mực hay một con cua luộc nhỏ. Thế thôi. Tại đây tôi cũng được nghe về một thời vàng son của hai anh. Tôi là người chịu nghe chuyện nên Tạ Ký cứ mỗi lần cần tâm sự lại tìm đến tôi. Anh thủ thỉ với tôi những chuyện có thể tâm sự được. Biết hoàn cảnh của anh sau khi đi tù về, tôi có đề cập đến vấn đề vượt biên thì anh buồn bã nói…Đâu có tiền mà vượt biên…Bạn bè ai cũng thương anh nhưng không ai có thể đèo bòng cái chuyện nguy hiểm và tốn kém đó. Anh cũng biết như thế nên nói với bạn bè…ai đi được cứ đi, đừng thắc mắc gì về Tạ Ký này cả…


Tôi nhớ mãi một buổi sáng khoảng chín mười giờ anh đến chỗ tôi sửa xe đạp. Lúc này cũng là giờ cao điểm mà công an phường Dakao đi dẹp lòng lề đường tức là xua đuổi bắt bớ những người buôn bán hoặc làm những nghề “linh tinh” như nghề sửa xe đạp, sửa giày dép, bán vé số, bán cà phê… Khi thấy hai công an đang nhắm vào để “hốt” mớ đồ nghề của tôi thì anh đã nhanh tay chộp được cái ống bơm rồi chạy biến đi nơi khác. 
Tôi thấy anh chạy về phía đường Hiền Vương rồi mất dạng. Công an liệng thùng garant đựng đồ nghề của tôi lên chiếc xe tải nhỏ cùng với những bàn vé số, bàn ghế ly tách…của mấy quán cà phê lề đường. Mấy chị bán hàng chạy theo kỳ kèo vừa xin xỏ vừa chửi bới om xòm. Tôi nản quá bèn thu quén mấy món đồ còn sót lại rồi nhảy lên xe đạp chạy thẳng về hướng Thị Nghè. Đến đường Nguyễn Bỉnh Khiêm tôi vòng lại khu Tân Định rồi ra Hai Bà Trưng, quanh lại nhà thờ Đức Bà và cố tìm nhưng chẳng thấy Tạ Ký đâu cả. Tôi không về nhà mà đạp thẳng qua nhà Tôn Thất Trung Nghĩa ở đường Hồ Biểu Chánh, Phú Nhuận, lúc đó Tôn Thất Trung Nghĩa sắp ra chỗ tôi sửa xe vì đã có hẹn với Tạ Ký. Tôi kể chuyện bị công an đuổi và Tạ Ký xách ống bơm chạy không biết giờ này đang ở đâu. Vừa kể xong câu chuyện thì thấy Tạ Ký đang ngồi chễm chệ trên xe xích lô tiến vô phía cổng nhà Tôn Thất Trung Nghĩa với vẻ mặt hớn hở như vừa lập được một chiến công. Tôi giã từ nghề sửa xe đạp từ đó…


Có một buổi tối chúng tôi hẹn găp nhau ở nhà của bạn tôi là anh Thái Văn Tùng ở đường Đoàn Thị Điểm gần vườn Tao Đàn, anh Tùng là con của hoạ sĩ Thái Văn Ngôn nổi tiếng về vẻ cá vàng trên tranh sơn mài Thành Lễ ở Bình Dương. Khi cộng sản chiếm hết cơ sở Thành Lễ, ông về quê ở Vũng Tàu làm rẩy và vài năm sau ông mất. Ngoài tôi, Tôn Thất Trung Nghĩa, Tạ Ký còn có anh Nguyễn Văn Đức (cựu hiệu trưởng trường Pétrus Ký), anh Phan Ngọc Răng (GS dạy vạn vật) và vài người bạn của Tùng để nghe Tạ Ký đọc một số bài thơ của anh viết trong tù. 
Theo anh thì lúc đang ở tù, anh đã làm được vài chục bài thơ mà đa số anh nhớ trong đầu để khi ra tù mới ghi lại xuống giấy, một số ghi trên giấy gửi bạn cùng tù và nhờ họ ráng học thuộc mỗi người một hai bài để sau khi ra trại ghi lại rồi đưa cho anh. Mỗi lần bọn quản giáo xét trại là mỗi lần mọi người đều lên ruột. Rất may là chưa bao giờ chúng bắt gặp một bài thơ nào của anh. Một lần có lệnh chuyển trại, mọi người được lệnh phải mang hết đồ đạc ra ngoài, chúng vào lục soát bên trong lán trại, sau đó chúng lùa tù vào lán trại mà không mang theo đồ đạc, chúng lục soát đồ đạc của từng người, không tìm ra được gì chúng mới ra lệnh cho tù mang đồ đạc vào trại.
 Đó là một lệnh chuyển trại giả để khám xét vì chúng nghe phong thanh Tạ Ký có làm thơ. Tạ Ký có một quy ước với các bạn (chỉ vài người) là khi nào có lệnh khám xét hay những hành động khác thường của bọn quản giáo thì các bài thơ phải được tiêu huỷ ngay bằng cách nuốt vô bụng chứ không xé bỏ vì sợ dấu tích rơi rớt khiến chúng phát giác ra được. Thái Văn Tùng đãi một bữa ăn ngon có rượu ngoại và thuốc lá Pall Mall. Sau đó Tạ Ký đọc thơ. Những bài thơ viết bằng ngôn ngữ giản dị nhưng mang nhiều hình ảnh và âm thanh làm xúc động mọi người có mặt tối hôm đó. 
Nghe thơ anh, thấy cả một trời đau thương tan tác đọa đày đến xé ruột. Những hình ảnh trong thơ đâm toạc vào tim người nghe, đau thương ướt đẫm lai láng. Chúng tôi, không ai cầm được nước mắt theo lời thơ của anh. Giọng anh lúc uất nghẹn lúc trầm buồn lúc cay đắng tuyệt vọng. Hai bài thơ gây xúc động mạnh cho anh em là bài “Thăm Chồng” và “Chuỗi Hạt Huyền”. Bài thứ nhất nói về một người vợ dắt con đi thăm chồng, đứa con nhìn thấy cha nó nên nó chạy xổ đến, ngờ đâu người cha đứng phía sau hàng rào kẽm gai, mặt đứa bé đâm vào kẽm gai chảy bê bết máu. Lần sau đến thăm chồng, người vợ đi một mình, đứa bé đã chết vì vi trùng uốn ván! 
Bài thứ nhì với nội dung…ngày xưa anh tặng cho người yêu chuỗi hạt huyền trong ngày cưới, chuỗi hạt huyền lóng lánh kiêu sa…bây giờ trong trại tù anh thấy vô số những chuỗi hạt huyền, mỗi ngày anh đều thấy rất nhiều và nhiều vô kể khi anh bó gối ngồi ngắm để rồi nhớ người yêu xưa…Những chuỗi hạt huyền đó là những đàn ruồi xanh có thân hình no tròn long lánh với đôi cánh óng ánh dưới ánh mặt trời đậu hàng hàng lớp lớp trên những hàng rào giây thép gai quanh những hố tiêu…những lần nghe tiếng động, chúng bay lên và phát ra những âm thanh nghe đến rợn người… “Ruồi từ hố tiêu bay lên. Tiếng ruồi lao xao như sóng gợn. Mắt ruồi nâu làm nhớ tóc tây phương. Ruồi đậu trên giây thép gai như chuỗi hạt huyền…


Anh không chép những bài thơ viết trong tù cho bạn bè. Nhưng, người con gái nuôi của anh tên Bảy là người cất giữ những bài thơ đó và vài chục tập “Sầu Ở Lại”mà anh còn giữ được sau những đợt truy quét các sản phẩm văn hóa Miền Nam Việt Nam. Anh đưa Bảy đến gặp tôi nhiều lần và tôi biết chắc chắn cô Bảy là người mà anh tin và giao phó cho cô nhiều thứ kể cả việc cô Bảy sẽ liên lạc với tôi khi có những sự bất trắc xảy ra cho anh (điều này như là một điềm báo). Tôi cũng linh cảm rằng, ngoài cô Bảy, tôi là người anh có thể tin tưởng được, lý do là nhiều lần tâm sự hay có những chuyện cần bàn bạc, anh chỉ gặp tôi chứ không không gặp Tôn Thất Trung Nghĩa. Sau những lần chuyện trò hết sức riêng tư, anh dặn tôi là đừng nói cho Tôn Thất Trung Nghĩa nghe. Tôi có thể giải thích được điều đó: Sở dĩ anh tin tôi là vì lập trường chính trị mặc dù tôi chỉ là loại đàn em và chỉ mới quen anh trong một thời gian rất ngắn. Khi bàn đến tình hình chính trị trong nước, nhất là khi đề cập đến chủ nghĩa cộng sản, anh và tôi có nhiều ý tưởng trùng hợp trên mặt nhận định, quan điểm và lập trường.


Bỏ nghề sửa xe tôi chuyển sang nghề bán sách cũ, bán chui ngoài vỉa hè Lê Lợi. Tôn Thất Trung Nghĩa và Tạ Ký vẫn thường ghé tìm tôi cà phê cà pháo vào buổi sáng và “làm một vài xị” vào buổi chiều. Tạ Ký nói năng rất điềm đạm những lúc uống cà phê nhưng đến lúc nhậu lại là một Tạ Ký khác. Nhiều lúc anh trở nên nóng nảy bất ngờ bạn bè không ai cản ngăn được. Nhiều lần uống rượu với anh em, anh nổi cơn chửi cộng sản khiến anh em xanh mặt. Có một buổi chiều chúng tôi đến một quán nhậu nằm trên đường Bàn Cờ thuộc phường 4 quận 3. 
Hôm ấy cũng có anh Nguyễn Văn Đức, Phan Ngọc Răng và một người mà tôi gặp lại rất tình cờ, đó là giáo sư Trương Toàn, dạy triết mà tôi là học trò của anh tại Đà Lạt hồi đầu thập niên 60. Thông thường khi gặp nhau như thế, anh em trao đổi cho nhau những tin tức nghe được từ các đài phát thanh BBC và VOA, những tin tức về vượt biên cùng những tin cộng sản đàn áp bắt bớ, đưa ra toà, xử tử…Tạ Ký uống được vài ly là mặt anh đỏ gay và nổi cơn chửi cọng sản (khi uống rượu vào là chửi cọng sản đã trở thành một cái tật của nhiều người, kể cả tôi). Ai cũng khuyên anh đừng chửi, vì đâu đâu cũng có công an. Tôi ngồi đối diện với anh, nhìn anh thông cảm như muốn chia sẻ cùng anh, tôi ôn tồn nói với anh: “Ở đây công an nhiều lắm không nên đụng tới chúng”. Tôi vừa dứt câu thì Tạ Ký đứng bật lên và tay vơ lấy xị đựng rượu. Anh nhìn thẳng vào tôi với ánh mắt rực lửa rồi hét lên “Tao không sợ thằng nào cả…” đồng thời đập ngay xị rượu vào đầu tôi (tưởng đầu tôi là đầu việt cộng chắc!).


Mọi người đều bàng hoàng sửng sốt trước phản ứng quá nhanh của Tạ Ký. Trong nháy mắt, tôi thấy có hai thanh niên mặc sơ mi trắng bỏ ngoài từ bên kia đường phóng qua giữ chặt hai tay Tạ Ký rồi quặt ra phía sau. Có lẽ khi đó anh nhận thấy tình huống quá nguy hiểm nên nhìn vào tôi phán thêm một câu: “Mày kêu công an bắt tao đi, tao cứ uống, tao không về…”. Giọng anh lè nhè, mắt sụp xuống, tay xụi lơ và thân mình như muốn ngả giữa hai tên công an. Đến nước này thì phải một ăn một thua. Trong đám tôi là người nhỏ nhất, tôi lại là “nạn nhân” của Tạ Ký. Tôi cảm thấy đầu tôi hơi ê ê nên đưa tay sờ lên chỗ bị ê. Tôi cảm thấy ướt nơi tay. Tay tôi dính đầy máu. Thật đáng mừng! Tôi vội chìa “bàn tay máu” ra trước mặt hai tên công an phân bua: “ Cha này là anh của tôi, chả làm thợ mộc, làm được bao nhiêu là nhậu hét bấy nhiêu, say sưa tùm lum, ông già thấy chiều không về bảo tôi đi tìm, đến đây thấy chả nhậu, kêu về không chịu về, tôi đòi kêu công an còng đầu chả, chả đập tôi bể đầu…
Chả bị bắt cả chục lần về tội nhậu vô rồi quậy mà vẫn chứng nào tật ấy, mấy anh mang thằng chả về đồn nhốt cho chả chừa…”. Chủ quán và các thực khách đều nghe tôi phân bua. Hai tên công an không nói năng gì cả. Tôi quay sang nhìn Tôn Thất Trung Nghĩa đang đứng đực mặt ra: “ Mấy cha làm ơn về báo cho ông già tôi biết là thằng cha mất nết này nhậu say đánh người bị công an bắt, nói ông cầm hộ khẩu đến lãnh ra…”. Được tôi mở đường, mấy anh em dắt xe đạp biến mất. Tôi ngồi xuống bên lề đường tiếp tục phân trần để tạo dư luận cho những người quanh đó nghe hầu có thể làm nhân chứng phòng khi khi công an hỏi đến. Trong khi đó tôi thấy hai tên công an đẩy Tạ Ký qua bên kia đường và đi về hướng Phan Thanh Giản, sau đó đẩy Tạ Ký vô đồn công an phường 4 cách chỗ tôi ngồi độ ba trăm thước. Tôi nghĩ “điệu này là tiêu đời Tạ Ký rồi…”


Tôi sợ chúng hỏi và lục xét giấy tờ của Tạ Ký là bể chuyện vì anh là sĩ quan mới “học tập” về. Còn nước còn tát. Tôi vừa nghĩ cách cứu Tạ Ký vừa phân trần với đám đông bu quanh tôi. Tôi kể tội Tạ Ký nào là uống rượu như hũ chìm, làm được đồng nào là uống hết đồng đó, không vợ không con, báo hại ông bà già, bị công an bắt nhiều lần làm kiểm điểm tại địa phương…Khoảng mười phút sau tôi vẫn không thấy hai tên công an trở lại. Chúng đang tra hỏi ? đang lập biên bản ? Những người đứng chung quanh tỏ vẻ thương hại và thông cảm với tôi. Chốc chốc tôi đưa tay lên sờ vết thương trên đầu cho máu vấy thêm vào tay. 
Rồi trong nháy mắt, tôi quyết định đánh bài liều có. Tôi dắt xe đạp đến thẳng đồn công an mà trong lòng hồi hộp và sợ không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Tôi dựng xe dưới lề đường nhìn vào thấy Tạ Ký năm sòng xoải trên một chiếc ghế dài, hai mắt nhắm nghiền ngáy khò khò (giả vờ là cái chắc)! Hai tên công an mặc thường phục lúc nãy ngồi sau chiếc bàn đọc báo, một tên công an nữa mặc đồng phục ngồi ở chiếc bàn bên trong đang ghi chép gì đó vào một cuốn sổ. Tôi bước chậm vào phía trước ghế dài Tạ Ký đang nằm, cúi đầu chào ba tên công an và cố tình đưa bàn tay máu cho chúng thấy. Tôi nói: “ Mấy anh làm ơn nhốt dùm cha này, tôi về kêu ông già lấy hộ khẩu ra lãnh…Cả ba tên công an nhìn tôi nhưng chẳng nói năng gì cả. Tôi bước sát tới chỗ Tạ Ký đang nằm và cúi xuống nắm vai lắc mạnh: “Dậy đi cha, dậy xin làm kiểm điểm rồi về, cha gây phiền phức quá…”.


Tôi cố ý tạo cho mấy tên công an cái cảm tưởng Tạ Ký là kẻ nát rượu, hư thân mất nết, bê bối…Trong khi lắc vai, tôi bấm mạnh mấy cái để cho anh biết mà hành động cho phù hợp với lời nói của tôi…may ra…Tôi lại sợ lỡ có một tên công an nào khác đến thấy cái cảnh này lại hạch hỏi lôi thôi thì chỉ có rắc rối thêm. Ba tên công an vẫn “không ý kiến”, tôi bèn đỡ Tạ Ký dậy ngồi trên ghế, mắt anh nhắm nghiền, người ngả qua ngả lại như muốn ngả (đóng kịch giỏi), miệng thì há hốc trông thật buồn cười, đầu gục xuống ra cái điều say ngất ngư và phát ra tiếng khò khò trong cuống họng…Đến lúc này ba tên công an vẫn không có phản ứng gì. Tôi mạnh dạn nói : “ Xin mấy anh cho tôi lôi chả về nhà, chả không còn biết trời trăng gì nữa…”, tôi lại xỉ vả tiếp: “ Cho cha đi cải tạo là vừa lắm, cứ vào công an rồi ra hoài cũng chẳng ăn thua gì, chứng nào tật nấy…Tôi đỡ Tạ Ký đứng lên. Lúc này anh đóng kịch tợn thêm nữa, hai đầu gối xụm xuống, miệng vẫn há hốc, người mềm nhủn và mắt vẫn nhắm nghiền…Cái thân hình gầy còm giờ đây sao mà nặng dữ!


Tôi thấy ba tên công an cười. Tôi mừng trong bụng. Tôi vội lôi Tạ Ký ra ngoài đường đặt ngồi sau xe đạp, hai chân buông thỏng đụng xuống mặt đường, đầu gục trên yên xe. Tôi vội leo lên xe, đỡ đầu Tạ Ký cho dựa vào sau lưng, cầm hai tay cho ôm eo tôi. Không chần chờ, tôi nhấn bàn đạp cho xe chạy về hướng Phan Thanh Giản, quay nhìn lại phía sau nhiều lần nhưng không thấy có công an đuổi theo. Đến Phan Thanh Giản tôi quẹo phải (đường một chiều) chạy đến đường Vườn Chuối rồi đâm qua Phan Đình Phùng. Tôi cố tình chạy như vậy để đánh lạc hướng công an vì sợ chúng nghi ngờ điều gì rồi đuổi theo. Băng qua một con hẻm đến đường Hồng Thập Tự.
 Lúc này tôi mới thong thả nên đưa tay ra sau đấm vào vai Tạ Ký: “Thôi nhen cha, khỏi cần đóng kịch nữa…”. Lúc đó Tạ Ký mới hoàn hồn và lấy tay đấm thùm thụp vào lưng tôi” “Tao phục mày quá Châu ơi” rồi không quên hỏi mấy người bạn cùng đi nhậu. Tôi nói họ di tản hết rồi, không có ai bị gì cả. Bấy giờ anh mới thấy bàn tay tôi đầy máu nên bảo tôi đạp thẳng về nhà của anh ở trong một con hẻm trên đường Bùi Chu. Đó là lần đầu tiên tôi ghé nhà của anh. Vô nhà, anh chỉ tôi đến lavabo rửa tay dính đầy máu. Tôi thấy có một người đàn bà trong nhà đứng ở một góc bên trong không rõ mặt, mặc áo màu hồng cũ, người nhỏ nhắn. Tôi nghĩ trong bụng người này chắc là vợ anh. Người đàn bà không hỏi han gì đến anh , anh cũng chẳng nói một lời nào cho đến khi tôi rửa tay và mặt xong anh bảo: “Thôi, mày đi về đi, sáng mai gặp lại…”.


Sáng hôm sau Tôn Thất Trung Nghĩa và Tạ Ký ra Lê Lợi gặp tôi cùng uống cà phê, anh kể cho Tôn Thất Trung Nghĩa nghe việc anh đóng kịch giả say và tôi đã cứu anh ra sao. Số anh em cùng nhậu hôm trước ai ai cũng tưởng là Tạ Ký sẽ vô tù trở lại. Sau đó, thỉnh thoảng tôi có gặp lại các anh có mặt chiều hôm đó cho đến lúc họ lần lượt đi vượt biên. Riêng Tôn Thất Trung Nghĩa thì vẫn gặp thường xuyên. Cũng từ đó Tạ Ký càng mến tôi hơn. Có chuyện gì anh cũng đều kể cho tôi nghe, riêng chuyện gia đình thì anh thường than thở rằng vợ anh không còn đối đãi tử tế với anh sau ngày anh đi tù về. Tôi cũng không biết anh có bao nhiêu người con và họ đang làm gì. Có chuyện gì xích mích trong gia đình thì anh lại ghé rủ Tôn Thất Trung Nghĩa rồi hai người ra chỗ tôi đang bán sách cũ ngoài đường Lê Lợi để uống cà phê buổi sáng hoặc đi nhậu một hai xị nếu là buổi chiều.


Tôi hành nghề bán sách không đầy một tháng, biết mình bị công an để ý nên bỏ nghề rồi chuyển qua nghề giữ xe đạp trước cổng trường sư phạm, tức là trường Quốc Gia Sư Phạm cũ ở góc đường Thành Thái và Cộng Hoà. Nói là “nghề” cho xôm chứ tôi làm sao mà có được một bãi giữ xe. Chủ bãi giữ xe là một nhân viên của trường sư phạm cũ còn lưu dụng nên được trường cho đặt một xe bán cà phê trước cổng trường và căng dây giữ xe cho sinh viên. Một hôm Nghĩa rủ tôi và Tạ Ký đến uống cà phê ở đây. Trước 75 Tôn Thất Trung Nghĩa có dạy ở trường sư phạm nên ai cũng biết, Tôn Thất Trung Nghĩa bảo ông chủ bãi cho tôi một chân giữ xe và ông ta vui vẻ nhận lời. Tôi hành nghề giữ xe đạp là nguyên do như thế.


Vào một buổi tối của tháng chín năm bảy tám Tạ Ký đến nhà tôi, khi đó khoảng tám giờ hơn. Tôi thấy anh có vẻ hớt hải lo âu, chắc là có chuyện gì không hay cho anh đây. Tôi nghĩ như thế. Hay là công an đã tìm ra manh mối kẻ say rượu hôm trước ở đường Bàn Cờ. Không lẽ chúng tài ba đến thế. Tạ Ký bảo tôi chở anh ra ngồi ở một quán cà phê vỉa hè, anh bảo: “Vợ con tao đã đi vượt biên hết rồi…”. Tôi hơi sửng sốt khi vừa mới nghe, sửng sốt vì nghĩ rằng tại sao anh không đi vượt biên cùng với vợ con. 
Vào những năm đó, chuyện vượt biên không phải là chuyện lạ. Lạ đối với tôi là Tạ Ký bị bỏ lại. Tôi trấn an anh: “Có gì mà anh phải hốt hoảng, vợ con anh đi vượt biên chứ phải anh tổ chức cho họ đi đâu mà sợ…”. Anh nói cộc lốc: “ Không được, chúng sẽ đến bắt tao…”. Tôi không biết động cơ nào khiến anh lo sợ thái quá như thế. Vào thời điểm đó những ai có dính dáng đến chuyện vượt biên, dù chỉ nói đến hai chữ “vượt biên” mà công an nghe được cũng đã bị khó dễ với chúng. Tệ hại nhất là những gia đình có người vượt biên, chúng đến đuổi những người còn lại ra khỏi để tịch thu nhà. Tạ Ký sẽ bị đuổi ra khỏi nhà là trăm phần trăm vì anh không có tên trong “sổ hộ khẩu” do mới học tập về và chưa hết thời kỳ quản chế. Anh hốt hoảng cũng phải. Uống vội ly cà phê anh bảo tôi chở anh về nhà ở đường Bùi Chu nơi tôi đã đến một lần sau khi bốc được anh ra khỏi đồn công an ở đường Bàn Cờ.


Anh mở cửa vào nhà lấy mấy bộ áo quần áo, một mớ giấy tờ và quơ chiếc quạt máy để ở bàn rồi vội trở ra khoá cửa, xong anh bảo tôi chở anh ra trước cổng vườn Tao Đàn ở đường Hồng Thập Tự. Thấy anh vô cùng bối rối nên tôi không dám hỏi han gì thêm. Anh dặn tôi khoan cho Tôn Thất Trung Nghĩa và bạn bè hay chuyện vợ con anh đi vượt biên. Tối hôm sau anh và cô Bảy, con nuôi của anh đến nhà và rủ tôi đi. Tôi đạp xe đạp còn anh và cô Bảy ngồi xích lô. Tôi thấy mặt anh rất buồn, mặt cô Bảy cũng buồn. Tôi đạp xe theo anh đến đường Bùi Viện và vào quán ăn Ba Thừa. Anh nói đãi tôi bữa ăn để chia tay. Tôi hỏi có phải anh sắp đi vượt biên không. Anh trả lời không và nói tiếp… “tao phải đi xa rồi sau này mày sẽ biết, con gái của tao”, anh chỉ cô Bảy, “sẽ cho mày biết tao ở đâu…”.
 Cô Bảy cho tôi biết một số địa điểm khi cần tôi đến gặp cô để biết tin tức Tạ Ký sau này. Đây là bữa ăn chia tay tưởng sau đó còn gặp lại anh, đâu ngờ… Khi chia tay ở quán Ba Thừa, anh dặn tôi ngày mai có mặt ở bến xe Miền Tây lúc mười một giờ. Trên đường về tôi rất hoang mang về dự tính của anh khi quyết định rời thành phố để về Miền Tây. Cả đêm hôm đó tôi không tài nào ngủ được. Hình ảnh Tạ Ký cứ lảng vảng trước mắt tôi. Tôi không hiểu nổi anh. Hôm sau tôi đạp ra bến xe Miền Tây, đến nơi tôi đã thấy anh và cô Bảy. Tôi chẳng nói năng hay hỏi han nhiều với anh, chỉ nói hy vọng sớm biết tin và gặp lại anh. Khi xe chuyển bánh tôi thấy cô Bảy lau nước mắt. Xe chạy ra khỏi bến, tôi đạp thẳng về nhà Tôn Thất Trung Nghĩa để cho hay là vợ con Tạ Ký vượt biên và Tạ Ký đã đi miền Tây. Tôn Thất Trung Nghĩa cũng sửng sốt không kém gì tôi khi mới nghe tin đó.


Tạ Ký đi rồi, như đã giao hẹn trước, một tuần sau tôi tìm cô Bảy để biết tin tức Tạ Ký tại khu chợ trời bán sách cũ đường Bùi Quang Chiêu, cô Bảy bán sách cũ nhưng không có sạp, cô gửi sách ở các sạp quen, khi cần thì cô ghé lấy giao cho khách mua. Lần đầu tiên đến gặp, tôi được cô Bảy kể cho nghe câu chuyện Tạ Ký bị trấn lột trên đường từ Cần Thơ đi Long Xuyên. Những lần sau cô Bảy cho tôi biết tình trạng sinh hoạt của Tạ Ký ở Chợ Mới cho đến khi Tạ Ký bị bắt và chết trong tù. Sau đây là toàn bộ câu chuyện mà cô Bảy kể cho tôi nghe:


Tuần trước, tôi và cô Bảy đưa Tạ Ký lên xe để về Cần Thơ. Khi xe đến Cần Thơ thì trời đã tối. Xe đò chạy rất chậm vì phải ngừng ở nhiều trạm để đóng thuế, xét hàng, xét người…Tạ Ký muốn tranh thủ về quận Chợ Mới, tỉnh An Giang nên anh không ở lại Cần Thơ, anh thuê một chiếc xe ôm để đưa anh thẳng về Long Xuyên. Trong túi xách tay của anh chỉ có vài bộ quần áo, một số giấy tờ và lận trong người độ hơn ngàn bạc. Khi người thanh niên chở anh ra khỏi thành phố Cần Thơ khoảng một tiếng đồng hồ thì tai nạn đã đến với anh. Chính người lái xe ôm này chở anh vào một con đường ruộng vắng vẻ, đập anh một trận bán sống bán chết rồi lấy hết tiền và túi xách của anh. Nằm bất tỉnh dưới ruộng cho đến sáng hôm sau anh mới tỉnh và mò lên đường đón xe trở lại Cần Thơ rồi quay lại Sài Gòn. May mà anh dấu tiền nhiều nơi trong người nên còn một ít tiền để đi xe. Nghỉ ở Sài Gòn hai hôm, anh lại tiếp tục chuyến đi như đã định. Chuyến đi lần này bình yên và anh đến ở nhà của một người người bạn thân cùng quê ở quận Chợ Mới. Anh nói với người bạn là vì chuyện gia đình, anh xin ở tạm vài tuần rồi sẽ ra đi. 
Anh đưa cho người vợ của bạn một số tiền để phụ vào việc ăn uống. Thời gian đầu cả hai vợ chồng bạn tiếp đãi anh tử tế, nhưng sau khi số tiền của anh đã cạn và thời gian vài tuần đã qua mà anh vẫn chưa đi thì người vợ và người con gái tỏ vẻ khó chịu về sự hiện diện của anh. Lần lữa chưa biết tính toán ra sao, tiền bạc cũng không còn nên thái độ của người vợ và con của bạn càng khiến cho anh hết sức khó chịu, hai mẹ con thường hay lớn tiếng nói bóng nói gió và có những hành vi khiếm nhã với anh. Loay hoay mãi với những buồn bực và cô đơn, thêm nỗi nhớ con, anh trở thành một người hoàn toàn thụ động mặc cho số mạng đưa đẩy. Anh chưa kịp rời nhà người bạn thì chính người vợ của chủ nhà mời công an đến bắt anh vào đêm khuya. Chúng đưa anh về nhà giam của huyện. Với mớ giấy tờ chúng lấy được và qua lời khai để chạy tội “khai báo tạm trú trễ” của người vợ chủ nhà, công an huyện giữ anh một tháng để lấy cung và tra tấn trước khi chuyển lên công an tỉnh.


Tại nhà giam của ban phản gián tỉnh An Giang, anh bị chúng ghép tội làm gián điệp. Chúng dùng nhiều trò tra tấn rất dã man khiến anh bị chết lên chết xuống nhiều lần. Mỗi ngày chúng cho anh hai củ khoai mì chấm muối và một gáo nước lạnh (thời kỳ này cả nước đói trầm trọng). Thân hình gầy còm của anh làm sao chịu nổi những trận tra khảo của chúng! Chúng thường xuyên xích chân anh vào một thanh sắt lớn cùng với nhiều người tù khác. Chúng bắt anh kê khai việc làm gián điệp, những người liên hệ, nhất là nghi vấn việc anh bỏ Sài Gòn xuống Chợ Mới. Trong các tờ khai, sau khi đề ngày tháng năm, anh chỉ viết mấy chữ…Tôi không có gì để khai…


Sau một thời gian không nhận được tin tức gì của anh, cô Bảy nóng lòng xuống Chợ Mới thì được gia đình người bạn cho biết là anh đã bị bắt. Cô Bảy đưa cho chủ nhà tiền bạc để lo thăm nuôi dùm. Nhưng trong thời gian Tạ Ký nằm tù, anh không hề nhận được tin tức hoặc thức ăn gì bên ngoài gửi vào. Việc Tạ Ký bị bắt và bị tra tấn đến chết mới kêu người nhà (vợ chồng bạn) đem về chôn không ai biết được nếu không có một người tù tên là Phạm Hữu bị tù từ 1975, cùng ở chung với Tạ Ký tại trại giam của tỉnh, được Tạ Ký nhờ liên lạc với gia đình cô Bảy nếu ông được về trước. Khi được thả ra, ông Phạm Hữu nhờ người nhà lên Sài Gòn tìm đến nhà cô Bảy và mời cô xuống Long Xuyên gặp để nghe ông kể chuyện Tạ Ký ở trong tù. Cô Bảy kể cho tôi nghe những gì cô nghe ông Phạm Hữu đã kể cho cô. Cô kể trong giàn giụa nước mắt. Tôi nghe mà lòng quặn thắt. Cô Bảy cũng nói với tôi cô không có điều kiện để xuống Chợ Mới dời mộ Tạ Ký về Sài Gòn, cô đang chờ để đi Phi Luật Tân. Sau lần gặp cô Bảy để nghe chuyện Tạ Ký, tôi không còn gặp cô. Tôi hy vọng cô đã sang được Phi Luật Tân và mang theo hình ảnh của một người cha, dù là cha nuôi nhưng tôi biết chắc chắn là cô rất kính yêu Tạ Ký.


Tạ Ký là một nhà thơ sống chí tình với bạn bè. Anh là một nhà giáo. Anh là một sĩ quan, một chiến sĩ Quốc Gia bất khuất trước kẻ thù cộng sản. Anh đã từng nói với tôi, anh sẽ là một trong những người đầu tiên đứng lên diệt cộng sản khi có cơ hội, anh và cộng sản không đội trời chung! Anh cũng mong một ngày mai tươi sáng sẽ về với Việt Nam thân yêu để anh được tiếp tục làm thơ, uống rượu với bạn bè và rong chơi khắp các miền đất nước. Nhưng số phận của anh thật hẩm hiu và bi đát. Lúc ở tù không ai thăm nuôi, lúc trở về vợ hất hủi, bỏ rơi, dắt con cái đi vượt biên không một lời từ biệt. Nỗi cô đơn, đau đớn ê chề đến khủng hoảng phải chạy đi trốn, nương thân nhờ người quen để rồi chết một cách thảm thương dưới tay của kẻ thù độc ác.


Giờ đây, có lẽ vợ con của Tạ Ký đang yên vui ở một nơi nào đó tại đất Mỹ, Úc châu hay Âu châu…có biết chuyện chồng, cha của mình chết trong ngục tù cộng sản? Nếu biết, xin thắp cho anh một nén hương để tưởng nhớ.


Khoảng đầu năm 1980, trước khi đi vượt biên, Tôn Thất Trung Nghĩa có lập bàn thờ tại nhà để bạn bè đến thắp nhang cho Tạ Ký. Tôi đến nhà Tôn Thất Trung Nghĩa nhiều lần để nghe Tôn Thất Trung Nghĩa Nghĩa tâm sự thêm về tình bạn giữa anh và Tạ Ký. Sau đó Nghĩa vượt biên thành công, đến được Songkla Thái Lan và sáu tháng sau được nhận vào Mỹ. Khi còn ở Songkla, Tôn Thất Trung Nghĩa có viết thư cho tôi mô tả chuyến đi của mình. Lúc định cư ở Mỹ, Tôn Thất Trung Nghĩa ở Pennsylvania, sau đó xuống Florida rồi qua California. Tháng 10 năm 1990 tôi nhận được tin Tôn Thất Trung Nghĩa đã chết vì ung thư máu. Hai kẻ tri âm – Tạ Ký và Tôn Thất Trung Nghĩa đều đã vĩnh viễn ra đi. Họ có gặp lại nhau ở bên kia thế giới hay không? Hai người đã ra đi. Chỉ còn “Sầu Ở Lại”. Tôi đã mang nỗi sầu đó!


Ngồi viết những dòng này về Tạ Ký, tôi buồn lặng người. Nhớ Tạ Ký. Nhớ Tôn Thất Trung Nghĩa. Dĩ vãng hàng me xanh Chợ Đủi, quán cà phê vỉa hè Lê Lợi, quán nhậu bà Năm Lửa, quán nhậu đường Bàn Cờ, quán Ba Thừa buổi tối chia tay…Có ai còn nhớ đến Tạ Ký? Bài thơ sau đây của anh viết trong tù đã đọc cho bạn bè nghe. Tôi không nhớ hết, nhớ đủ nhưng cũng xin ghi ra đây như đốt lên một nén hương tưởng nhớ đến anh, bài thơ có tựa đề “Cúi Xuống”:


…Cúi xuống nhìn hòn sỏi
Hòn sỏi nhìn trời cao
Cúi xuống nhìn luống cải
Luống cải nhìn ông sao
Cúi xuống nhìn cục đất
Cục đất nằm im lìm
Cúi xuống nhìn ngọn cỏ
Ngọn cỏ đợi sương đêm
…..

Cúi xuống nhìn ngón cẳng
Ngón cẳng dài thêm ra
Bàn chân có năm ngón
Ngón nào riêng của ta ?
…..

No comments: