Wednesday, November 23, 2016

NGƯỜI GIÀ GỐC VIỆT TẠI PHÁP=DU TỬ LÊ =THUYỀN NHÂN


Sunday, October 11, 2015


HÀN GIANG * NGƯỜI GIÀ GỐC VIỆT TẠI PHÁP

Những “người Pháp” gốc Việt có thể sẽ bị cúp tiền già…
 
Những “người Pháp” gốc Việt có thể sẽ bị cúp tiền già…  
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

 

Kính thưa quý độc giả: Người viết phải nói cho rõ ràng: Những “người Pháp” gốc Việt này, đa số đã trên dưới cái tuổi “Thất thập cố lai hy” đã và đang sống độc thân. Và đa số họ không viết và đọc được tiếng Pháp. Nhưng sở dĩ họ có được quốc tịch Pháp, là do họ được ăn theo người vợ, hoặc người sống chung khi được phỏng vấn để vào quốc tịch Pháp, vì những người người phụ nữ đó viết và đọc được tiếng Pháp. Nhưng sau đó, những người phụ nữ  sống chung, hoặc vợ đã chết hay chia tay, thì những “ông Tây” gốc Việt này, vì được hưởng tiền già mỗi tháng 800 Euros (tám trăm Âu kim), mà chỉ trả tiền thuê nhà 100 Euros thôi, nên đời sống của họ rất thong thả, lại còn được Văn Phòng Xã Hội cho người tới tận nhà làm tất cả những việc trong nhà, như tôi đã viết qua bài trước.

 

Chúng tôi là những người thường hay giúp họ trong vấn đề giấy tờ, nên những gì tôi viết là hoàn toàn có thật 100/%. Những “ông Tây” này, vì được “cơm no, ấm cật” nên mới…tất bật đi về Việt Nam, để rồi mỗi “ông Tây” lại có một “cô nhân tình bé nhỏ”. Và cũng có một số “ông Tây” đã về Việt Nam, có người  cưới vợ thật; nhưng cũng có người “cưới vợ” theo một đường dây kín đáo, với “thù lao” gần đây, đã từ 20.000 đến 30.000 Euros (hai mươi đến ba mươi ngàn Âu kim), để đưa một người sang Pháp. Đường dây này hiện nay đã bị “bể”; nghĩa là chính phủ Pháp đã biết.

 

Chính vì thế, nên chính phủ Pháp đã có một Luật mới, để ngăn chặn những hình thức gian lận như đường dây này. Trước kia, những người hưởng tiền già, cứ mỗi sáu tháng, thì cơ quan cấp tiền trợ cấp, đều gửi cho họ một tờ giấy tổng kết số tiền họ đã cấp cho người đó, phía sau tờ giấy họ để trống. Thế nhưng kể từ đầu năm 2014, thì trên mỗi tờ giấy tổng kết Lục cá nguyệt này, họ có ghi phía sau là Luật mới, họ buộc những người hưởng tiền già, mỗi lần ra khỏi nước Pháp, thì phải báo cho họ biết, nếu không báo, thì khi họ biết, không những họ sẽ cúp tiền trợ cấp, mà còn đòi lại tiền nữa.

 

Đối với những người thuộc các sắc dân khác, thì tôi không biết. Riêng  những “ông Tây” gốc Việt này, thì tôi biết rất rõ những trường hợp như sau:

 

“Ông Tây” thứ nhất: ông ta sinh năm 1936, năm nay gần 80 tuổi, cách đây ba năm, đã về Việt Nam cưới thật,  bà vợ chưa tới 40 tuổi. Hàng năm bà vợ cứ đòi về Việt Nam vào tháng Mười, đến qua Tết Nguyên Đán mới sang, để “ăn Tết với con cái” (con riêng của bà, hôm nay hai người đã về VN rồi).

 

Tôi đã nói với ông, đừng nên về Việt Nam nữa, vì ông cũng đã thấy dòng chữ phía sau của tờ giấy tổng kết Lục cá nguyệt của tiền già, thì ông nói như thế này:

 

“Tui cũng biết mà cô, nhưng vì tui lỡ lấy bả rồi, là bả chỉ mới bốn mươi tuổi, tui đâu có để bả đi về một mình được”.

 

Nghĩa là ông ta phải đi theo để kèm, giữ bà vợ trẻ, vì sợ vợ có người khác ở Việt Nam.

 

Khi tôi nói với ông, ông đi mà không báo cho cơ quan trợ cấp tiền già biết, nếu lỡ bị cúp tiền già, cũng như việc ông dùng thẻ của ngân hàng Pháp mà rút tiền ở Việt Nam, thì cũng như “Lạy ông con ở bụi này”, thì lúc đó, ông sẽ lâm vào một hoàn cảnh vô cùng bi đát. Thì ông cũng trả lời:

 

“Tui cũng biết như vậy chớ, nhưng nếu mình báo cho họ biết, thì họ cúp tiền trong mấy tháng mình đi Việt Nam, còn ở Việt Nam tui không vô máy rút tiền, thì lấy chi tui ăn”.

 

“Ông Tây” này nói như thế, nghĩa là ông đã “Một liều ba bảy cũng liều” rồi.

 

Và tôi nói tiếp với ông: Nếu trong thời gian ông đi Việt Nam, mà ở bên này, họ cúp tiền già, thì có thể ông bị chủ nhà lấy nhà lại, bị cúp điện, gaz, thì sao?

 

Và đây là câu cuối cùng ông trả lời:

 

“Thôi thôi đi cô ơi! Cô đừng nói tới chuyện xui xẻo đó với tui nữa, tui lỡ rồi, tui không biết làm sao nữa, tui  khổ quá rồi cô”.

 

Còn đây là “ông Tây” thứ hai: ông này sinh năm 1938, đã về Việt Nam cưới một cô vợ trẻ cũng dưới bốn mươi tuổi; nhưng ông ta không dám bảo lãnh sang pháp, vì ông nói “sợ đem bả qua, rồi bả bỏ tôi, thôi cứ để bả bên đó, lâu lâu mình về thăm bả thôi”.

 

Nghe vậy, tôi mới kể cho ông nghe một trường hợp của một ông bên Mỹ, về Việt Nam cưới vợ, có đến ba đứa con, ông cưng ba đứa nhỏ lắm; nhưng cho đến một ngày ông nghi ngờ sao đó, mới quyết định đi xét nghiệm ADA thì mới biết được cái kết quả ngoài sự tưởng tượng của ông, là cả ba đứa nhỏ không có đứa nào là con của ông hết, mà chừng đó chưa đủ cho ông đâu, vì trong ba đứa nhỏ đó, có hai đứa là một cha,  đứa nhỏ nhất là con của một cha khác. Nghĩa là ba đứa nhỏ, có hai ông cha. Còn ông chỉ là “cha” trên giấy tờ thôi!

Thế là ông ta đã cuốn gói bay về Mỹ, không dám quay đầu nhìn lại.

 

Khi nghe tôi kể câu chuyện thật đã đọc trên báo ở trong nước này, ông đã nói:

 

“Tại vì hồi xưa, người ta giới thiệu cho tôi, chớ tôi không nghĩ tới chuyện xa xôi; bi chừ thì tôi biết, dù tôi về hay không về thì bả cũng lấy người khác. Thôi cái số tôi nó như vậy”.

 

Còn đây là “ông Tây” thứ ba trẻ hơn, ông sinh năm 1949, vừa được trợ cấp tiền già, ông ta về Đà Nẵng, cưới một bà vợ trên ba mươi tuổi, và ông đã bảo lãnh sang Pháp được bốn năm. Nhưng ông này lại “xui xẻo” hơn hai ông kia, vì “vợ” mới sang, đã tìm cách ở riêng bằng cách xin đi làm nhà hàng Tầu ở Paris, không chịu ở chung với ông, ông ức quá, nên cứ gọi “vợ” gửi tiền về trả tiền nhà. Phần cô này,thì chấp nhận đóng góp trả tiền nhà, nhưng không chịu ở chung với ông.

 

Cô này có liên lạc với tôi nhờ giúp đỡ, cô lúc nào cũng khóc, nói rằng:

 

“Ổng hành hạ em, ổng đánh em, ổng lừa gạt em, bảo em sang mất cái tiệm bán đồ lưu niệm ở Đà Nẵng, để sang Pháp trước, rồi ổng sẽ bảo lãnh hai đứa con em sang sau. Sang đây rồi, em mới biết, ổng không bảo lãnh con em được, nhưng em không muốn trở về, vì xấu hổ với bà con hàng xóm lắm, nên em hận ổng, em xa con, em nhớ con em quá, chị tìm cách giúp em…”

 

Nhưng tôi làm sao mà giúp được; bởi trước kia thì dễ dàng, nên những “cô vợ trẻ” khi sang Pháp trên dưới sáu tháng, thì làm thủ tục xin được giấy tờ tạm trú. Sau đó, có thể xin được thẻ thường trú 10 (mười năm). Sau đó, các “cô vợ” xin ly dị, sống riêng, dễ dàng xin tiền trợ cấp Xã Hội, không cần những “ông Tây” này nữa. Còn bây giờ chính phủ Pháp đã thắt chặt đối với những người nhập cư rồi, để tránh những cặp “vợ chồng”, đã cưới nhau theo đường dây môi giới này, nên Luật mới không cho phép họ được ly dị trước 05 (năm năm). Nếu ly dị trước 05 năm, thì người “vợ” sẽ bị trục xuất trở về Việt Nam. Tuy nhiên, nếu sau 05 năm ly dị, thì người “vợ” sẽ không bị trục xuất nữa, mà được ở lại.

 

Vì vậy, nên tôi chỉ khuyên cô nếu muốn ở lại, thì phải cố gắng chịu đựng cho đủ 05 năm theo như Luật định. Hiện giờ cô ta đang đi làm nhà hàng Tầu, còn ông ta, thì nằm nhà “chèo queo” một mình. Song điều đáng nói, là ông ta đã đi về Việt Nam với “vợ” trong thời gian sau khi có Luật mới, mà không báo cho cơ quan trợ cấp tiền già biết, là ông đã vi phạm Luật.

 

Ngoài những hoàn cảnh trên, chúng tôi cũng biết có nhiều “bà vợ trẻ” đã và đang phải chịu sự hành hạ rất độc ác của một số “ông Tây” gốc Việt, mà không dám làm gì khác, vì với Luật mới, họ sợ bị trục xuất về Việt Nam, nên phải làm thân nô lệ rất bi thảm, mà không có ai biết đến; bởi người ta chỉ biết tới những đường dây đưa người lấy tiền sang các nước như: Nam Hàn, Đài Loan, Tầu cộng… Song chưa ai viết về số “cô dâu” đã và đang phải chịu đựng rất đau khổ, để chờ  05 năm sau, thì mới được ở lại nước Pháp.  Nhưng xót xa thay! Những “cô dâu” này không phải chịu sự hành hạ của đàn ông Đại Hàn, Đài Loan… mà đã và đang phải gánh chịu những sự hành hạ của những tên già bất lương được gọi là “người Pháp” gốc Việt, đáng tuổi ông nội, ông ngoại của mình!

 

 

Tạm kết:

 

Cuối cùng, chúng tôi muốn nói: Đối với những người hưởng tiền Hưu, nghĩa là họ có làm việc tại nước Pháp, đó là những đồng tiền thụ đắc, thì họ muốn sống ở nước nào cũng được. Nhưng, đối với những người đã và đang hưởng tiền  già, dù ông hay bà, nếu đi Việt Nam phải báo cho cơ quan cấp tiền già cho mình biết. Tôi cũng hiểu, đây là vấn đề rất khó khăn, vì khi báo cho họ biết, thì sẽ bị cúp tiền trong những tháng đi về Việt Nam. Thế nhưng, không báo, thì lại còn vi phạm Luật nặng hơn.

 

Vậy những ai đã về Việt Nam, thì nên xem lại những giấy tờ của cơ quan trợ cấp tiền già đã gửi theo Lục cá nguyệt, từng ngày, tháng, năm, để xem lại mình đã về Việt Nam trước hay sau ngày có Luật mới. Vì nếu về trước khi có Luật mới, thì có thể được bỏ qua. Chúng tôi cũng muốn nhắn với những phụ nữ trong nước, đừng bao giờ nghe theo những lời lừa gạt của mấy “ông Tây” giấy này, vì Luật mới không còn dễ dàng như trước, nên cho dù có “cưới” xong, thì các “ông Tây” già gốc Việt này cũng không bảo lãnh sang Pháp được nữa, vì đường dây này đã bị “bể” tức đã bị phát giác rồi. Và những người trong đường dây này cũng sẽ bị Luật pháp nghiêm trị trong tương lai.

 

Một điều tế nhị khác, là những “ông Tây” này chưa bị Luật pháp nghiêm trị, nên chúng tôi không muốn nêu tên. Còn sau này, nếu họ bị lâm vào những hoàn cảnh nào đó, là do chính bản thân của họ tự chuốc lấy, vì đa số những người này, đã ra đi bằng con đường vượt biển, họ đến Pháp cùng thời điểm với tôi. Và họ có thể dừng lại, khi nghĩ đến những năm tháng từng sống không tự do, mất quyền làm người… dưới chế độ độc tài, phi nhân của Việt cộng và những ngày đói khát, lênh đênh trên biển cả, trước khi được được tầu Pháp cứu vớt, và chính phủ Pháp cưu mang, chấp nhận là “thuyền nhân” Tỵ nạn Chính trị, rồi cho vào quốc tịch Pháp như ngày hôm nay. Họ cần phải nhớ lại như thế, để tránh những điều đáng tiếc có thể ập đến, mà không lường trước được.

 

Trên đây, là những “ông Tây” gốc Việt đã về Việt Nam cưới vợ. Ngoài ra còn rất nhiều những “ông Tây” như thế, đã về Việt Nam để du hí với gái trẻ đáng tuổi con, cháu họ, chứ không có cưới. Những “ông Tây” này, họ có thể sẽ bị chính phủ Pháp cúp tiền già, và còn đòi tiền lại nữa. Nếu trường hợp đó sẽ xảy ra, thì chẳng biết họ là những người “đáng thương”, đáng trách, hay là đáng kiếp!

 

 

Paris, 09/10/2015

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

DU TỬ LÊ * NẮNG CHIỀU



Chuyện "Nắng Chiều" Saigon

Giữa thập niên 1960, trong chương trình nhạc FM, thỉnh thoảng, người nghe lại bắt gặp một nhạc phẩm rất quen thuộc, bài Nắng Chiều của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, được hòa tấu bởi dàn nhạc Symphony of the New York City. Có thể nói, đấy là một trong vài nhạc phẩm Việt Nam đầu tiên, cất cánh, bay lên và ra khỏi không gian hạn hẹp của đất nước. Nhạc phẩm hòa tấu này, thỉnh thoảng, vẫn còn được nghe . Tuy nhiên, ít biết được lai lịch hay định mệnh khốc liệt về nhạc phẩm Nắng Chiều.

Sinh thời, nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương, một người bạn rất thân với Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn kể rằng, nhạc phẩm Nắng Chiều là ca khúc đầu tay của Lê Trọng Nguyễn. Giữa thập niên 1950, khi Lê Trọng Nguyễn gặp một thiếu nữ Nhật Bản, làm việc cho tòa lãnh sự Nhật Bản ở Saigòn, hai người yêu nhau, Lê Trọng Nguyễn mới viết ca khúc Nắng Chiều. Ghi lại kỷ niệm cuộc tình của hai người. Cuối thập niên 50s, hết nhiệm kỳ, người con gái xứ Mặt Trời Mọc này, mang nhạc phẩm Nắng Chiều về nước, chuyển sang lời Nhật, cho trình bày trên đài phát thanh Nhật Bản...chỉ một sớm một chiều nhạc phẩm Nắng Chiều đã nổi tiếng khắp xứ Phù Tang. Đấy là lần đầu tiên dân Nhật biết tới nền tân nhạc Việt.
Đầu thập niên 60, Shoshi Koe vận động với bộ ngoại giao Nhật, xin trở lại làm việc tại Saigòn.


Năm 1961, Shoshi được toại nguyện. Cuộc tình giữa một nhạc sĩ Việt Nam và một cô gái Nhật được nối tiếp. Ở thời điểm 1963, Lê Trọng Nguyễn sáng tác thêm hai ca khúc. Đó là các bài Sao Đêm và Chiều Bên Giáo Đường. Cả hai ca khúc vừa kể của ông, đều được những người làm nhạc và yêu nhạc ở Saigòn, đón nhận như những hạt ngọc quý của tân nhạc Việt Nam thời gian ấy, vì tính nghệ thuật cao của chúng.


Vẫn theo dư luận thì cuộc tình của dị biệt chủng tộc kia chỉ kéo dài thêm được 3 năm, thình lình bị đứt đoạn. Cuối năm 1963, Shoshi bị gia đình gọi về nước.Trước khi chia tay người yêu, Shoshi nói, cô sẽ vận động để trở lại Việt Nam hoặc đưa Lê trọng Nguyễn qua Nhật Bản, để chính thức thành hôn. Nếu không làm được điều ấy, cô sẽ chấm dứt đời sống của mình. Một năm sau, năm 1964, các báo ở Tokyo, đồng loạt đăng tải về cái chết của Shoshi, đồng thời chuyện tình giữa cô và một nhạc sĩ Việt Nam được nhắc tới...


Du Tử Lê

NGUYỄN HÀ TỊNH * THẢM CẢNH VƯỢT BIÊN

Thảm Cảnh Vượt Biên Trên Biển Đông

d_vietboat
Xem thêm :Vượt Biển
Hy vọng, qua những dòng chữ được viết bằng máu và nước mắt của chính những người trong cuộc, quý độc giả, với tấm lòng xót xa và những giọt nước mắt đau đớn của những người tỵ nạn cộng sản cùng cảnh ngộ, sẽ hiểu được,…tội ác của chánh phạm CSVN đằng sau muôn ngàn bi kịch rùng rợn của người vượt biển.
Vụ Thứ Nhất : 87 người bị giết
Nhân Chứng : Bà Nguyễn Thị Thương, 36 tuổi, tốt nghiệp Đại Học Hoa Kỳ, tu nghiệp tại Paris, Pháp. Trước 1975 Bà là Giáo Sư Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Bà Thương vượt biển cùng chồng là Giáo Sư Trần Quang Huy, Phân Khoa Trưởng Văn Khoa Đại Học Sài Gòn, cùng với Mẹ ruột, cậu, 2 em trai, 2 em dâu, 4 cháu gái và một con gái nhỏ 3 tuổi. Nhưng chỉ còn Bà, con gái nhỏ của bà, một người em trai của Bà và một em gái của chồng sống sót.
Ghe mang số SS0646 IA dài 13,5 m, chở 107 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 01/12/1979. Ra khơi được 3 ngày, thuyền chạy về hướng Thái Lan, khi đã gần tới đất liền thì gặp bọn cướp biển vào ngày 03/12/1979. Hai tàu cướp Thái Lan cặp 2 bên hông thuyền tỵ nạn, bọn cướp đã ùa sang với súng và dao. Vì ghe thuyền Việt Nam quá chật hẹp, bọn hải tặc đã lùa 27 người sang tàu của chúng cho dễ lục soát vàng bạc của cải.
80 người còn lại bị khám xét cướp hết vàng bạc, vật quý. Sau đó bọn cướp buộc giây vào ghe Việt Nam vào đuôi tàu của chúng và kéo chạy. Chúng xả hết tốc lực, chạy lượn vòng qua lại làm ghe tỵ nạn nghiêng chìm như một trò chơi. Dân tỵ nạn la khóc, lạy van cho tới khi ghe chìm hẳn. Bọn cướp biển cắt giây nối và chạy bỏ mặc 80 người vùng vẫy tuyệt vọng, trong khi 27 người tỵ nạn trên tàu của chúng vật vã khóc ngất nhìn xuống biển chứng kiến người thân đang dãy dụa chết chìm.
Bọn hải tặc chạy thẳng về đảo sào huyệt KO KRA của chúng mang theo 27 người mà chúng đã tách đem lên thuyền chúng trước đó. Nhưng gần tới đảo, chúng xô đẩy tất cả đàn ông xuống biển, buộc họ bơi vào đảo. 7 người dàn ông này đều bị chết đuối vì không đủ sức bơi hoặc không biết bơi để có thể vào đến bờ, trong số này có Giáo Sư Trần Quang Huy. Còn lại 20 người sống sót sau cùng đã bị bọn cướp đưa lên đảo và lập tức chúng lại lục soát, sờ nắn khắp thân thể để tìm kiếm vật quý con cất giấu trong người. Bà BTD (xin viết tắt, giấu tên) 26 tuổi có con 4 tuổi, bị dẫn ngay vào bụi hãm hiếp mặc dù Bà đang mệt lả không đứng dậy nổi vì đói khát, kinh hoàng.
Sau đó, trong suốt 8 ngày liền bị giam giữ trên đảo, 20 thuyền nhân còn lại này đã bị quần thảo hành hạ bởi nhiều toán cướp biển khác nhau hàng ngày đổ bộ lên đảo. Các phụ nữ, cô gái phải chạy vào rừng hoặc leo lên hốc ẩn tránh. Nhưng vẫn không thoát khỏi tay bọn dâm tặc. Một lần Bà BTD quá mệt mỏi không còn sức chạy trốn nổi, đang nằm ngất ngư và được mọi người săn sóc thì bọn hải tặc lại ùa đến, đuổi tất cả mọi người chung quanh đi chỗ khác và 4 tên Thái man rợ luân phiên hãm hiếp tàn nhẫn ngay tại chỗ, khiến bà ta bị kiệt lực nằm im lìm không nhúc nhích được nữa.
Đến ngày thứ 3 trên đảo, một tàu Thái, bên hông có ghi chữ POLICE số 513 tới đảo. Bọn cướp rút lui, chạy tàu ra xa. Chiếc tàu Cảnh Sát neo sát bờ biển, họ chỉ nhìn vô bờ nhưng không lên đảo. Những người tỵ nạn Việt Nam mừng rỡ tưởng được cứu thoát, một thanh niên tỵ nạn bơi ra mang theo một lá thư cầu cứu bằng tiếng Anh để gởi cho giới chức Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc. Nhưng chưa bơi tới nơi đã bị tàu Cảnh Sát Thái nổ súng bắn xuống biển cảnh cáo. Anh ta hoảng hốt bơi quay trở vào bờ. Sau đó mọi người lại đề cử một thiếu niên 15 tuổi liều mình bơi ra cầu cứu lần nữa. Cậu này đã được Cảnh Sát cho lên tàu, nhưng chỉ cho vài gói mì và đuổi xuống biển ngay. Cuối cùng tàu Cảnh Sát này bỏ đi. Sau này mới biết họ đã không hề báo tin vào đất liền.
Ngay sau khi tàu Cảnh Sát bỏ đi bọn hải tặc lại lên đảo và tình trạng tồi tệ tiếp tục diễn ra. Đến ngày thứ 5, một tàu Hải Quân Thái Lan đi ngang qua đảo, nhóm người tỵ nạn chạy ra sát bờ vẫy gọi, làm hiệu và lần này chiếc tàu Hải Quân đã cho người lên đảo tiếp xúc và nhận bức thư nhờ chuyển về cho Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan. Ngày thứ tám, Ông SCHWEITZER Đại diện Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan ra đón họ vào đất liền.
Không lâu sau đó Bà Nguyễn Thị Thương sinh thêm đứa con gái út trong trại tỵ nạn Song Khla và Bà sống tại đó với một đứa con gái 3 tuổi và người em trai của Bà và một em gái của Ông Trần Quang Huy. Lúc bắt đầu rời Việt Nam Bà Thương đã có thai gần 9 tháng, chính nhờ vậy trong những ngày trên đảo KO KRA, Bà đã không bị hải tặc hãm hiếp.
Bà Nguyễn Thị Thương kể lại câu chuyện trên rồi khóc lặng lẽ và nói : “Chồng tôi và tôi đã đoán trước những thảm cảnh có thể xảy ra trên biển. Nhưng chúng tôi vẫn chấp nhận ra đi vì chúng tôi đã nghĩ rằng, dù thế nào cũng ít tệ hại hơn là sống dưới chế độ Cộng sản. Nhưng những đau khổ tôi đang phải chịu đã vượt qua dự đoán của chúng tôi”.
Vụ Thứ Hai : 70 thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn bị giết
Nhân Chứng : Ông Vũ Duy Thái 44 tuổi, đi cùng vợ là Bà Đinh Thị Bằng 40 tuổi cùng 4 con và 2 cháu. Hiện chỉ còn mình Ông sống sót.
Ghe VNKG 0980 dài 14 m, bề ngang 2 m 2 chở 120 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 29 tháng 12, 1979. Lúc 7 giờ sáng ngày 31/12/1979 gặp tàu hải tặc Thái Lan. Tàu này sơn màu đỏ cam, mang số 128 ở đầu mũi, gồm 12 tên cướp võ trang súng dài và dao, búa, rìu. Tàu của chúng phóng tới húc vào làm nứt bể mũi ghe tỵ nạn. Bọn hải tặc nhảy qua và lập tức phá máy ghe làm thủng thêm vết nứt, nước bắt đầu tràn vào. Bọn chúng lục soát chụp giựt đồng hồ, nhẫn vàng … trong lúc nước nước tràn vào ghe của người tỵ nạn càng nhiều hơn và bắt đầu bị chìm dần sau khoảng 1 tiếng đồng hồ.
Khi ghe chìm hẳn, đàn bà, trẻ con la khóc hoảng hốt níu kéo lẫn nhau. Bọn cướp nhảy xuống biển và chỉ chọn lựa cứu các cô gái trẻ đẹp. Lúc đó tàu của bọn hải tặc neo đậu cách đó 50 m. Bọn cưới đã lôi kéo về tàu chúng 5 cô gái. Một số đàn ông và thiếu niên tỵ nạn biết bơi cũng lội về phía tàu của chúng và bám leo lên. Nhiều người bị xô đẩy xuống, nhưng vì chúng ít người nên cuối cùng còn 50 người sống sót leo lên được tàu của chúng kể cả 5 cô gái được chúng cứu trước đó. Những người này đã chứng kiến trước mắt 70 người còn lại bị chết chìm dần dần. Mọi người nhìn thấy những bàn tay chới với ngoi lên khỏi mặt biển rồi mất hút.
Ông Vũ Duy Thái rời Việt Nam cùng vợ và 4 con, 2 cháu. Riêng Ông trong lúc hỗn loạn đã bơi bám vào tàu hải tặc và níu được vợ và một đứa con. Còn 3 đứa con khác và 2 cháu thì bị chết chìm. Tuy nhiên vợ và đứa con còn lại của Ông đã bị uống nước quá nhiều, khi kéo lên được thì không còn nhúc nhích. Ông hy vọng dùng phương pháp hô hấp nhân tạo sẽ cứu sống được, nhưng bọn hải tặc đã quăng vợ và con Ông xuống biển trở lại cho chết luôn.
Anh Phạm Việt Chiêu, 26 tuổi là tài công kể lại chính anh và một số đàn ông khác còn khoẻ đã vớt được một số người chưa chắc đã chết hẳn mà có thể chỉ mới bị ngất xỉu nhưng bọn hải tặc đã bắt bỏ họ xuống biển lại. Sau đó tàu hải tặc trực chỉ đảo KO KRA và chúng giam giữ nạn nhân trên đảo.
Ngày 01/01/1980, một chiếc tàu Hải quân Thái mang số 18 đến đảo vào ban đêm có võ trang vũ khí. Mọi người mừng rỡ tưởng được cứu thoát. Nhưng những người lính Hải quân chẳng chút Thương tâm đoái hoài đến dân Việt Tỵ Nạn đang lâm cảnh khốn cùng, họ chỉ lo việc khám xét bằng cách bắt tất cả mọi người lột bỏ quần áo trần truồng kể cả đàn bà con gái rồi bỏ đi.
Ngày 02/01/1980 một tàu Hải quân Thái khác mang số 17 lại tới đảo. Lính Thái lại ùa lên lục soát. Tất cả phụ nữ bị lột truồng không còn mảnh vải che thân công khai trước đám đông để bọn lính này sờ nắn khám xét như để tìm vũ khí kẻ nào có giấu diếm. Sau đó, chúng rút về tàu đậu gần bờ biển và đến trưa ngày 04/01/1980 mới bỏ đi.
Trong thời gian hải quân Thái làm việc, bọn cướp vắng mặt nhưng ngay sau khi lính Thái vừa bỏ đi thì lập tức 4 chiếc tàu hải tặc tràn người lên đảo. Bọn cướp lại lục soát thêm nhiều lần nữa. Dĩ nhiên những nạn nhân VN khốn khổ chẳng còn gì để chúng cướp bốc nữa. Chúng luân phiên nhau hãm hiếp phụ nữ tại chỗ giữa ban ngày. Chúng chẳng cần tìm chỗ nào kín đáo để làm hành động thú tính này. Năm em gái Việt Nam : KH 15 tuổi, BT 17 tuổi, AH 12 tuổi, NY 11 tuổi và MT 15 tuổi bị chúng cưỡng hiếp tập thể ngay trước mắt mọi người.
Lẽ ra, thảm kịch còn kéo dài chưa biết đến ngày nào chấm dứt, nếu không may mắn được vị cứu tinh là Ông SCHEITZER Cao Uỷ tỵ nạn Liên Hiệp Quốc xuất hiện kịp thời cứu giúp và kết thúc thảm ác trạng này. Ông đã đến đảo KRA trên một chiếc tàu Cảnh Sát Thái Lan.
Vụ Thứ 3 : Hải tặc Thái bắt gái VN bán vô ổ điếm
Nhân Chứng : Nguyễn Thị Ánh Tuyết 17 tuổi đi cùng chị là Bà Nguyễn Thị Năm bà này đã bị hải tặc giết trước đó và Công Huyền Tôn Nữ Mỹ kiều 17 tuổi.
Ghe không số, dài 10 m, chở 78 người, khởi hành tại NhaTrang ngày 08/12/1979. Ra khơi được 3 ngày thì hết nhiên liệu và thực phẩm, thuyền lênh đênh trên biển trong 10 ngày. Thời gian này có 12 trẻ em đã bị chết vì đói khát. Thi thể các em phải bỏ xuống biển. Đến ngày 21/12/1979 gặp 2 tàu hải tặc Thái Lan. Bọn cướp buộc giây vào ghe VN với tàu của chúng, dùng vũ khí ép buộc tất cả mọi người qua tàu chúng để lục soát.
Bà Nguyễn Thị Năm 33 tuổi đang mang thai 5 tháng, đi cùng chồng là Ông Lê Văn Tư và 3 đứa con 9 tuổi, 5 tuổi và 3 tuổi. Cả 3 đứa trẻ này đã chết trong thời gian 10 ngày ghe bị trôi lênh đênh trước đó. Bà Năm quá đau khổ và mệt mỏi không còn đủ sức leo qua tàu hải tặc khi chúng ra lịnh. Bọn cướp đã xốc nách Bà lên nhưng Bà vẫn nằm im, một tên cướp liền dùng xẻng xúc cá đập túi bụi vào đầu Bà Năm. Bà đã bị nứt sọ chết ngay tại chỗ và chúng xô xác Bà xuống biển.
Mọi người kinh hoảng vội leo sang tàu hải tặc để cho chúng có chỗ trống lục soát, phá phách, xét quần áo, thân thể tìm đồ quý. Sau đó tất cả đàn ông bị bắt nhốt vào hầm nước đá, đàn bà chúng cho ở trên sân tàu để sờ mó nghịch ngợm. Rồi chúng lùa thuyền nhân tỵ nạn qua trở lại chiếc ghe đã thủng nát. Khi đến ghe thì một người đàn ông đã chết vì đã bị giam giữ trong hầm nước đá lạnh cóng. Chiếc ghe tỵ nạn lại tiếp tục thả trôi lênh đênh trong nỗi tuyệt vọng cùng cực của mọi người.
Ngày hôm sau, 2 chiếc tàu hải tặc khác lại đuổi theo, tới gần vùng đảo KO KRA chúng lại lên ghe lục soát cướp bốc. Lần này 3 thiếu nữ xinh đẹp nhất bị chúng bắt đem đi. Con thuyền tỵ nạn lại tiếp tục trôi trong tình trạng vô cùng bi đát. Máy ghe bị hư hỏng, không thức ăn, nước uống và ghe thì đã ngập nước vì lúc đó tất cả đàn ông đã quá đói khát không còn đủ sức tát nước nữa. Không ai biết số phận 70 người còn lại trên chiếc ghe khốn cùng đó, lúc này ra sao ?
Hai chiếc tàu hải tặc chia nhau 3 cô gái VN. Hai cô NT Ánh Tuyết và Mỹ Kiều bị chiếc tàu của tên SAMSAC làm chủ bắt giữ. Còn chiết tàu kia bắt Cô LAN 17 tuổi mang đi mất hút, cho tới bây giờ không còn nghe tin tức gì về Cô ấy nữa. Hai cô ÁnhTuyết và Mỹ Kiều bị bọn SAMSAC mang vào đất liền, nhốt trong một khách sạn tại Songkhla. Chúng tách rời 2 cô ở phòng riêng khác nhau. Ánh Tuyết bị một tên, được nghe gọi là BÍT canh chừng. Còn Mỹ Kiều thì ở chung phòng với tên SAMSAC.
Ánh Tuyết kể lại là Cô đã la hét kêu ầm lên khi tên BÍT định cưỡng hiếp Cô, khiến mọi người ở các phòng chung quanh cùng khách sạn đa số là người Tây Phương đổ xô tới xem và tên BÍT đã bỏ chạy. Riêng tên SAMSAC ở phòng gần đó nghe tiếng ồn ào vội đem Mỹ Kiều đi giấu trong một khách sạn khác ở tỉnh Haadyai cách Songkhla hơn 30 Km. Khi cảnh sát đến điều tra, chính cô Ánh Tuyết đã dẫn Cảnh Sát đến bến tàu Songkhla, nơi có chiếc tàu của bọn SAMSAC vẫn còn đậu đó và các thủ phạm hải tặc đã bị bắt kể cả tên SAMSAC mà Cảnh sát đã tìm thấy hắn sau đó cùng với Cô Mỹ Kiều tại khách sạn nói trên.
Tại Ty Cảnh Sát chúng đã khai là định bán 2 cô gái này cho một đường giây chuyên buôn gái cho các ổ điếm.
Trên đây, chúng tôi chỉ đưa ra một vài vụ điển hình thuyền nhân Việt Nam bị thảm nạn hải tặc Thái Lan hành hạ, giết chóc xảy ra trong tháng 12/1979 tại đảo KO KRA. Tưởng cần nhắc lại rằng tệ nạn hoành hành của hải tặc THÁI không phải vào thời gian này mới xuất hiện. Trong mấy năm trước 1979 khi ở Việt Nam khởi sự có làn sóng Thuyền Nhân Vượt Biển Tìm Tự Do thì người Việt Tỵ Nạn của chúng ta đã trở thành những con mồi ngon cho bọn hải tặc Thái.
Báo chí trên thế giới cũng đã nhiều lần đề cập đến thảm kịch kinh hoàng mà « Boat People » đã phải chịu khổ nạn. Tuy nhiên kể từ khi các ngư phủ Thái nhận thấy việc cướp bóc Thuyền Nhân sẽ làm cho họ trở nên giàu có mau chóng hơn là đánh cá thì số ngư dân Thái kiêm thêm nghề hải tặc đã ngày trở nên đông đảo, đưa tới hậu quả là người VN đi tỵ nạn bằng đường biển càng ngày càng bị rơi vào mạng lưới của bọn cướp biển dày đặc bủa vây trong khắp vùng Vịnh Thái Lan.
Nguyễn Hà Tịnh
VanTuyenNet
2009/08/31
Xem thêm :Vượt Biển

CAO THẾ DUNG * THUYỀN NHÂN



THUYỀN NHÂN
VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH
CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


Theo cuốn video tài liệu của Ủy Ban Cứu Nguy Người Vượt Biển về con tầu J. Charcot, sau 20 ngày tìm vớt ngoài khơi Việt Nam, tầu đã vớt được 520 người, thành phần tuổi tác như sau:


Từ 14 đến 30 tuổi có 269 người, tức 51.73%. Học trò có 224 em, gồm 136 nam, 88 nữ, chiếm 43.08%. Người trên 50 tuổi chỉ có 11 người, chiếm 2.11%. Người có nghề nghiệp là 218 người, chiếm 41.92% gồm 154 đàn ông và chỉ có 64 đàn bà ...


Với thành phần trẻ chiếm đa số và nhất là giới học trò đã làm cho Thế giới rúng động ở mức độ khinh hoàng về cuộc ra đi của người Việt. Hàng trăm ký giả, các nhà xã hội và tôn giáo thiện nguyện đổ xô về Đông Nam Á quan sát thảm nạn thuyền nhân khi những chiếc tầu chở hàng ngàn thuyền nhân đổ bộ lên đảo hoang Pulau Bidong, Galang ...




Otto Gobus, thuộc Đài Truyền Hình Hòa Lan phát biểu:


“Trong khắp các trại tỵ nạn Đông nam Á, chúng tôi đã thấy: trẻ em, trẻ em và trẻ em! Chúng lang bạc khắp nơi. Chúng cười nói vô tư, chơi đùa hạnh phúc trong thế giói tưởng tượng riêng của chúng, mà thế giới hiện tại không ai ngó ngàng đến. Chúng hoàn toàn không biết việc gì sẽ xảy cho chúng. Đó là một cảm nghỉ chua chát, đau buồn khi đến thăm các trại tỵ nạn” (12)

Ô. Peter Sartorus phát biểu:
“Xin tha thứ cho tôi.


Thật là một cuộc hành trình đổ vỡ. Không phải vì tôi đã thấy nhiều sự thực mới phũ phàng của thảm kịch dân tỵ nạn Đông Dương trong các trại tạm trú ở Thái Lan, Mã Lai và Hồng Kông. Tôi hoàn toàn ý thức rằng, thật sự không phải tất cả các thuyền nhân Việt Nam đều tìm thấy một tổ ấm mới ở một quốc gia sẵn lòng chấp nhận họ, và thật sư vẫn còn nhiều người đang trốn thoát khỏi VN. Tôi cũng có nghe nói rằng họ thường xuyên bị hải tặc tấn công, cướp của, hành hạ, làm nhục, gây thương tích và giết hại trong vịnh Thái Lan. Đối vói tôi, nó không phải là một phát giác mới lạ, kể từ khi chính tôi viết một báo cáo về vấn đề này.”


Sartorus tâm sự:


“Tôi xin một bà ở trại tỵ nạn Songkhla hãy tha thứ cho tôi vì tôi đã vội vàng và thiếu tế nhị khi hỏi bà bị hãm hiếp mấy lần và bị bao nhiêu người đàn ông hiếp?”


Cuốn phim tài liệu Vớt Người Biển Đông (Rescue Mission on South China Sea) gây xúc động sâu xa trong dư luận Mỹ. Em bé Andrea Calderon, 6 tuổi, vẽ một bức tranh viết một lá thư gửi cho Ủy Ban “Boat People S.O.S. kèm theo 3 Mỹ kim, em viết: “Thân gửi Thuyền Nhân: Chúng tôi đã xem cuốn phim về quí vị trên Đài truyền hình. Tôi muốn giúp quí vị và con chó Barret của tôi cũng muốn giúp quí vị. Đây là tiền của tôi. Tôi yêu mến quí vị lắm” (Dear Boat People, I saw your movie on television. I want to help you and so does my dog Barret. Here is my money. I love you) (3).


*


Cả nước điều muốn ra đi. Một nhà văn Việt Nam phát biểu: nếu như cột đèn biết đi thì cột đèn cũng bỏ đi! Cháu Phạm Văn Đồng là Phạm Văn Chính không chịu nổi chế độ tàn ngược phi nhân nên cũng đành bỏ nước ra đi! Chính lên tiếng: “Tương lai đen tối quá. Không còn con đường nào khác hơn là con đường đi tìm tự do” (14).


Qua cuốn phim video về cuộc vớt thuyền nhân của tầu J. Charcot, một tác giả đã ghi lại sống động như sau:


“Khởi đầu là một vùng biển bao la, nắng chói chang. Một chiếc ghe gỗ đang từ từ chìm xuống mặt biển. Bọt biển sủi lên ùng ục, rồi mất hẳn. Sau đó là những cuộc phỏng vấn trực tiếp một phụ nữ vừa được tầu J. Charcot vớt lên. Khuôn mặt thất thần, mặt đầm nước mắt, chị kể lại từng quãng theo tiếng nấc nghẹn ngào... “Tầu tôi chết nhiều quá. Bao nhiêu ngày trôi lênh đênh trên biển, gặp bao nhiêu tầu qua lại, mà chẳng có tầu nào vớt cả. Mỗi ngày 6, 7 người chết vứt xuống biển. Có gia đình 6 người, mang theo đồ ăn nhiều lắm, nhưng rồi cũng chết hết... Tôi nằm trong khoang, chỉ đợi chết. Tôi không mong đợi gì nữa...” Và chính lúc chị lặng lẽ trong tuyệt vọng chờ chết thì con tầu J.Charcot đến cứu chị.


Rồi những cảnh khác lại hiện ra, đêm đen thăm thẳm, mịt mùng. Qua màn ảnh radar, một sáng hiện lên, khi tỏ khi mờ. Có thể là một tầu vượt biển. Tầu J. Charcot quay mũi về hướng phía ấy. Biển vẫn tối đen. Bỗng lửa bùng lên từ chiếc ghe bé nhỏ ấy. Tầu J. Charcot hạ xuồng xuống. Và bác sĩ Đinh Tuấn, một vị bác sĩ y khoa trẻ, thành viên của Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển, có mặt ngay trên xuồng. Anh dùng loa hô lớn;


- Có phải ghe vượt biển đó không?


Tiếng hô vang cả vùng biển bao la. Chiếc ghe sáp lại gần và hiện ra trong vùng ánh sáng đèn pha từ trên tàu rọi xuống. Chiếc ghe khẳm, phủ lưới kín bưng. Nhưng lần lượt từ dưới khoang bò lên, từ từ, trẻ có, già có, hầu như bất tận. Có ai ngờ được chiếc ghe bé như thế mà nhồi nhét hơn một trăm người. “Cứ từ từ...” Tiếng hô như thế, nhưng không cầm được lòng hăm hở, mừng vui của đồng bào ta được tầu J. Charcot vớt. Ánh mắt bàng hoàng ngơ ngác, đầm đìa nước mắt mà miệng thì mếu xệch cười, hay khóc của mừng vui. Sự sống đã đến thật rồi chăng?





Có người vừa lên đến sàn tầu thì nằm lăn ra, ngất xỉu. Có người thì chắp tay lễ khắp “bốn phương trời, mười phương đất”! Lễ hết mọi người. Vừa lễ, vừa khóc.


Sáng ra trong ánh sáng chan hòa của biển, đồng bào ta được đánh thức dậy để tập thể dục và uống sữa. Trẻ, già, trai, gái đều lơ ngơ, cử động. Vừa quay qua quay lại, vừa cười, vừa hỏi nhau... “may quá heng...”


Các trẻ em thì vui nhất, chạy qua, tíu ta, tíu tít. Các em bé trên tay cầm bình sữa, ngơ ngác nhìn quanh” (15).


Tầu J. Charcot do Médecins du Monde thuê, mỗi ngày 4200 Mỹ kim, không để chi phí điều hành. Tầu dài 74m, tốc độ 9 hải lý một giờ. Khởi hành với một số ký giả như Christine Orkrent của Đài Truyền Hình Pháp, hệ thống A, ký giả Martine De Laroche Joubert, đại diện Thông Tấn AFP, có ký giả báo Paris Match, nhà đạo diễn Alain Cornaud, nhiếp ảnh gia Palowsky. J. Charcot được tiểu hộ tống hạm Schoelcher đi kèm. Ngày thứ 9, mới phát hiện được một chiếc ghe, một thủy thủ chạy vào cho hay thấy ánh đuốc trên một ghe. Câu đầu tiên Kha nghe thấy cùng một lúc trên ghe vọng lên “Tưởng chết! tưởng chết!”. đây là một chiếc ghe nhỏ dài 9m, máy chạy với một cặp đuôi tôm, trên ghe có 26 người, phân nửa là trẻ em. Họ ra đi được 5 ngày, tới ngày thứ ba thì chết máy và cứ thế lênh đênh trên biển hai ngày liền mới gặp tầu Schoelcher. Trên ghe chỉ có một cựu hạ sĩ quan QLVNCH, bốn chị em gốc Hoa, hai thanh niên đào ngũ từ Kampuchea trở về, số người còn lại gốc người Mỹ Tho. Sau đó cả 26 người đều được đưa qua tầu Charcot ngày hôm sau. Cùng lúc với chiếc Schoelcher, tầu Charcot đã cứu vớt được 218 người khác trên một chiếc ghe chỉ vỏn vẹn có 12m khởi hành từ Vũng Tầu” (16).


Tầu Chacot vớt được 520 thuyền nhân từ 13 chiếc thuyền vượt biển nhỏ bé mong manh. Đây là chiếc tầu thứ 4 của Hội Y Sĩ Thế Giới sau chiếc Quang Đảo, Ile de Lumière, hoạt động trong năm 1979, chiếc Alcune II, năm 1981, chiếc Le Goela từ tháng 6/1982 đến tháng 1/1983, trung bình cứ 4000 Mỹ kim thì vớt được một thuyền nhân. Còn tầu Rose Schiaffino thì do Hội Y Sĩ Thế Giới (Médecins du Monte) thuê bao, sau hai tháng hoạt động ở Biển Đông, vớt được 905 thuyền nhân, tất cả về bến cũ ở Rouen, cách Paris 120 cây số về phía tây bắc, chở theo 229 người trong số có 89 người cũng là thuyền nhân Việt Nam đã kẹt lại ở trên báo từ hơn 2 năm nay.


BS Đinh Tuấn, là một thi sĩ, trực tiếp tham gia cuộc vớt người trên Biển Đông của tầu Rose Schiaffino, trả lời cuộc phỏng vấn của Từ Nguyên, cho biết:


“tầu đã vớt được 905 thuyền nhân. Nếu chia ra nam, nữ thì phái nam chiếm 60% nữ chiếm 40%. Trong số đó, trẻ em dưới 14 tuổi lên tới 30%. Trong chuyến đi kỳ này, có một thiếu phụ mang thai 9 tháng lên đảo 2 ngày thì sanh. Nếu anh cho phép tôi xin kể luôn tại sao mang thai gần ngày sanh mà lại ra đi.”


Chồng của chị là một người được chỉ định để lái thuyền ra đi. Sửa soạn một cuộc hành trình như vậy rất là lâu dài, không ai có thể biết rằng ngày nào có thể ra đi. Khi có điều kiện thuận lợi để bắt đầu vượt biên thì chính lúc đó, chị gần ngày sanh. Và cũng không thể ở nán lại thêm một vài ngày hay tuần lễ để cho chị sanh xong rồi đi, nên tất cả mọi người yêu cầu đưa chị đi theo... Tôi muốn nói đến tinh thần trách nhiệm của người chồng rất cao; anh ta trách nhiệm lèo lái chiếc thuyền ra đi nên phải chấp nhận tất cả nguy hiểm của một cuộc ra đi như vậy đối với một người đàn bà mang thai.


Thật sự thì tầu vớt được 906 người; trong số ghe chúng tôi vớt, có một thuyền nhân bị Cộng Sản Việt Nam bắn chết trong cuộc hành trình” (17).


Sứ mệnh nhân đạo của Hội Y Sĩ Thế Giới cũng như Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển đã đạt được nhiều thành quả đáng kể, “bắt đầu từ 22/5/87 chiến hạm Balny cùng hai chiến hạm loại nhỏ khác của Hải Quân Pháp tại Thái Bình Dương có mặt trong vùng biển tìm vớt thuyền nhân để hộ tống con tầu Rose Schiaffino”. Nguyên nhân đưa đến việc tăng cường lực lượng hải quân hùng hậu này không được tiết lộ. Con tàu Rose Schiaffino đã ghé hải cảng Singapore hôm 13 tháng 5, 1987, sau một tuần lễ ra khơi để toán chuyên viên Truyền Hình Pháp lên bờ mang theo các hình ảnh được coi là thật bi thảm của chiếc ghe 170 người vừa được vớt hôm 10/5/1987 do chiếc phi cơ trên tầu phát giác.


Hộ tống hạm Balny của Hải Quân Pháp trên đường đến Biển Đông để hỗ trợ cho con tầu nhân đạo Rose Schiaffino (Ánh Sáng II) đã vớt được 2 ghe tỵ nạn. Ghe đầu tiên vớt được ngày 22/5 lúc 13g30 giờ địa phường ở ngoài hải phận quốc tế trong vùng tìm kiếm của chiến dịch. Trên ghe có 39 người. Ghe này rời Việt Nam hôm 17/5. Các người trên ghe là người Sài Gòn và Mỹ Tho. Ngày 26/5 chiếm hạm này lại vừa vớt thêm được 34 thuyền nhân nữa. Số thuyền nhân đã vớt được đã nâng tổng số thuyền nhân vớt được lên 337 người.


Tầu Rose Schiaffino (tức II de Lumière hay Cap Anamur III) lại vừa vớt thêm được 170 thuyền nhân hôm 10/5/87 trong tình trạng thật là bi thảm. Chiếc ghe này đã được trực thăng của tầu Rose Schiaffino phát giác trong một vùng được coi là đầy dẫy những ghe hải tặc. Trước khi được cứu vớt chiếc ghe này đã bị tấn công bằng súng bởi hải tặc hoặc lực lượng biên phòng của CSVN. Trên ghe có một người chết, máy tầu đã hư hỏng, không thể tiếp tục hải trình. Các thuyền nhân đều ở trong tình trạng bi thảm. Trong số 170 thuyền nhân trên ghe này có 81 đàn ông 56 đàn bà và 33 trẻ em. Như thế trong công tác vớt người Biển Đông năm 1987 các thuyền nhân đã lần lượt được vớt là: Ngày 11/4: 54 người; ngày 12/4: 40 người; ngày 10/5: 170 người. Tổng số là 264 người. Cùng tham dự trong cuộc tiếp cứu này có sự hiện diện của các phái đoàn truyền hình của Pháp, Đức, Úc. (tài liệu của Médecins du Monte, tháng 6/1987).


Tuy nhiên, đã bao thuyền nhân bất hạnh không gặp được tầu của Hội Y Sĩ Thế Giới. Chuyến ra đi của tầu Thủ Long là một bi thảm tột cùng. Người chủ trương là Giám Đốc trường dạy đánh máy chữ Thủ Long đường Trần Hưng Đạo, quận V, Sài Gòn cũ. Con tầu với trên 320 người đã đi vào lòng biển 2 ngày thì được cứu vớt. Theo người còn sống sót của tầu Thủ Long (người Hoa) tầu được quy mô với giá biểu 7 lạng người lớn, 4 lạng dưới 18 tuổi và 1 lạng cho trẻ em. Tầu Thủ Long do Sở Công An Thành Phố móc nối tổ chức dưới thời Mai Chí Thọ.


*


Hoa Kỳ đặt thành chính sách giúp người tỵ nạn thuyền nhân, ngày 30-9-1985, Bộ Ngoại Giao ra thông cáo cho biết đã thành lập một Ủy Ban Định Cư Tỵ Nạn do cựu Thống Đốc tiểu bang Robert P. Ray cầm đầu với 4 nhân vật danh tiếng trong đó có Nghị Sĩ Gale Mc Gee. Tổng Thống Jimmy Carter trong 4 năm nhiệm kỳ, ông và phu nhân đã tích cực cứu giúp thuyền nhân và chính ông là người đã ra lệnh cho Đệ Thất Hạm Đội ở Biển Đông cứu vớt thuyền nhân Việt Nam.





Bác sĩ Foussadier, Hội Y Sĩ Thế Giới (Pháp) là người đã trực tiếp tham dự vớt thuyền nhân của tầu Ánh Sáng (Ile de Lumière). BS Foussadier (Medecins du Monde) tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 15-4-1986 tại International Press Center, bruxelles và cho đến thời điểm này “hàng tháng vẫn có từ 2 đến 3 ngàn người tiếp tục vượt biển mặc dầu biết trước vô số nguy hiểm. Nhất là nạn hải tặc có võ trang càng ngày càng bành trướng và có mặt khắp nơi đến nỗi không có một chiếc thuyền nào có thể thoát nạn” (18).


Médecins du Monde là một ân nhân cao cả của thuyền nhân Việt Nam. Một ân nhân khác là Ủy Ban Cap Anamur Tây Đức, Chủ Tịch là tiến sĩ Rupert Neulleck.


Năm 1986, tầu Cap Anamur II hoạt động trong 6 tháng và cứu được 888 thuyền nhân Việt Nam.


Hội Y Sĩ Thế Giới tại Pháp do Bác Sĩ Bernard Kouchner sáng lập năm 1979, lúc đầu mang tên là Hội Y Sĩ Không Biên Giới, đến 1980 thì cải danh và hiện do Bác Sĩ Alain Deloche làm Chủ Tịch. Con tầu đầu tiên của hội mang tên Ile de Lumière (Đảo Ánh Sáng) năm 1979 đã cứu 827 thuyền nhân và săn sóc cho 1946 người trên tầu từ trại tỵ nạn Pulau Bidong. Kế đó là tầu Akuna năm 1981 đã vớt hơn 100 thuyền nhân, 1983 con tầu thứ ba Le Goelo vớt được 1208 thuyền nhân và đến năm 1985 tầu Jean Charcot, vớt được đúng 520 người vượt biển sau 3 tháng hoạt động.


Hai tổ chức nói trên trước đây vẫn hoạt động riêng biệt với cùng mục đích nhân đạo. Tuy nhiên cả hai vẫn yểm trợ lẫn nhau, Ủy Ban Cap Anamur II. Đến đầu năm 1987, lần đầu tiên hai tổ chức thực sự hoạt động chung, cùng chia sẻ mọi chi phí và cho ra khơi con tầu Ile de Lumière II/Cap Anamur III để nối tiếp công tác cứu người Biển Đông. Lần này dĩ nhiên cùng với sự yểm trợ tài chính rộng lớn của người Việt tỵ nạn khắp nơi mà đặc biệt nhất là Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển tại Hoa Kỳ do Tiến Sĩ Nguyễn Hữu Xương làm Chủ Tịch.


Tầu Cap Anamur III Đức-Pháp lần này là một tầu chở xe hơi, dài 98 mét, thủy thủ đoàn gồm toàn người Pháp, nhân viên thiện nguyện làm việc trên tầu giúp đỡ người tỵ nạn từ Đức, Pháp và Hoa Kỳ, trong đó có nhiều người Việt Nam, mà trước đây chính họ cũng đã là những thuyền nhân. Ba tổ chức nhân đạo của Đức, Pháp và Hoa Kỳ làm việc hổn hợp dưới sự trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm suốt thời gian hoạt động của Bác Sĩ Philippe Beasse thuộc Hội Y Sĩ Thế Giới.


Chuyến đầu tiên của tầu Cap Anamur III bắt đầu vào tháng 4/987, vớt được hai ghe tỵ nạn gồm tổng cộng 94 thuyền nhân. Tất cả sau đó đã được đưa vào trại tỵ nạn Palawan, Phi Luật Tân. Chuyến thứ hai tiếp tục ngay sau đó, cứu vớt chỉ được 1 ghe, nhưng với số thuyền nhân khổng lồ 171 người. Trong chuyến này, một thuyền nhân đã bị bọn Cộng An biên phòng Cộng Sản bắn chết trong lúc vượt biển tìm Tự Do và con tầu Cap Anamur III đã đến cứu kịp thời ngay lúc đó, chiếc ghe Công An biên phòng Cộng Sản đã bỏ chạy. Xác của nạn nhân đành phải thủy táng trên Biển Đông trong sự ngậm ngùi thương tiếc của mọi người. Tất cả 170 thuyền nhân còn lại cũng đã được đưa vào trại tỵ nạn Palawan an toàn chờ ngày định cư tại đệ tam quốc gia.


Chuyến thứ 3, cũng là chuyến cuối cùng của con tầu Cap Anamur III bắt đầu từ đầu tháng 6/1987 sau khi rời cảng Singapore ngày 30/5/1987. Đặc biệt chuyến nầy được sự yểm trợ của 3 tầu chiến Pháp, do chính phủ Pháp gởi đến. Nhiệm vụ của 3 tầu Hải Quân nầy là cùng phần chia công tác tìm cứu thuyền nhân và đồng thời yểm trợ, hộ tống tầu Cap Anamur III trên vùng Biển Đông. Do đó 4 con tầu cùng tìm cứu người tỵ nạn Việt Nam trong cùng một lúc: 3 tầu Hải Quân Pháp mang tên Balny, La Moque và La Glorieuse (19).


Thế giới đã tốn kém rất nhiều về thảm nạn thuyền nhân. Từ Hoa Kỳ, Canada đến Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Nhật Bản và các quốc gia Tây Âu, thuyền nhân đã trở thành vấn đề lương tâm nhân loại. Các Giáo Hội, từ Công Giáo La Mã đến Lutheran, Methodists, Adventists, và hàng chục Giáo Phái Tin Lành khác đã mở rộng vòng tay đón nhận thuyền nhân Việt Nam. Đây là một ân nghĩa sâu dầy không thể nào quên. Nam Dương là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á mà người Việt thụ ơn. Không có hải tặc ở vùng biển Nam Dương. Không có hải tặc người Nam Dương. Từ năm 1978 đến cao điểm vào năm 1979 và các năm kế tiếp hàng trăm ngàn thuyền nhân đã đến bờ biển Nam Dương. Vào năm 1986-87, các quốc gia Đông Nam Á chủ trương chính sách sua đuổi thuyền nhân bất chấp vấn đề nhân đạo và can thiệp của Thế Giới, Nam Dương chỉ hưởng ứng chiếu lệ để làm vừa lòng Thái Lan. Tuy nhiên năm 1986 là năm dân số thuyền nhân ở Nam Dương xuống thấp nhất. Theo một nhóm chuyên viên về tỵ nạn:


“Nhìn chung, 1141 người tỵ nạn đến Galang ngày 1-1-1987 hay là 57% dân số của trại. Các phái đoàn bây giờ vào trại phỏng vấn định cư không thường xuyên như trước nữa, cứ 4 hoặc 5 tháng họ mới vào trại một lần.


Việc xua đuổi người tỵ nạn dường như không xẩy ra tại Indonesia. Khoảng giữa năm 87 có một vài vụ cảnh sát kéo tầu ra trở lại biển khi tầu vượt biển đã đến thẳng Galang, nhưng sau đó nhờ sự can thiệp của Cao Ủy Tỵ Nạn những người nầy đã được lên bờ hưởng quy chế tỵ nạn. Trong năm 88, nhiều quốc gia Đông Nam Á như Hong Kong, Thái Lan, Mã Lai đã có những biện pháp cứng rắn đối với người tỵ nạn nhưng Indonesia không tỏ ra ồn ào về những vấn đề này” (2).


Cộng đồng Việt Nam hải ngoại từ những ngày đầu năm 1977 đã không bao giờ quên đồng bào của mình. Hàng ngàn người ở Hoa Thịnh Đốn đã liên tiếp biểu tình trước Quốc Hội Hoa Kỳ và Tòa Bạch Ốc kêu gọi Chính Phủ Hoa Kỳ cứu giúp thuyền nhân. Và ở khắp nơi trên thế giới cũng đều như vậy.






CÁC TỔ CHỨC CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN VÀ ÂN NHÂN CỦA THUYỀN NHÂN


Về thuyền nhân ta có thể chia thành 3 thành phần: thuyền nhân đi "chui" nghĩa là tự mình tổ chức trong bí mật, số lượng vàng chỉ phải trả cho chủ tầu và người trung gian; thuyền nhân ra đi phải "mua bãi" của Công An hay do Công An tổ chức bán chính thức; ra đi theo diện người Hoa vào năm 1978-79, do Công An chính thức tổ chức theo Nghị Quyết của Bộ Chính Trị Cộng Đảng từ cuối năm 1978.


Đầu năm 1988, Médecins du Monte hợp tác với UB Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển lại gửi con tầu Mary Kingstowm ra khơi đi về Biển Đông, tầu cỡ nhỏ, dài 50 thước, chính phủ Pháp cho chiến hạm Jeanne d'Arc hộ tống và cùng hợp tác tìm thuyền nhân.


ngày 28-3 tầu đến vùng tìm cứu, cho đến 12 giờ trưa ngày 4/4 mới phát hiện được một chiếc thuyền:


40 thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam này đã chen chúc trên một chiếc thuyền nhỏ bé, dài không đến 10 mét, 10 ngày lênh đênh trên biển cả, lương thực cạn và không còn nước uống, đến nổi họ phải uống cả nước biển và nước tiểu của các em bé từ 4 ngày qua. Trước đó, thuyền này đã đến được bờ biển Mã Lai, nhưng lại bị chính quyền tại đó kéo đuổi ra khỏi hải phận và sau đó chiến hạm Pháp cứu vớt khi đang trôi nổi lênh đênh trên mặt biển vì máy hỏng. Tổng cộng gồm có 19 đàn ông, 11 đàn bà và 10 trẻ em dưới 10 tuổi, trong đó có một em bé bị sốt lên đến 39,5 độ C và một bà có thai 8 tháng. Một buổi lễ mừng Phục Sinh và Tạ Ơn đã được tổ chức ngay trên chiến hạm Pháp cho những người may mắn này, trước khi họ được chuyển qua tầu "Mary Kingstown".





Ngày 9-4-1988, 13 thuyền nhân đầu tiên đã đặt chân tại Paris qua một hãng hàng không quốc tế và ngày 10-4-1988, 12 người khác. Tổng cộng 25 thuyền nhân trong chiếc ghe tỵ nạn may mắn trên đã đến đất Pháp và hiện đang trong trại tỵ nạn gần Paris.


Trong khi đó vào ngày 10-4-1988, con tầu nhân đạo "Mary Kingstown", sau khi sửa chữa hệ thống truyền tin, lại quay đầu ra khơi, trực chỉ Biển Đông để thực hiện chuyến thứ hai trong công tác nhân đạo của Hội Y Sĩ Thế Giới năm 1988 này với hy vọng khả quan hơn (21).


Các con tầu cứu người vượt biển như Cap Anamur, Ile de Lumière hay Mary Kingstown trở thành mục tiêu số 1 của Công An Cộng Sản. Bộ Chính Trị và Bộ Nội Vụ tiến hành kế hoạch đưa người CS ra nước ngoài qua các con tầu cứu người vượt biển, và cho đến năm 1989, công tác bí mật này vẫn tiếp tục trong khi người Việt khắp nơi tích cực yểm trợ công cuộc cứu người vượt biển. Ở Hoa Kỳ, một Ủy Ban ra đời mệnh danh "Coalition for Protection of VN Boat People". Đặc biệt là giới sinh viên Việt Nam rất tích cực như sinh viên ĐH Cali tháng 1-1985 yểm trợ 4000 Mỹ Kim. Thứ Trưởng Pháp Laurent Fabius tiếp kiến BS Bernard Kouchner, Chủ Tịch Hội Médecins du Monde cho biết Pháp sẵn sàng cấp cho Hội 300 chiếu khán giành cho thuyền nhân. Phong trào Hưng Ca gồm các ca sĩ gạo cội như Nguyệt Ánh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Việt Dzũng, Hà Thúc Sinh, Phan Ni Tấn liên tiếp tổ chức các buổi trình diễn văn nghệ để yểm trợ công cuộc vớt người trên biển. Liên tục từ năm 1978 đến năm 1989, người Việt trên khắp thế giới hết chiến dịch này qua chiến dịch khác đã hướng về Biển Đông và các trại tỵ nạn Đông Nam Á, với số tiền yểm trợ rất lớn lao. Người Việt đã trực tiếp tham gia vào các Tổ Chức Quốc Tế cứu vớt thuyền nhân như Médecins du Monte với các bác sĩ như BS Philippe Bease, Bernard Kouchner, A Deloche và Tiến Sĩ Reupert Neudeck, Chủ Tịch Ủy Ban Cap Anamur... Chiến dịch Mary là tiêu biểu sự hợp tác giữa người Việt hải ngoại và Tổ Chức Quốc Tế.


(Trích cơn Hồng Thủy Biển Đông của Cao Thế Dung)

Contact Us | About Us

Copyright © 2005

VÕ VĂN ÁI * ĐẢO ÁNH SÁNG



Thi Vũ - Võ Văn Ái

ĐẢO ÁNH SÁNG

Isle of Light:
A Look Back at the Boat People
and the European Left
Nhìn lại phong trào Người Vượt Biển


và giới Tả khuynh Châu Âu



Lời giới thiệu : Tạp chí World Affairs (Thế giới Vụ) ra đời từ thế kỷ XIX, năm 1837, hiện là tạp chí của giới trí thức và chính trị gia Hoa Kỳ. Khách mua báo giấy dài hạn, ngoài số độc giả bình thường còn là Toà Bạch Ốc và Quốc hội Hoa Kỳ dành cho các Viên chức, Thượng Nghị sĩ và Dân biểu. Chưa kể 12 nghìn độc giả mua bản điện tử Email, 100 nghìn người đọc qua Facebook, và 40 nghìn người theo dõi qua Twitter của World Affairs.


Bài viết “Đảo Ánh Sáng, Nhìn lại phong trào Người Vượt Biển và giới Tả khuynh Châu Âu”- Isle of Light: A Look Back at the Boat People and the European Left, đăng trên số tháng Ba và Tư năm 2014 của World Affairs, được ông James S. Denton, Chủ nhiệm phát hành, giới thiệu trong Lá Thư Người Biên tập như sau:


“Thêm vào số bài về những diễn biến quốc tế, chúng ta có một tiểu luận như món quà thưởng ban thêm của nhà văn Việt Nam Võ Văn Ái đưa chúng ta về lại kinh đô Paris năm 1978, khi tin tức xuất hiện chuyện chiếc tàu của khoảng hai trăm năm mươi người tị nạn Việt Nam chết đói và mất nước bị mắc cạn trên bờ biển Mã Lai mà chẳng có quốc gia nào đón nhận. Họ trốn khỏi triều đại khủng bố của Cộng sản Bắc Việt ngự trị lên Miền Nam trước đó ba năm, sau cuộc rút quân nhục nhã của Hoa Kỳ. Thời ấy, nửa triệu người tị nạn chết chìm trên biển khi tìm cách trốn khỏi ngục tù gulag của Hà Nội vừa thiết lập, và đã giết nửa triệu người khác trong quãng thời gian 1975 đến 1985. Nhưng chủ đề của Võ Văn Ái là một tia sáng, bị lịch sử bỏ quên, chiếu rực vào tấn thảm kịch. Vào lúc những người tị nạn vô vọng trong dòng nước chết, một nhóm trí thức Pháp có gốc rễ tả khuynh tung chiến dịch vận động quốc tế để đi vớt và tái định cư hàng nghìn những “thuyền nhân” này, một từ ngữ được phổ biến. Họ vận động giới tả khuynh Pháp và Châu Âu, không những tham gia nỗ lực nhân đạo này, mà còn xác nhận và tố cáo sự tàn bạo của những kẻ mà trước đây họ hậu thuẫn mạnh mẽ. Điều suy nghĩ can đảm thứ hai này đã gây tác động — không riêng trong nghĩa cứu sống người, mà trong nghĩa khẳng định tư cách và ứng xử của người trí thức”.


Những chú thích trong bài viết, bản dịch Việt ngữ hôm nay, nhằm cho độc giả người Việt biết thêm các nhân vật quốc tế, vốn không có trong bài đăng trên World Affairs.


Một ngày tháng 11 năm 1978, đang ngồi trong quán Cà phê bên bờ tả ngạn sông Seine, bỗng nghe tin loan 2564 người vượt biển cập bờ Mã Lai trên con tàu han gỉ Hải Hồng. Họ đã trốn khỏi Việt Nam trong niềm tuyệt vọng đi tìm tự do và tị nạn ở nước ngoài. Sau mười sáu ngày lênh đênh trên Biển Đông, vùi dập trong bão tố, khi thì nóng cháy nung người, không thức ăn nước uống, họ cập bờ Nam Dương rồi Mã Lai, nơi nào cũng bị lính gác biển xua đuổi. Họ không còn đất sống, và tàu không thể đi xa hơn. Kẹt lối không người cứu, đói cồn cào và cơ thể mất nước, họ đang chết trước mắt chúng ta khi giăng tấm biển viết bằng tiếng Anh bên hông tàu : “LHQ ơi ! Hãy cứu vớt chúng tôi.”.


Họ không phải là những người đầu tiên làm cuộc hải trình vô vọng thoát khỏi Việt Nam. Từ năm 1975, khi Hà Nội “giải phóng” Miền Nam và chấm dứt cuộc chiến dai dẳng, hơn một triệu người liều chết trên những chiếc thuyền đổ nát để thoát xa cuộc khủng bố. Nửa số người trong họ đã bỏ thân — vì chết đuối, vào bụng cá mập, hay bị hải tặc hãm giết trong vịnh Thái Lan. Lúc ấy, truyền thông quốc tế chẳng chú ý bao lăm chuyến hải hành hoảng hốt này, ai ai cũng chỉ muốn phủi tay với vấn đề Việt Nam. Nhưng con tàu Hải Hồng lại hình tượng lên tấn thảm kịch nhân sinh nơi phòng khách mỗi nhà. Uyển ngữ “thuyền nhân” trở thành chuyện đầu môi.


Lẽ ra những người Việt Nam này đã phải thoát đi trong những ngày cuồng động khi Hoa Kỳ rút quân. Nhưng họ đã ở lại. Nhiều người chống chính thể quân đội của Tướng Thiệu ở miền Nam, đặt niềm tin trong hy vọng họ có thể góp tay tái thiết và làm lại đất nước. Nói cho cùng, thì chiến tranh đã chấm dứt, cộng sản cũng là người Việt Nam thôi. Hà Nội đã ký kết Hoà ước Paris hứa hẹn kiềm chế mọi cuộc trả thù. Người cộng sản có thể đối đãi hung ác không khoan nhượng với kẻ thù, nhưng chắc hẵn sẽ có cái nhìn khác với anh chị em đồng chủng ?


Thế nhưng, những ai mắc mình vào ảo tượng này, những ai còn tin rằng có chỗ đứng cho mình trên đất nước thống nhất dưới mái nhà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo đường lối cai trị của Hà Nội, thì chẳng có sai lầm nào sai lầm hơn. Tức khắc nhà cầm quyền Cộng sản phân loại dân chúng Miền Nam thành ba thành phần : bọn ngụỵ quân phản động, bọn nguỵ quyền phản động, và nhân dân phản động. Nói tóm, toàn dân miền Nam đều “phản động”. Những tháng kế tiếp cuộc cưỡng chiếm, một mạng lưới rộng lớn “trại cải tạo” phủ trùm khắp lãnh thổ miền Nam, mà kỳ thật chỉ là những trại tập trung lao động khổ sai, giống như hệ thống Lao cải bên Tàu. Khởi sự lùa đi những sĩ quan rồi binh lính Việt Nam Cộng hoà, tiếp đến là các nhà văn, nghệ sĩ, giáo sư đại học, nhà báo, nhà hoạt động công đoàn, nhà giáo, sinh viên, nông gia, tất cả mọi thành phần xã hội đoàn lớp kéo nhau vào “trại cải tạo”. Thoạt đầu họ được lệnh mang áo quần và lương thực đủ dùng cho hai tuần lễ. Nhưng biết bao người chẳng trở về. Có những kẻ mút mùa hai mươi năm trong những trại này, hay được trả tự do khi sức khoẻ kiệt cùng, và nhắm mắt khi tới nhà[1].


Dù chẳng có bản thống kê nào được công bố, nhưng Hà Nội đã thú nhận có hai triệu rưởi người bị giam giữ trong các trại cải tạo từ năm 1975 đến 1985[2]. Khoảng một trăm năm mươi nghìn người bị xử tử hình[3], với hàng trăm nghìn người chết vì đói, kiệt sức, hay đau ốm không thuốc men trong hệ thống tù ngục Gulag Việt Nam. Cùng thời gian, hàng trăm nghìn dân chúng bị đưa đi Kinh tế mới làm vật trái độn dọc biên giới Việt Trung và Kampuchia. Ai chống đối sẽ bị bỏ tù vì tội phá rối an ninh quốc gia[4].


Trong quán cà phê một buổi tối năm 1978 ấy, các bạn Việt và tôi đều nghĩ rằng con tàu Hải Hồng không chở đi những người tị nạn kinh tế, mà là những người đi tìm tự do thoát khỏi chế độ độc tài toàn trị, và đây là chuyến hải trình không tiền khoáng hậu. Trải qua lịch sử bốn nghìn năm, vào những giai đoạn bi thảm nhất vì nạn đói hay chiến tranh, người Việt chúng tôi chưa bao giờ rời bỏ mảnh đất chôn nhau cắt rốn của cha ông. Thế mà nay Người Vượt Biển đã bỏ phiếu bằng đôi chân đổi lấy sự sống.


Trong nhóm bạn chúng tôi thời ấy có chị Claudie và anh Jacques Broyelle, những nhà Hán học và cựu Mao-ít mới trở về từ Trung quốc, với nỗi thất vọng tràn trề về chế độ Bắc Kinh; Alain Geismar, cựu lãnh tụ sinh viên nổi dậy năm 1968 từng làm lung lay chính phủ De Gaulle tại Pháp; và André Glucksmann[5], nhà văn được xem như khuôn mặt tân triết gia của thời đại. Những người bạn nung nấu trong nhiệt tình lý tưởng, tất cả mang nặng quá khứ tả khuynh, nhưng chẳng ai còn ảo tượng về đời sống con người dưới chế độ Cộng sản. Chúng tôi họp nhau và quyết định phải làm một cái gì cho lớp Người Vượt Biển.


Thập niên 1970, Paris là bến đổ ẩn náu cho các nhà ly khai Liên xô và Đông Âu. Đầu năm 1976, tôi xuất bản tạp chí Quê Mẹ bằng tiếng Việt, một thứ samizdat cổ võ cho phong trào dân chủ và nhân quyền, các nhà ly khai này là kẻ hậu thuẫn đầu tiên cho chúng tôi. Nữ thi sĩ Nga Natalya Gorbanevskaya[6], nhà toán học Leonid Plyushch[7], người xứ Ukraine, và Vladimir Bukovsky[8] tham gia cuộc vận động của chúng tôi mà chẳng cần chúng tôi mời gọi. Nhà văn Lỗ Mã Ni, Paul Goma, viết trên tạp chí Quê Mẹ số Quốc Kháng 30 tháng Tư năm 1978 rằng : “Ngay cả những người phu quét đường ở thủ đô Bucharest còn thấu tỏ hơn các chính trị gia Tây phương về những chi đang xẩy ra tại Việt Nam, và họ có chánh kiến. Chỉ trong vòng bốn năm mà Cộng sản Việt Nam trả thù và tàn phá hơn ba mươi năm chiến tranh”.


Trong khi các nhà ly khai khắn khít bảo bọc mục tiêu chiến đấu của chúng tôi, thì việc thuyết phục công chúng Tây phương vô cùng khó khăn, đặc biệt trong giới tả khuynh. Thời chiến tranh Việt Nam, hàng nghìn người đổ xuống các đường phố ở Paris, Berlin, Washington, Tokyo… và nhiều nơi khác để tố cáo xâm lược Mỹ vào Việt Nam, hô gào chấm dứt sự chém giết. Thế nhưng ngày nay, cùng những người xuống đường biểu tình mấy năm xưa ấy, lại im lặng thin thít khi hàng nghìn người Việt Nam chết âm thầm trong các trại cải tạo hay chết đuối trên Biển Đông. Giới phản chiến tả khuynh chẳng sao chấp nhận chuyện các “anh hùng liệt sĩ” chiến đấu cho tự do thời trước, nay trở thành kẻ bạo ngược, và những kẻ “tay sai của đế quốc Mỹ” đang hoá thành nạn dân.


Đáp ứng cuộc vận động cho Người Vượt Biển của chúng tôi, đông đảo trí thức Pháp toàn tâm và tự nguyện hậu thuẫn, không những cứu sống hàng nghìn người lâm nạn, mà còn phá vỡ lối nhìn rập khuôn tác động sâu sắc quan điểm giới tả khuynh Châu Âu và Pháp.


Cuộc họp đầu tiên vào tháng 11 năm 1978 tại Paris, chúng tôi tập trung việc xây dựng phong trào nhắm mục tiêu cứu sống Người Vượt Biển. Tối hôm sau chúng tôi gặp sử gia Ilios Yannakakis trong một căn hộ ở đại lộ Saint Michel, chuyển đề án thành sự thực. Ban đầu chúng tôi quyết định ra tuyên cáo khẩn về vụ Hải Hồng để lấy tối đa chữ ký hậu thuẫn. Nhưng tôi thúc đẩy các bạn phải tiến xa hơn vụ Hải Hồng, bởi vì Hải Hồng không là sự cố riêng biệt nhất thời. Đang có hàng nghìn trường hợp như thế trên Biển Đông, và người Vượt biển lâm nạn mỗi ngày. Lúc ấy, nhà văn Bernard-Henri Levy đề nghị làm cuộc biểu tình lớn tấn công Toà Đại sứ Việt Cộng tại Paris. Chợt một ý kiến bật ra — tại sao không đưa tàu ra Biển Đông vớt Người Vượt Biển ? Thế là một Uỷ ban thành lập ngay, cử nhà văn nữ Claudie Broyelle làm chủ tịch, dự án “Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam” nổi lên trên mặt nước nhân tình.


Ngày 17 tháng 11 năm ấy, 1978, chúng gửi đi lời kêu gọi đến các cơ quan báo chí truyền thông :


SOS – Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam


2564 người tị nạn trên con tàu Hài Hồng. Họ vừa rời khỏi Việt Nam trước bao hiểm nguy tính mạng. Chúng ta phải giúp đỡ họ tìm đất sống tiếp đón. Phải tức khắc cứu họ ra khỏi cảnh lênh đênh trôi nổi. Chính phủ Pháp vừa tuyên bố đón tiếp họ, ta hãy tin lời đó đi. Và hãy cùng nhau tới Kuala-Lumpur đón những nạn nhân trên tàu Hài Hồng. Tuy nhiên, không riêng gì nước Pháp phải lo chuyện này. Và con tàu Hải Hồng không là con tàu độc nhất.


Mỗi lần có những chuyến vượt biển chênh vênh trên bão táp giữa Thái Bình dương, hàng nghìn người Việt Nam đang đi tìm lẽ sống. Một nửa bị chết chìm, bị cưỡng bức, bị bọn hải tặc cướp giết. .. Chúng ta hãy tìm cho ra những quốc gia đón tiếp họ tại Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á. Và hãy làm hơn nữa : Hãy tới tận nơi cứu sống họ. Một chiếc tàu thường trực hoạt động trên Biển Đông để tìm và vớt họ — những người Việt Nam hy sinh thân mạng rời nước ra đi.


Không riêng gì các chính quyền phải lo lắng, dù nhiều nước đã tích cực cứu trợ. Đây là trách vụ mà chúng ta phải lo toan cứu cấp tức thì. Nhu cầu cấp thiết : Một chiếc tàu, một đoàn thuỷ thủ và tiền bạc. Đó chính là chiếc phao cứu mạng, mẩu đất nương tựa phò nguy. Để sau đó đưa tới các xứ sở tiếp thu.


Chúng tôi ký tên dưới đây ngày hôm nay, xin đem thân quy hợp những cơ hội và phương tiện cần thiết để thể hiện cuộc cứu sống cấp kỳ này.


Paris, ngày 17 tháng 11 năm 1978


Vào lúc Uỷ ban “Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam” chính thức ra đời ngày 27 tháng 11 năm 1978, chúng tôi thu nhận được 160 chữ ký của các nhân vật nổi danh hậu thuẫn chiến dịch. Danh sách bao gồm các siêu sao điện ảnh, nghệ sĩ, nhà văn, nhạc sĩ, nhà báo, nhà hoạt động công đoàn, và chính giới đủ mọi khuynh hướng — đọc lên như cẩm nang Who’s Who các nhà văn hoá Paris: Yves Montand, Brigitte Bardot, Simone Signoret, Simone de Beauvoir, Mstislav Rostropovich, Eugene Ionesco, Lionel Jospin, Michel Rocard, Jean Lacouture (nhà văn viết tiểu sử Hồ Chí Minh), Michel Foucault, Claude Mauriac, Olivier Todd, Jean François Revel, Bernard Kouchner…


Lần đầu tiên, kể từ năm 1945, hai triết gia đại thụ của Pháp, nhưng thù nghịch không đội trời chung, người phóng khoáng Raymond Aron và Jean-Paul Sartre, có thời biện hộ cho Staline — gặp nhau nơi lời kêu gọi cứu sống những nạn dân của chế độ độc tài toàn trị Hà Nội. Vài tháng sau, trong cuộc họp báo do Uỷ ban Con Tàu tổ chức, hai người ngồi cạnh bên nhau — lần đầu tiên trên ba mươi năm trời họ mới cùng nhau ngồi chung trong một căn phòng ở Paris. Sartre, kẻ địch thủ cuồng hung chống Mỹ can thiệp vào Việt Nam, và hậu thuẫn cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam do Cộng sản giật dây, đã tuyên bố rằng vì “nghĩa vụ đạo đức” và “nhân quyền cấp bách phải cứu sống những con người lâm nạn”, dù rằng họ không bạn hữu với chúng ta. Lời tuyên bố của Sartre mang tác động khổng lồ. Với tiếng tăm uy tín của Sartre, người dám từ khước Giải Nobel Văn chương, được làm thước đo cho một lời phát biểu thời thượng trong giới tả khuynh Paris thời bấy giờ : “Thà sai lầm với Sartre còn hơn là có lý với Aron”. Thế là “Con Tàu Cho Việt Nam” mớm cho mọi người chuyện khả thể, là chúng ta đều có lý với cả hai người.


Mối khẩn nguy hiện hình trong thực tế. Lúc chúng tôi họp nhau vào tháng 11 năm 1978, mỗi giờ có 55 người vượt biển cập bờ biển Mã Lai, số lượng này ngày càng tăng. Theo Cao uỷ Tị nạn LHQ, đã có một triệu rưởi người Vượt Biển rời Việt Nam thời gian ấy, nhưng một nửa chết trên đại dương. Các trại tiếp cư ở Mã Lai, Phi Luật Tân, Nam Dương, và Hồng Kông đầy ắp như muốn vỡ ra. Bỗng nhiên, ông Phó Tổng thống Mã Lai, Mahatir Mohamad, tuyên bố không chấp nhận người Vượt biển, và xuống lệnh đuổi bảy mươi sáu nghìn thuyền nhân ra biển. Một sắc luật ban hành cho phép bắn vào bất cứ ai quay lại vào bờ. Những ai tự phá huỷ thuyền của mình trong niềm tuyệt vọng mong được tị nạn đều bị lâm lụy.


Chống lại bối cảnh ấy, chúng tôi quyết gia tăng nỗ lực đưa con tàu đi vớt bằng bất cứ giá nào. Hồi đó Olivier Todd làm Chủ bút tuần báo Express, đã ráo riết vận động giới truyền thông. Hầu hết các báo chí lớn của Pháp đều cho đăng miễn phí lời kêu gọi của chúng tôi, kể cả tuần báo bình dân Télé 7 Jours, có số lượng phát hành bảy triệu bản mỗi tuần. Tiền đóng góp bắt đầu gửi tới, cùng với những hứa hẹn cho nhà ở, công ăn việc làm, áo quần, thực phẩm, đủ thứ không thiếu thứ nào. Mổi buổi sáng toà soạn Quê Mẹ ở Gennevilliers, ngoại ô bắc Paris, nhận được năm trăm bức thư hậu thuẫn như thế.


Do thị xã Gennevilliers nằm dưới sự cai quản của đảng Cộng sản Pháp, trong vòng “đai đỏ” bao quanh thành phố Paris, ông thị trưởng không mấy vui có một cơ sở như chúng tôi, nên nhiều lần hăm doạ tống xuất cơ sở Quê Mẹ khỏi thị xã. Song với tình thế lúc bấy giờ, ông ta đành cúi đầu trước sự liên đới hậu thuẫn lời kêu gọi vang ra rộng rãi của chúng tôi.


Phải nói một trong những người đầu tiên ủng hộ chiến dịch của chúng tôi là Irving Brown, Trưởng phòng Châu âu của Công đoàn Hoa Kỳ AFL-CIO. Chúng tôi tiếp xúc ông một năm trước đó, 1977, khi chúng tôi tổ chức cuộc họp báo quốc tế đầu tiên tại Paris để công bố hệ thống tù cải tạo tại Việt Nam với bản Chúc thư đầu tay của các tù nhân chính trị Việt Nam do Đoàn Văn Toại, một trong những lãnh tụ sinh viên đấu tranh, vừa thoát khỏi Việt Nam mang tới. Đó đã là lần đầu tiên tiếng nói của giới tù nhân chống kháng thuộc miền Nam cũ tố cáo những ghê tởm độc địa của hệ thống trại cải tạo. Brown thấy ngay ý nghĩa của bản Chúc thư, và tức khắc ra tay giúp đỡ.


Không những ký tên hậu thuẫn chúng tôi, ông còn lấy thêm chữ ký của Chủ tịch Công đoàn AFL-CIO, George Meany, và Paul Hall, Chủ tịch Liên đoàn Thuỷ thủ Hoa Kỳ, đang có mặt tại Paris. Trước đây tôi chưa hề quen biết giới thuỷ thủ, nhưng Hall ứng vào mắt tôi hình ảnh một thuỷ thủ lão luyện. Mái tóc bạc, cử chỉ nghiêm nghị, cứng rắn, chắc hẳn ông phải ở cấp chỉ huy. Trong mắt ông, chúng tôi là bọn tài tử. Ông ngắt lời tôi với vẻ khó chịu : “Các anh nói tàu — ship, chứ đâu phải thuyền — boat, phải không”. Nhưng rồi ông cũng chào đón mục tiêu chúng tôi nhắm. Sau buổi nói chuyện, tôi mừng rỡ gọi điện cho các bạn trong Uỷ ban Con Tàu thông báo tin bất ngờ : “Chúng ta chưa thể có một con tàu, nhưng Công đoàn AFL-CIO hứa giúp chúng ta một thuỷ thủ đoàn điều hành tàu không lấy lương”.


Irving Brown đề nghị phát huy chiến dịch bằng một cuộc họp báo quốc tế tại Paris về phong trào Người Vượt Biển. Nhấc vài cú điện thoại, Brown đã nhận được lời hứa của những nhân vật đầy biểu tượng như Leo Cherne[9], Chủ tịch Uỷ ban Cứu trợ Quốc tế, và nhà hoạt động dân sự Bayard Rustin[10] tham gia họp báo. Tiếc thay cuộc họp báo chẳng bao giờ xẩy ra. Nguyên do vì có tranh chấp ý kiến trong nội bộ Uỷ ban. Bernard Kouchner và vài người không ưa Công đoàn AFL-CIO nhúng tay, e ngại sự dấn thân mạnh mẽ chống Cộng làm dao động phong trào. Nhóm người này nại cớ “Con Tàu Cho Việt Nam” phải thuần tuý phi chính trị. Không thể là một con tàu cứu người khỏi chế độ Cộng sản, mà là “chiếc xe cứu thương” trên biển, một thứ bệnh viện nổi bỏ neo bồng bềnh trên mép biển Đông Nam Á. Với chúng tôi, hay những bạn như Alain Geismar, thì vị trí chính trị là chính yếu. Người Vượt Biển hy sinh thân xác mang lại thông điệp cho thế giới về bản chất chế độ Cộng sản. Nghĩa vụ của chúng tôi không những phải cứu họ, mà còn phải vọng âm tiếng nói họ. Mãi lâu sau, bị công luận tác động, Kouchner mới chịu thay đổi quan điểm. Nhưng Irving Brown nhận thức ra sự bất hoà nên bỏ dự tính ban đầu.


Mặc dù tiền được gửi tới, chúng tôi phải chi trả hai mươi nghìn quan Pháp (khoảng hai nghìn Mỹ kim) mỗi ngày cho việc ăn uống và cung cấp y tế, nhưng ngân qũy chưa đủ cho Con Tàu lên đường. Đang cơn bối rối, một sự kiện làm đảo lộn hoàn cảnh. Đài Truyền hình Hoà Lan đến toà soạn Quê Mẹ xin phỏng vấn tôi. Ông ký giả thuộc đảng Xã hội, tâm tư ông giống như đa số người Hoà Lan ủng hộ cho phong trào Hoà bình trong cuộc chiến Việt Nam. Tôi đang giải thích chiến dịch cứu Người Vượt Biển, thì đột nhiên ông ta hỏi : “Vì sao ông cứu những người miền Nam này ? Bọn này nối giáo cho chế độ quân phiệt tham nhũng, chúng là bọn ma cô, đầu cơ trục lợi, rất đáng để cho chúng lâm nạn ngày nay. Vì sao ông — vì sao chúng tôi, phải cứu giúp họ ?”. Tôi nhẹ nhàng đáp : “Nếu ông đang đi cạnh những con lạch ở thành phố Amsterdam và thấy có người đang chết chìm trong nước, phản ứng ông lúc ấy ra sao ? Ông ngừng lại và lên tiếng hỏi “Người chết chìm kia khuynh tả hay khuynh hữu ?” — hay ông nhảy ngay xuống nước cứu người ấy ?”.


Cuộc phỏng vấn trước lễ Giáng Sinh năm 1978, đem về chiếu tại Hoà Lan mấy lần. Chỉ trong một tuần lễ nhân dân Hoà Lan gửi tặng 8 triệu quan Pháp (tương đương một triệu Mỹ kim thời ấy) đáp ứng lời kêu gọi của chúng tôi (tôi nhớ mãi khi Truyền hình Hoà Lan gọi sang thông báo, tôi đã bàng hoảng hỏi “Mấy con zeros sau số 8 ?”). Một sự tăng cường tài chính khích lệ tuyệt vời, đưa chiến dịch vào quỹ đạo quốc tế. (Vào thời điểm chúng tôi đưa tàu ra biển, có thêm hàng chục tàu khác cứu trợ trên Biển Đông do những uỷ ban nối gót ra đời tại Na Uy, Đức, Ý Đại Lợi, vân vân).


Tiền có đó, nhưng vấn nạn khôn giải khác hiện ra — kiếm không ra tàu cho thuê. Chúng tôi cần thuê loại tàu cắm cờ Pháp để đoan chắc có thể cứu người Vượt biển nhập cảnh Pháp. Tất cả tàu cho thuê ở Pháp nằm dưới sự bảo trợ tập trung của một Công đoàn. Bất hạnh cho chúng tôi, Công đoàn này nằm trong tay Đảng Cộng sản Pháp, Confédération Générale du Travail (CGT, Tổng Liên đoàn Lao động). Thời gian ấy Đảng Cộng sản rất mạnh — một phần tư cử tri Pháp bỏ phiếu cho phe Cộng sản tại Pháp, và Tổng Liên đoàn Lao động rất thế lực, một thứ quốc gia trong quốc gia, có khả năng đình công làm tê liệt toàn quốc trong chớp nhoáng. Khi Tổng Liên đoàn Lao động biết rằng chúng tôi thuê tàu đi vớt Người Vượt Biển Việt Nam, họ liền phá bĩnh các nỗ lực điều đình thuê mướn. Tuần này sang tuần khác kéo lê, chiến dịch trên báo chí Pháp khựng lại. Tuần báo cực hữu Minute chạy hàng tít lớn “Con Tàu Ma”, nhật báo Cộng sản Pháp L’Humanité (Nhân loại) tung những bài mạ lỵ chiến dịch con tàu.


Bỗng nhiên từ trời xanh hiện ra sự cứu thoát. Nửa khuya tiếng điện thoại của một nữ độc giả tạp chí Quê Mẹ gọi tôi từ Nouméa, thủ phủ xứ New Caledonia, quần đảo nằm trên Thái bình dương giữa Úc châu và Fiji. Chồng bà là người Pháp, có con tàu dài tám mươi lăm thước cho thuê. Tàu thượng cờ Pháp. Bà kể cho chồng nghe chuyện Việt Nam, các trại cải tạo, những khổ đau nguy biến của người vượt biển đi tìm tự do. Ông liền đồng tình giúp đỡ. Chiếc tàu mang tên kỳ diệu — Île de Lumière — Đảo Ánh sáng. Dường như định mệnh đặt để. Chiếc tàu như hòn đảo ánh sáng nổi trên đại dương đi vào vũng tối tuyệt vọng của Người Vượt biển.


Tàu Đảo Ánh Sáng nhổ neo vào tháng Tư năm 1979 với đoàn thiện nguyện gồm những y sĩ và y tá. Tàu vào đảo Pulau Bidong ở Mã Lai cung cấp thuốc men và chữa bệnh cho khoảng ba mươi sáu nghìn thuyền nhân sống chen chúc trên dải đất chỉ có thể chứa hai nghìn người. Tháng sáu năm ấy, chính quyền Mã Lai xuống lệnh đuổi người vượt biển ra khơi, Đảo Ánh Sáng ra khơi vớt người, cứu sống hàng nghìn kẻ lâm nạn. Chúng tôi được chính phủ Pháp hứa cho nhập cư vào Pháp tị nạn tất cả những ai được tàu vớt.


Những tháng tiếp đấy, lượng người vượt biển đến trời Âu kể lại thảm cảnh họ cho báo chí truyền thông Âu Mỹ. Lời kể xoá nhoà hình ảnh và thành kiến gán lên họ như những tướng tá, chính trị gia tham nhũng hay tội phạm chiến tranh : những kẻ đã rời nước trước khi Saigon thất thủ, ra đi với hai túi đầy vàng. Không. Họ là những dân thường, mà thảm nạn rơi lên đầu họ qua từng câu chuyện làm mủi lòng dân Pháp. Các thầy giáo nói lên nỗi lăng nhục phải đi bán hủ tiếu cho con cái cán bộ giàu sang để nuôi thân. Tăng sĩ Phật giáo, Linh mục Thiên chúa giáo, Tin Lành, chức sắc hay tín đồ Hoà Hào, Cao Đài bị bắt tù vì thực hành tín ngưỡng đạo mình. Những bà vợ của tù nhân cải tạo bươn chãi nuôi con trong khốn cùng, chắt chiu những món quà nhỏ đi thăm nuôi chồng. Nỗi khốn cùng của những nhà văn bị đóng vai kiểm duyệt nơi văn phòng, chụp mũ “tác giả phản động quốc tế” cho những nhà văn như Pearl S. Buck hay Victor Hugo, hoặc bị bắt giam vì trích dẫn những tác giả kia trong tác phẩm mình.


Cảnh trạng các trại cải tạo vô cùng khủng khiếp. Những ai cứng đầu “học tập” không chuyên sẽ bị biệt giam trong thùng sắt, hay “connex”, ban ngày nóng như lò lửa, đêm về lạnh thấu xương, cốt cho họ phải thú khai tội lỗi mình không phạm. Tất cả tù cải tạo đều bị đói, lằn ranh giữa sống còn và chết đói mảnh như tơ. “Những chi động đậy đều chứa protein”, họ nói như thế và tranh nhau một con gián, con nhện, con chuột nhắt…


Các chuyện kể thương tâm như thế tác động công luận mà ít bài diễn văn chính trị nào đạt tới. Chính Người Vượt Biển đã thay đổi lối suy nghĩ của giới tả khuynh Châu Âu, và phá vỡ xung lượng của các đảng Cộng sản Pháp, Ý, cùng các nước Châu Âu khác. (Riêng tại Pháp, cử tri bầu cho Đảng Công sản rơi từ 25% xuống còn 6, 7% thôi),


Chiến dịch “Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam” là cuộc mạo hiểm kỳ dị cho tất cả chúng tôi. Có chăng trong tôi là một điều tiếc nuối. Jean-Paul Sartre đề nghị làm một cuộc hội thoại. Ông đã tỏ ra khó khăn phải dẹp bỏ tình cảm ủng hộ cách mạng, và vô cùng bối rối đối với chế độ ở Hà Nội, mà ông đánh giá cao cuộc chiến đấu anh dũng cho nền độc lập, nay bỗng trở thành những tên đao phủ cho nhân dân họ. Vì sao như thế ? Là Phật tử, tôi từng bị bắt, bị tra tấn năm mười một tuổi vì tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi đã quá biết rõ về Cộng sản Việt Nam trước khi tôi rời nước ra đi để vận động cho một giải pháp thứ ba không-cộng-sản trong thời chiến tranh Việt Nam, cuối cùng phải lưu vong ở Paris.


Thực tình tôi muốn được thảo luận về vấn nạn cộng sản và “cách mạng” với con người khác thường này. Buồn thay, Sartre đến tham dự cuộc họp báo của chúng tôi năm 1979 là lần ông xuất hiện cuối cùng trước công chúng. Ông gần như mù hẳn, và qua đời ngày 15.4.1980 vì chứng phù phổi.


Thi Vũ - Võ Văn Ái


04.2014

[1] Như trường hợp xẩy ra rất sớm cho thi hào Vũ Hoàng Chương, và trường hợp Nhà văn Hồ Hữu Tường bị bệnh ở trại Hàm Tân, sắp chết thì được cho đưa về nhà. Nhưng chỉ còn khoảng 100 mét quanh qua góc đường Trần Quang Khải là đến nhà, thì Hồ Hữu Tường tắt thở trên xe.
[2] Lời tuyên bố với báo chí của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch năm 1985 nhân 10 năm chiến thắng (chiếm Saigon).

[3] Xem Repression in the Socialist Republic of Vietnam: Executions and Population Relocation, by Jacqueline Desbarats, The Vietnam debate edited by John Norton Moore, 1990 and "Vietnam 1975-­1982: The Cruel Peace", Desbarats and Jackson, 8 Wash. Q. 4 (Fall 1985). Cơ sở Quê Mẹ đã cộng tác với bà Jacquelines Debarats và nhóm nghiên cứu tại Đại học Berkeley, Hoa Kỳ, về số liệu điều tra tù nhân Trại Cải tạo thời ấy.
[4] Trên báo Saigon Giải phóng ngày 2.6.1975 ông Lê Đức Thọ viết rằng : “Chúng ta phải đưa chế độ cũ vào hồ sơ. Chúng ta không thể xoá đi món nợ máu đối với đế quốc Mỹ và bọn tay sai. Nhân dân ta phải vạch trần và xác định những tội ác của chế độ cũ, để càng thấy rõ xấu xa của chúng, ta càng quyết tâm… quét sạch những tàn dư [chế độ cũ] để xây dựng đời sống mới tốt đẹp. Chúng ta phải tiếp tục chiến đấu chống bọn thù địch trong thành phố, đồng thời xây dựng đời sống tốt đẹp”.
[5] André Glucksmann xúc động vụ tàu Hải Hồng, vì gia đình người Do Thái của anh sống sót sau vụ Đức Quốc xã tàn sát dân Do Thái, được tàu SS Exodus chở đi năm 1947, nhưng đã bị các quốc gia từ khước, nên cuối cùng bị đưa về Đức để chấm dứt sinh mạng trong các trại tập trưng.
[6] Khi Hồng quân Xô viết đưa quân xâm lược Tiệp Khắc năm 1968, ngày 25.8.1068 chị Natalya Gorbanevskaya đẩy chiếc nôi con mới sinh 3 tháng cùng với bốn người bạn biểu tình phản đối trên Công trường Đỏ mênh mông ở Mạc Tư Khoa.
[7] Nhà toán học ly khai nổi danh xứ Ukraine nhờ áp lực của công luận quốc tế đã được cứu thoát khỏi Nhà thương điên Xô Viết đưa sang Pháp. Năm 1981, khi Nhà in Quê Mẹ bị phá sản do vận động cho con tàu Đảo Ánh Sáng ra khơi vớt người vượt biển, và bị ba bên bốn bề đánh phá, Plyush kêu gọi các bạn ly khai Liên Xô và Đông Âu thành lập “Hội Những Người Bạn Của Quê Mẹ” để cứu sống Cơ sở đấu tranh Quê Mẹ, đăng lòi kêu gọi trên báo chí Pháp và tthe New York Review of Books (xem sách “Nguoi Tri Thức Hành Động và Dẫn đường” của Võ Văn Ái, NXB Quê Mẹ, Paris 2010, trang 279).


[8] Vladimir Boukovsky nhà văn ly khai Liên Xô nổi danh, nhờ áp lực của công luận thế giới được trả tự do năm 1976 trao đổi với một tù nhân chính trị Chili, sau 12 năm giam trong nhà tù và nhà thương điên. Hiện là Giáo sư Đại học Cambridge Anh quốc.
[9] Leo Cherne nhà nhân bản lớn, Chủ tịch Uỷ ban Cứu Cấp Quốc tế thành lập để cứu sống những nạn nhân Đức Quốc Xã ở Châu Âu. Sau này, Uỷ ban cứu cấp và giúp đỡ định cư cho những người tị nạn trong thế giới. Ông đã cứu giúp đông đảo các nạn nhân tại Cuba và Cam Bốt.
[10] Bayard Rustin, người Mỹ da màu, lãnh đạo phong trào dân sự Hoa Kỳ, và là người tổ chức cuộc biểu tình khổng lồ “Tiến về Hoa Thịnh Đốn” năm 1963 nơi Mục sư Martin Luther King thốt bài diễn văn nổi tiếng “Tôi có một giấc mơ - I have a dream”. Ông cũng không ngừng lên tiếng ủng hộ Việt Nam trong thời chiến.
Các bài liên hệ:
Bài 1 : “Người trí thức Hoa Kỳ và Tù ngục Việt Nam” Eugène Ionesco, Kịch tác gia Hàn Lâm viện Pháp
Bài 2 : “Tự do của bạn là tự do của chúng tôi”, Nữ thi sĩ Nga Natalya Gorbanevskaya
Bài 3 : “Chúng tôi… những Kẻ Đau Xương”, nhà văn Lỗ Mã Ni Paul Goma
Bài 4 : “Đập vỡ những hình thái nô lệ mới", nhà văn Pháp Pierre Daix

http://www.gio-o.com/ThiVu.html

 gio-o.com 2014

No comments: